Giáo trình Bảo vệ môi trường (Nghề: Kỹ thuật xây dựng - Trung cấp) được biên soạn với mục tiêu nhằm giúp sinh viên hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo; biết mối quan hệ chặt chẽ giữa môi trường và phát triển; phân biệt được các tính chất, khả năng và hạn chế của môi trường;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Môi trường và phát triển kinh tế xã hội
Khái niệm và định nghĩa về môi trường
- Theo nghĩa rộng nhất: Môi trường là tập hợp các điều kiện và hiện tượng bên ngoài có ảnh hưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện
- Theo nghĩa rộng: môi trường là tổng hợp các nhân tố như không khí, đất, nước, ánh sáng, âm thanh, cảnh quan, xã hội có ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của con người và tài nguyên cần thiết cho sinh sống, sản xuất của con người
- Theo nghĩa hẹp: môi trường là tổng hợp các nhân tố như không khí, đất, nước, ánh sáng, âm thanh, cảnh quan, xã hội có ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của con người
- Tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm 2005 quy định: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”
1.2.Định nghĩa về môi trường: Môi trường là tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, có ảnh hưởng tới con người như: không khí, đất, nước, sinh vật, xã hội loài người…
Theo chức năng, môi trường được chia làm 3 loại:
- Môi trường tự nhiên: bao gồm các yếu tố thiên nhiên như vật lí, hoá học, sinh học tồn tại khách quan bao quanh con người
- Môi trường nhân tạo: Là tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội do con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người, như nhà ở, môi trường khu đô thị, khu công nghiệp, môi trường nông thôn…
Môi trường xã hội là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với con người, quyết định mức độ thuận lợi hay trở ngại cho sự phát triển của cá nhân và cộng đồng dân cư, thông qua các yếu tố như gia tăng dân số, định cư và di cư, từ đó tác động đến các khía cạnh đời sống như giáo dục, việc làm và an sinh xã hội.
1.4.Những chức năng cơ bản của môi trường:
1.4.1.Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật
Mỗi người đều có nhu cầu về không gian cho các hoạt động thiết yếu như nhà ở, nước uống, không khí và đất đai phục vụ sản xuất Nhu cầu về không gian sống của con người thay đổi theo trình độ kỹ thuật và công nghệ sản xuất Trình độ phát triển của loài người càng cao thì nhu cầu về không gian sản xuất càng lớn để đáp ứng sự phát triển của xã hội và nền kinh tế.
Con người có thể mở rộng không gian sống bằng cách khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các khu vực như khai hoang, phá rừng và cải tạo đất, nước Để nâng cao chất lượng không gian sống, cần có không gian để tái tạo và phục hồi môi trường đã bị suy giảm bởi hoạt động sản xuất Tuy nhiên, khai thác quá mức không gian và tài nguyên có thể khiến chất lượng môi trường sống trên Trái Đất không thể phục hồi được.
1.4.2.Môi trường là nguồn tài nguyên của con người:
Môi trường là nơi con người khai thác nguồn vật liệu và năng lượng cần thiết cho hoạt động sinh sống và sản xuất như:đất, nước, không khí, khoáng sản, năng lượng nắng, gió, thuỷ triều…Mọi sản phẩm của con người đều bắt nguồn từ các dạng vật chất tồn tại trên trái đất và không gian bao quanh trái đất
Các nguồn năng lượng, vật liệu sau mỗi lần sử dụng được tuần hoàn quay trở lại dạng ban đầu được gọi là tài nguyên tái tạo Trái lại, nếu bị mất mát, biến đổi hoặc suy thoái không trở lại dạng ban đầu gọi là tài nguyên không tái tạo
1.4.3.Môi trường là nơi chứa đựng các chất thải
Chất thải do con người phát sinh trong quá trình sản xuất và tiêu thụ được đưa trở lại môi trường Tại đây, nhờ hoạt động của vi sinh vật và các thành phần khác của môi trường, chất thải được biến đổi và quay trở về các dạng ban đầu thông qua một chu trình sinh địa hoá phức tạp.
