Bài viết Áp dụng mô hình vịnh dạng parabolic xác định đường bờ biển ở trạng thái cân bằng tĩnh trình bày việc áp dụng mô hình vịnh dạng đường bậc hai (Parabolic Bay Shape Equation - PBSE) nhằm xác định dạng đường bờ biển ở trạng thái cân bằng tĩnh.
Trang 1ÁP DỤNG MÔ HÌNH VỊNH DẠNG PARABOLIC XÁC ĐỊNH ĐƯỜNG BỜ BIỂN Ở TRẠNG THÁI CÂN BẰNG TĨNH
Nguyễn Trường Duy1, Lê Hải Trung1
1 Trường Đại học Thủy lợi, email: duynt45@wru.vn
1 GIỚI THIỆU CHUNG
Việc xác định trạng thái của một bờ biển
mang ý nghĩa thiết thực phục vụ công tác
quản lí, qui hoạch khu vực ven biển cũng
như xây dựng giải pháp bảo vệ Những
phương pháp như đo đạc địa hình, phân tích
không ảnh hay ảnh vệ tinh bờ biển không
phải lúc nào cũng khả thi và có thể gặp
nhiều khó khăn Ví dụ, dữ liệu ảnh vệ tinh
cần thu thập trong cả quá trình dài và kĩ
thuật phân tích tương đối phức tạp Kết quả
thu được cần số liệu đo đạc thực tế để hiệu
chỉnh, kiểm định
Bài báo trình bày việc áp dụng mô hình
vịnh dạng đường bậc hai (Parabolic Bay
Shape Equation - PBSE) nhằm xác định dạng
đường bờ biển ở trạng thái cân bằng tĩnh [1]
Yêu cầu về số liệu đầu vào cũng như quá
trình xử lí được đánh giá là đơn giản Phương
pháp này từ khi ra đời tới nay đã trở nên phổ
biến trong ngành kĩ thuật bờ biển [vd, 2]
Một số đoạn bờ biển dạng cong với mũi
nhô ở một phía đã được lựa chọn để kiểm
định và áp dụng phương pháp này gồm Tịnh
Khê, thành phố Quảng Ngãi – Quảng Ngãi,
Hải Châu, huyện Tĩnh Gia – Thanh Hóa;
Quỳnh Thọ, huyện Quỳnh Lưu – Nghệ An
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Hsu và Evans [1] đã phát triển mô hình
vịnh dạng parabolic cho bờ biển giữa các mũi
đất (đá) ở trạng thái cân bằng tĩnh Đường bờ
biển bắt đầu từ một điểm khống chế - nơi
sóng bắt đầu nhiễu xạ và truyền tới cung bờ
có dạng đường bậc hai liền đó (Hình 1) Khi
khoảng cách từ điểm nhiễu xạ tăng lên thì độ
cong đường bờ giảm dần Sự thay đổi này tiếp diễn tới một vị trí mà tiếp tuyến của đường bờ có xu hướng song song với đường đỉnh sóng tới trước khi bị nhiễu xạ Điểm này thường được gọi là điểm khống chế phía dưới Như vậy, khoảng cách từ điểm nhiễu xạ (điểm khống chế phía trên) tới một vị trí trên đường bờ phụ thuộc vào độ cong của đường
bờ tại vị trí đó Phương trình cơ bản của phương pháp như sau:
2
2 1
⎠
⎞
⎜
⎝
⎛ +
⎟
⎠
⎞
⎜
⎝
⎛ +
=
θ
β θ
β
β
C C
C R
R
(1) trong đó,
β
R : độ dài đường khống chế, khoảng cách từ điểm nhiễu xạ tới điểm khống chế phía dưới; :
β góc nghiêng giữa đường đỉnh sóng tới chủ đạo và đường khống chế;
C: các hằng số được xác định từ phân tích hồi qui 27 trường hợp nguyên mẫu và mô hình;
:
θ là góc tạo thành giữa đường đỉnh sóng
tới chủ đạo và bán kính R bất kì
Hình 1 Vịnh có dạng parabolic
và các tham số cơ bản
Trang 2Công thức (1) được dùng để xác định cung
đường bờ giữa đường đỉnh sóng tới tại điểm
nhiễu xạ và đường khống chế Các tia với
bán kính R sẽ xoay quanh điểm nhiễu xạ
để tạo nên đường bờ cong với các gócθ
khác nhau
Tất cả những giá trị C nằm trong khoảng
1 < C < 2,5 với giá trị góc trong khoảng
β(20° 80~ °) và điều kiện này nghiệm đúng
cho hầu hết các khu vực Hệ số C có thể được
xác định theo các công thức sau:
0
C = 0.0707 − 0.0047β + 0.000349β − 2
0.00000875β + 0.000000047653 β (2) 4
1
C = 0.9536 + 0.0078β − 0.00004879β 2
+ 0.0000182β − 0.0000012813 β (3) 4
2
C = 0.0214 − 0.0078β + 0.0003004β − 2
0.00001183β + 0.000000093433 β (4)4
Theo đó, hình dạng ổn định của một cung
bờ được xác định đối với trường hợp không
có vận chuyển bùn cát ven bờ Các ứng dụng
thực tế được trình bày tiếp theo đây
3 ỨNG DỤNG THỰC TẾ
Trong việc áp dụng công thức dạng bậc hai
cho các vịnh tự nhiên, một khó khăn chính là
xác định điểm khống chế dưới xuôi (theo
hướng sóng tới) Việc này ảnh hưởng tới giá
của chiều dài đường khống chế (Rβ) và giá
trị góc sóng tới (β) Tham số thứ hai được
đo giữa đường khống chế và tiếp tuyến tại
điểm khống chế phía dưới của vịnh Đối với
một vịnh vẫn đang trong trạng thái cân bằng
