1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Đánh giá một số phương pháp nội suy không gian cho bài toán mưa năm ở Việt Nam

3 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 493,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Đánh giá một số phương pháp nội suy không gian cho bài toán mưa năm ở Việt Nam trình bày đánh giá một số các phương pháp nội suy thường dùng ở Việt Nam, từ đó đề xuất các phương pháp phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NỘI SUY KHÔNG GIAN

CHO BÀI TOÁN MƯA NĂM Ở VIỆT NAM

Ngô Lê An1, Nguyễn Thị Thu Hà1, Hoàng Thanh Tùng1

1 Trường Đại học Thuỷ lợi, email: nlan@tlu.edu.vn

1 GIỚI THIỆU CHUNG

Mưa dạng lưới có vai trò quan trọng trong

việc mô tả trạng thái thay đổi của mưa theo

không gian, giúp cho việc đánh giá mô hình

mô phỏng khí hậu hay mô phỏng dòng chảy

trên bề mặt đất được tốt hơn Để xây dựng

được dữ liệu mưa dạng lưới, nhiều nghiên

cứu tập trung sử dụng các phương pháp nội

suy nhằm nâng cao độ chi tiết của mạng lưới

quan trắc mưa thực đo Ở Việt Nam, mạng

lưới các trạm quan trắc đo mưa khá thưa với

mật độ trung bình khoảng một trạm đo trên

600 km2 diện tích, mật độ trạm cao tập trung

ở vùng đồng bằng sông Hồng, các vùng núi

cao lại có mật độ trạm thấp Trong những

năm gần đây, mặc dù đã có nhiều trạm đo

mưa tự động được xây dựng, nhưng thời gian

quan trắc còn ngắn, thường chỉ vài năm nên

việc ứng dụng, khai thác trong các bài toán

liên quan đến tài nguyên nước còn hạn chế

Do vậy, việc nghiên cứu sử dụng các phương

pháp nội suy đặc trưng mưa theo không gian

ở Việt Nam là rất cần thiết

Bài báo này đánh giá một số các phương

pháp nội suy thường dùng ở Việt Nam, từ đó

đề xuất các phương pháp phù hợp với điều

kiện Việt Nam

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Phương pháp nội suy

Các phương pháp nội suy sử dụng trong

nghiên cứu này bao gồm:

- Phương pháp Lân cận gần nhất (NN): trị

số nội suy tại vị trí nghiên cứu được lấy bằng

trị số tại trạm đo gần nhất

- Phương pháp Lân cận Tự nhiên (NNI)[1]: được phát triển dựa trên phương pháp đa giác Thiessen, giả thiết mức độ đóng góp mưa của các trạm xung quanh tỷ lệ với diện tích đóng góp của từng trạm cho đa giác của vị trí nghiên cứu (đối với đa giác Thiessen được tạo bởi toàn bộ các trạm bao gồm cả vị trí xem xét), được xác định khi loại

bỏ vị trí cần tính toán

- Phương pháp nghịch đảo khoảng cách (IDW)[2]: Được tính toán dựa trên các trị số

đo mưa tại các trạm đo lân cận với trị số được xác định theo nghịch đảo khoảng cách

- Phương pháp nghịch đảo khoảng cách và

độ cao (IDEW)[3]: Tương tự với IDW nhưng

có bổ sung thêm biến trị số độ cao với trọng

số là nghịch đảo của chênh lệch độ cao giữa điểm tính toán và trạm đo lân cận

- Phương pháp tương quan tuyến tính (MLR): Giả thiết lượng mưa tại một điểm phụ thuộc vào các yếu tố địa hình như toạ độ của điểm, độ cao, độ dốc và hướng

2.2 Dữ liệu

Trong nghiên cứu này, số liệu mưa tháng của 392 trạm đo mưa trên toàn lãnh thổ Việt Nam được sử dụng (Hình 1) Do điều kiện thu thập dữ liệu thực đo, thời đoạn đánh giá được lấy từ năm 1980 đến 2006

Các đặc trưng địa hình như độ cao, độ dốc

và hướng được xác định dựa trên bản đồ số độ cao có độ phân giải 90m của SRTM (http://srtm.csi.cgiar.org/srtmdata/) Nhằm hạn chế sai số do vị trí trạm đo không chính xác, các trị số độ cao, độ dốc và hướng được xác

Trang 2

định bằng cách tính trung bình cho một vùng

nhỏ xung quanh vị trí trạm đo

2.3 Phương pháp đánh giá

Để đánh giá mức độ chính xác của từng

phương pháp nội suy, bài báo sử dụng kỹ

thuật kiểm tra chéo (cross-validation) đánh

giá sai số nội suy cho từng trạm đo Đầu tiên,

dữ liệu của một trạm bất kỳ được loại bỏ khỏi

tập dữ liệu, sau đó sử dụng các phương pháp

nội suy kể trên để tính toán ra lượng mưa tại

trạm đã bị loại bỏ đó Lặp lại quá trình này

cho toàn bộ số trạm đo có trong bộ dữ liệu

Sự sai khác giữa kết quả tính toán và thực

đo được mô tả bằng chỉ số MAE (Mean

Absolute Error):