Khả năng tiếp nhận và phân huỷ chất thải của môi trường, được gọi là khả năng nền của môi trường, quyết định mức độ ổn định và sạch của hệ sinh thái Khi lượng chất thải vượt quá khả năng nền hoặc bao gồm các chất thải khó phân huỷ và xa lạ với sinh vật, chất lượng môi trường sẽ suy giảm và có nguy cơ ô nhiễm.
1.4.4.Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất
Trái đất trở thành nơi sinh sống của con người và các sinh vật nhờ tập hợp các điều kiện đặc biệt như nhiệt độ không khí ở mức vừa phải, nồng độ oxi phù hợp và nhiều yếu tố sinh thái thiết yếu khác Nhiệt độ ổn định giúp cơ thể con người và các loài có thể thích nghi và duy trì các quá trình sinh học thiết yếu Nồng độ oxi cùng áp suất khí quyển tối ưu cho phép quá trình trao đổi khí diễn ra thuận lợi, đồng thời nước ở dạng lỏng phong phú và nguồn sáng từ mặt trời ổn định nuôi dưỡng chu trình sống Hệ thống khí quyển, từ trường và vòng oxy cũng đóng vai trò bảo vệ sự sống khỏi tác nhân bên ngoài, tạo nên một môi trường bền vững cho sự phát triển của hệ sinh thái và loài người.
8 khí khác tương đối ổn định, cân bằng nước ở đại dương và đất liền…Tất cả các điều kiện đó cho đến nay chưa tìm thấy trong một hành tinh nào khác trong và ngoài hệ mặt trời Sự phát sinh và phát triển sự sống trên trái đất nhờ các hoạt động của các thành phần môi trường trên trái đất như khí quyển, thuỷ quyển, thạch quyển
1.4.5.Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người
Ghi chép và lưu trữ lịch sử địa chất giúp ta theo dõi sự hình thành và biến đổi của Trái Đất qua các tầng địa chất và thời kỳ địa chất khác nhau Đồng thời, nghiên cứu lịch sử tiến hóa của vật chất và sinh vật phơi bày hành trình phát triển của sự sống từ các nguyên tử sơ khai đến đa dạng sinh vật ngày nay Ngoài ra, việc ghi nhận lịch sử xuất hiện và phát triển văn hóa của loài người cho thấy sự tiến bộ tri thức, ngôn ngữ, công nghệ và các hệ giá trị qua các thời kỳ.
Khái niệm và định nghĩa về tài nguyên thiên nhiên
Ở nghĩa rộng, tài nguyên môi trường bao gồm mọi nguồn nguyên liệu, nhiên liệu, năng lượng và thông tin có trên trái đất và cả trong vũ trụ mà con người có thể khai thác để phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển Trong mọi bối cảnh xã hội, hoạt động kinh tế là quá trình sử dụng năng lượng để biến đổi vật chất từ dạng này sang dạng khác có ích cho cuộc sống, nên vật chất—mà tài nguyên thiên nhiên là một dạng cụ thể—được con người biến đổi mà không mất đi trong quá trình hoạt động Khái niệm vật chất ở đây cần được hiểu ở cả hai dạng hữu hình và vô hình.
Có thể nói rằng, tài nguyên là tất cả các dạng vật chất, tri thức, thông tin được con người sử dụng để tạo ra của cải vật chất hay tạo ra giá trị sử dụng mới
Xã hội loài người càng phát triển thì số loại hình tài nguyên và số lượng mỗi loại tài nguyên được con người sử dụng, khai thác ngày càng gia tang
2.2.Đặc điểm chung của tài nguyên:
Phân bố tài nguyên không đồng đều giữa các vùng trên thế giới và ngay cả bên trong một lãnh thổ, dẫn đến sự chênh lệch về tài nguyên giữa các vùng và lãnh thổ Sự bất cân xứng này tạo nên ưu thế tài nguyên ở những khu vực nhất định, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, thị trường và cơ hội đầu tư giữa các vùng khác nhau.