động, tiếp tuyến này có thể theo hướng khác
so với trạng thái cân bằng tĩnh, mặc dầu nó sẽ
không thay đổi nhiều khi mà xói lở xảy ra
Lưu ý rằng khi ước lượng (β), ta không nên
sử dụng đường đỉnh sóng trực quan từ không
ảnh hay ảnh vệ tinh
Nhìn chung, điểm khống chế phía trên
(upcoast) mà sóng nhiễu xạ xảy ra được xác
định dễ dàng Điểm này có thể không thuộc
đất liền nhưng là một đảo nhỏ hay thậm chí
ám tiêu (đá ngầm) Trong trường hợp này,
không ảnh thể hiện đường đỉnh sóng có thể
được sử dụng Khi tia sóng tới (pháp tuyến
với đường đỉnh sóng) vuông góc với tiếp tuyến tại điểm khống chế phía dưới được dịch chuyển ngang về phía mũi đất phía trên,
nó sẽ cắt đường đỉnh sóng tại chính điểm khống chế
Sự nhạy cảm của vị trí điểm khống chế phía dưới có thể được đo đạc bằng cách thay
đổi một chút nhằm tăng giá trị Rβ tương ứng
với sự giảm β, và ngược lại Ví dụ minh họa được thực hiện với cung bờ biển phía bắc sông Trà Khúc, giữa Tịnh Nghĩa và Tịnh Long thuộc tỉnh Quảng Ngãi Hình 2 thể hiện góc β = 220 và khi được tăng giảm 20 Tính toán cho thấy đường bờ biển dường như biến đổi không đáng kể
Hình 2 Ảnh hưởng của góc β = 20, 22
và 24 0 đối với đường bờ biển (tính toán) Tịnh Khê phía bắc cửa Đại, sông Trà Khúc, Quảnh Ngãi
Trang 3Tiếp theo, PBSE được áp dụng để xác định
đường bờ biển cân bằng tĩnh cho một số khu
vực gồm bờ biển Hải Châu, huyện Tĩnh Gia –
Thanh Hóa; bờ biển Quỳnh Thọ, huyện
Quỳnh Lưu – Nghệ An Bảng 1 thống kê các
tham số cơ bản như góc β và chiều dài
đường khống chế Rβ được xác định cho các
ví dụ này Có thể hiểu được rằng với góc β
nhỏ thì chiều dài đường khống chế Rβ sẽ lớn
và ngược lại, góc β lớn thì Rβ sẽ nhỏ
Bảng 1 Các tham số xác định dạng bờ biển
ở trạng thái cân bằng tĩnh
Cung bờ biển Góc β [0]
Chiều dài
β
Tịnh Khê, TP Quảng
Ngãi – Quảng Ngãi
22 1520
Hải Châu, H Tĩnh Gia -
Thanh Hóa
39 940
Quỳnh Thọ, H Quỳnh
Lưu – Nghệ An
20 4420
Hình 3 Cung bờ biển Hải Châu, huyện
Tĩnh Gia – Thanh Hóa (trái) và Quỳnh Thọ,
huyện Quỳnh Lưu – Nghệ An (phải)
Hai cung bờ Hải Châu và Quỳnh Thọ có
hình dạng tương tự nhau khi mà mũi đất nhô
ra che chắn phần lớn sóng tới từ hướng Đông
Bắc (Hình 3) Phần phía dưới của đoạn
đường bờ có dạng cung này tiếp tục kéo dài
gần như đường thẳng Sóng chiếm ưu thế tới
từ hướng Đông Nam có tác dụng tạo nên dạng cân bằng tĩnh của hai cung bờ này Khi đường bờ thực tế nằm về phía biển so với đường bờ dự đoán thì bãi biển có thể bị xói lở tới giới hạn này Ngược lại, đường bờ thực tế nằm phía trong đường dự đoán như ở Hải Châu và Quỳnh Thọ thì bãi biển đạt trạng thái tương đối ổn định
Hình 3 cũng thể hiện sự sai khác về vị trí giữa các điểm thuộc đường bờ hiện tại và đường cân bằng tĩnh xác định theo PBSE Lausman & nnk [3] đã đề nghị nhiều chuyên gia (tự nguyện) lựa chọn 3 điểm khống chế đối với vịnh Taquaras – Taquarinhas Vịnh nằm ở phía Nam của Brazil với độ rộng khoảng 1800m Kết quả cho thấy độ bất định của việc áp dụng PBSE phụ thuộc vào các vị trí cụ thể trên cung bờ biển Vì vậy, hành lang an toàn nhằm phòng ngừa xói lở tiềm tàng nên được qui định với chiều rộng biến đổi, tùy thuộc vị trí trên cung đường bờ chứ không nên sửu dụng cùng một giá trị như thường thấy hiện nay
4 KẾT LUẬN
Bài báo đã giới thiệu phương pháp dự đoán đường bờ cân bằng tĩnh sử dụng đường cong của phương trình bậc hai Ví dụ áp dụng được thực hiện với 3 cung bờ biển miền Trung Kết quả thu được có thể được sử dụng làm cơ sở phục vụ nghiên cứu giải pháp chống xói lở, ổn định bờ biển ở một số khu vực có diễn biến đường bờ phức tạp như Quảng Nam,
Cà Mau, Bình Thuận
5 TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Hsu, J.R.C và Evans, C 1989 Parabolic bay shapes and applications Proc Instn Civil Engrs 87: 557 – 70
2010 Uncertainty in the application of the parabolic bay shape equation: Part 1 Coastal Engineering, 57(2): 132-141
[3] To, D.V The equilibrium stages of headland-bay beaches in the coastal provinces of Vietnam Tạp chí KHKT TL& MT, 23(95):
95 – 102