1

n tt td

i i

i X X MAE

n

trong đó, Xtt và Xtd tương ứng là giá trị mưa

năm tính toán và mưa năm thực đo (được tính

từ lượng mưa tháng), n là số năm tính toán

MAE sẽ không bao gồm những năm bị thiếu

số liệu thực đo Giá trị MAE trung bình tại

từng trạm sẽ được sử dụng để đánh giá sự

phù hợp của từng phương pháp nội suy với

mức độ tốt nhất nếu giá trị trung bình MAE

nhỏ nhất và ngược lại là kém nhất nếu có giá

trị trung bình MAE cao nhất

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Giá trị MAE trung bình của từng trạm ứng

với từng phương pháp được sử dụng làm căn

cứ xếp hạng chất lượng nội suy Kết quả tổng

hợp xếp hạng cho 392 trạm được trình bày ở

Bảng 1 với hạng 1 (H1) là tốt nhất và hạng 5

(H5) là kém nhất

Bảng 1 Xếp hạng các phương pháp

IDEW 122 126 82 49 13

Nếu lấy hạng 1 tương ứng là 1 điểm cho đến hạng 5 tương ứng là 5 điểm thì phương pháp IDEW được coi là phù hợp nhất khi tổng điểm nhỏ nhất Phương pháp IDW kém hơn một chút nhưng có tổng điểm chênh lệch không đáng kể với IDEW Phương pháp MLR cho tổng điểm cao nhất thể hiện mức độ phù hợp kém nhất trong 5 phương pháp nội suy được nghiên cứu Phương pháp IDEW cũng

có số lượng trạm đo có mức độ phù hợp cao nhất với 122 trạm, tuy nhiên số lượng trạm cho kết quả nội suy IDEW kém nhất cũng nhiều hơn so với phương pháp IDW Số lượng trạm phù hợp với phương pháp MLR nhất nhiều xấp xỉ với hai phương pháp NN và NNI, tuy nhiên phương pháp MLR lại có số lượng trạm ít phù hợp nhất nhiều nhất (chiếm hơn một nửa số trạm nghiên cứu)

Hình 1 Kết quả đánh giá mức độ

phù hợp nhất của từng phương pháp nội suy tại từng trạm nghiên cứu

Trang 3

Phương pháp tốt nhất cho từng trạm được

thống kê và thể hiện trên Hình 1 Nhìn chung,

kết quả cho thấy không có xu thế rõ rệt nào

cho từng phương pháp từ phương pháp ít tốt

nhất (MLR) cho đến phương pháp tốt nhất

(IDEW, IDW) Sự phân bố của các trạm ứng

với từng phương pháp đều trải dải trên toàn

bộ lãnh thổ Việt Nam, từ vùng đồng bằng

cho đến núi cao, ngoại trừ các trạm đo nằm

bên sườn phía tây dãy núi Trường Sơn dường

như phù hợp với các phương pháp IDEW,

IDW hơn Phương pháp MLR cho kết quả

kém phù hợp ở vùng đồng bằng như đồng

bằng sông Hồng và sông Cửu Long Điều này

cũng phù hợp với điều kiện số liệu địa hình ở

vùng đồng bằng khi sai số tương đối về độ

cao (dẫn đến sai số về độ dốc, hướng dốc)

của nó thường sẽ kém hơn nhưng khu vực

núi cao

Hình 2 và 3 là các biểu đồ hộp trình bày về

phân bố độ cao tương ứng với từng phương

pháp cho kết quả tốt nhất và kém nhất tại

từng trạm

Hình 2 Phân bố cao độ (m) ứng với từng

phương pháp nội suy cho kết quả tốt nhất

Hình 3 Phân bố cao độ (m) ứng với từng

phương pháp nội suy cho kết quả kém nhất

Qua hai hình vẽ này, có thể nhận thấy,

phương pháp IDW thích hợp với các vị trí có

cao độ trung bình hoặc thấp Phương pháp IDEW có thể cải thiện được chất lượng nội suy ở những vị trí có cao độ lớn (> 500m)

Ba phương pháp còn lại có sự phân bố khá đồng đều khi ở sự chính xác hoặc không chính xác trong nội suy đều phân bố ở các vị trí có cao độ từ thấp đến cao

4 KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu đánh giá mức độ phù hợp của 5 phương pháp nội suy mưa năm cho

392 trạm đo mưa trong lãnh thổ Việt Nam cho thấy nhóm các phương pháp trọng số khoảng cách và độ cao (IDEW, IDW) là tốt nhất Phương pháp tương quan đa biến tuyến tính với các đặc trưng vị trí, địa hình cho kết quả kém nhất.Sai số trong việc xác định vị trí cũng như các trị số đặc trưng mô tả địa hình (độ cao, độ dốc, hướng dốc…) cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến sự sai lệch này.Báo cáo cũng chỉ ra rằng, không có nhiều khác biệt rõ rệt về sự phân bố theo không gian của các phương pháp phù hợp nhất cho từng trạm Điều này thể hiện rằng để xây dựng được bản

đồ đẳng trị mưa hay bộ dữ liệu mưa lưới cho toàn bộ lãnh thổ Việt Nam thì việc chỉ sử dụng một số ít phương pháp nội suy sẽ không phù hợp

5 TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] R Sibson, “A brief description of natural

neighbor interpolation,” in Interpolating

Multivariate Data, John Wiley., V Barnett,

Ed Chichester: John Wiley, 1981, pp 21-36

Interpolation Function for

Irregularly-Spaced Data,” in ACM National

Conference, 1968, pp 517-524

[3] I Masih, S Maskey, S Uhlenbrook, and V Smakhtin, “Assessing the Impact of Areal Precipitation Input on Streamflow Simulations Using the SWAT Model,”

JAWRA J Am Water Resour Assoc., vol

47, no 1, pp 179-195, Feb 2011

Ngày đăng: 30/07/2022, 16:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w