- Các tài nguyên có giá trị kinh tế cao được hình thành qua quá trình lâu dài của tự nhiên và lịch sử
Tài nguyên có thể chia làm hai loại lớn: tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên xã hội Tài nguyên xã hội là một dạng tài nguyên đặc biệt của trái đất, thể hiện bởi sức lao động chân tay và trí óc, khả năng tổ chức và chế độ xã hội, tập quán, tín ngưỡng của các cộng đồng người.Trong Khoa học môi trường, tài nguyên thiên nhiên được chia thành ba loại:
- Tài nguyên tái tạo: Là tài nguyên dựa vào nguồn năng lượng được cung cấp hầu như liên tục và vô tận từ vũ trụ vào trái đất, dựa vào trật tự tự nhiên, nguồn thông tin vật lý và sinh học đã hình thành và tiếp tục tồn tại, phát triển và chỉ mất đi khi không còn nguồn năng lượng và thông tin nói trên Theo S.E Jorgensen(1981) Tài nguyên tái tạo là tài nguyên có thể tự duy trì hoặc tự bổ sung một cách liên tục nếu được quản lý, sử dụng một cách hợp lý và khôn ngoan.Tài nguyên thiên nhiên tái tạo được có thể kể ra như: Tài nguyên sinh học,tài nguyên năng lượng mặt trời, nước, gió, đất canh tác
Tài nguyên không tái tạo tồn tại hữu hạn và sau khi được sử dụng sẽ mất đi hoặc hoàn toàn biến đổi, không còn giữ được tính chất ban đầu Các khoáng sản và nhiên liệu hoá thạch như than đá, dầu mỏ và khí đốt là ví dụ điển hình, và cả thông tin di truyền bị mai một được xem là một nguồn tài nguyên thiên nhiên không tái tạo được.
Tài nguyên vĩnh cửu là nhóm nguồn có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến năng lượng mặt trời, có khả năng tái sinh và duy trì theo thời gian thông qua chu trình tự nhiên Năng lượng mặt trời được xem như nguồn tài nguyên vô tận, là cơ sở cho nhiều nguồn năng lượng tái tạo và công nghệ sạch ngày nay Có thể phân ra các tài nguyên vĩnh cửu thành hai nhóm chính: nguồn trực tiếp từ mặt trời như tia sáng và nhiệt lượng mặt trời; và nguồn gián tiếp khai thác từ chu trình địa–khí do mặt trời tạo ra, như gió, thủy triều, nước biển và sinh khối Việc nhận diện và khai thác hợp lý các tài nguyên vĩnh cửu giúp giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, tối ưu hóa hiệu quả sử dụng năng lượng và thúc đẩy phát triển bền vững.
+ Năng lượng trực tiếp: là nguồn năng lượng chiếu sáng trực tiếp, giá trị định lượng có thể tính được
+ Năng lượng gián tiếp: là những dạng năng lượng gián tiếp của bức xạ mặt trờibao gồm: gió, sóng biển, thuỷ triều,
Theo bản chất tự nhiên, tài nguyên còn được phân loại như: Tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng, tài nguyên biển,
Khái niệm và định nghĩa về phát triển kinh tế xã hội
Phát triển kinh tế là quá trình tăng trưởng kinh tế gắn với việc hoàn thiện cơ cấu kinh tế và thể chế, nhằm tối ưu hóa nguồn lực, nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm công bằng xã hội Sự đồng bộ giữa tăng trưởng và cải cách cơ cấu, thể chế giúp tạo nền tảng cho phát triển bền vững, mở rộng cơ hội việc làm và thu nhập, đồng thời thu hẹp khoảng cách xã hội.
Muốn phát triển kinh tế trước hết phải có sự tăng trưởng kinh tế Nhưng không phải sự tăng trưởng kinh tế nào cũng dẫn tới phát triển kinh tế
3.2.Nội dung của phát triển kinh tế:
Phát triển kinh tế đòi hỏi phải thực hiện được ba nội dung cơ bản sau:
Việc tăng lên của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người phản ánh mức độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định Các chỉ số này đo lường sức mạnh và quy mô của nền kinh tế: GDP và GNP cho thấy giá trị sản phẩm được tạo ra trong phạm vi nội địa và trên toàn cầu, còn GDP theo đầu người cho biết mức sống trung bình và tiềm năng cải thiện thu nhập của người dân trong thời kỳ đó.
Biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ thể hiện ở việc tăng tỷ trọng của ngành dịch vụ và công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân, trong khi ngành nông nghiệp ngày càng giảm Điều này phản ánh chất lượng tăng trưởng và trình độ kỹ thuật của nền sản xuất, đồng thời bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế bền vững.
- Mức độ thoả mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội thể hiện bằng sự tăng lên của thu nhập thực tế, chất lượng giáo dục, y tế… mà mỗi người dân được hưởng Nội dung này phản ánh mặt công bằng xã hội của sự tăng trưởng kinh tế
3.3.Các yêu cầu của phát triển kinh tế:
Với những nội dung trên, phát triển kinh tế bao hàm các yêu cầu cụ thể là:
- Mức tăng trưởng kinh tế phải lớn hơn mức tăng dân số
- Sự tăng trưởng kinh tế phải dựa trên cơ cấu kinh tế hợp lý, tiến bộ để bảo đảm tăng trưởng bền vững
- Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với công bằng xã hội, tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội ngang nhau trong đóng góp và hưởng thụ kết quả của tăng trưởng kinh tế
- Chất lượng sản phẩm ngày càng cao, phù hợp với sự biến đổi nhu cầu của con người và xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái
Như vậy, phát triển kinh tế có nội dung và ý nghĩa khá toàn diện, là mục tiêu và ước vọng của các dân tộc trong mọi thời đại Phát triển kinh tế bao hàm trong nó mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Tăng trưởng và phát triển kinh tế là điều kiện tiên quyết và cơ bản để giải quyết công bằng xã hội Công bằng xã hội vừa là mục tiêu phấn đấu của nhân loại, vừa là động lực quan trọng của sự phát triển.
Mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển kinh tế - xã hội
Môi trường và phát triển là 2 mặt đối lập của 1 thể thống nhất
- Giữa môi trường và phát triển có mối quan hệ hết sức chặt chẽ: Môi trường là địa bàn và là đối tượng của phát triển còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đối của môi trường
Hoạt động phát triển mang hai mặt đối với môi trường: tích cực là có thể cải tạo môi trường tự nhiên và tạo ra chi phí cần thiết cho quá trình cải tạo đó, nhưng đồng thời nó cũng có thể gây ô nhiễm cho môi trường tự nhiên hoặc môi trường nhân tạo Ngược lại, môi trường tự nhiên cũng tác động ngược lại đến sự phát triển của xã hội bằng cách làm suy thoái nguồn tài nguyên mà hoạt động phát triển đang khai thác và có thể gây ra các thảm họa thiên tai ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế của khu vực.
- Từ đó, có nhiều quan điểm sai lầm về mối quan hệ môi trường – phát triển:
“Phát triển bằng bất cứ giá nào”, “Môi trường hay phát triển”, “Cứ phát triển đã rồi tính sau”, “Phát triển bằng không hoặc âm” để nghiêng về một phía hoặc là môi trường, hoặc là phát triển Từ đó dẫn đến những hậu quả nặng nề về môi trường nếu môi trường bị coi nhẹ
- Thực chất, môi trường và phát triển là hai mặt của một vấn đề:
Phát triển và môi trường không phải là hai mặt đối lập hay mâu thuẫn theo kiểu loại trừ; chúng có thể cùng tồn tại và bổ sung cho nhau khi được quản lý thông minh Phát triển bền vững đòi hỏi coi trọng cả kinh tế lẫn bảo vệ môi trường, không hy sinh môi trường để đổi lấy tăng trưởng ngắn hạn cũng như ngược lại Điều này có nghĩa là ta phải lựa chọn có cân nhắc và xây dựng các giải pháp nhằm tối ưu hóa lợi ích kinh tế đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực lên hệ sinh thái Chính sách công, đầu tư và công nghệ xanh cần đồng bộ để khuyến khích đổi mới, quản lý tài nguyên hiệu quả và nâng cao chất lượng sống của cộng đồng Với cách tiếp cận như vậy, phát triển và môi trường không còn đối kháng mà cùng hướng tới một tương lai bền vững và thịnh vượng.
+ Nếu phát triển kinh tế và quan tâm bảo vệ môi trường thì đảm bảo phát triển kinh tế ngày càng bền vững hơn Và ngược lại
Trong thực tế, môi trường và phát triển được coi là hai mặt của một vấn đề: nói đến phát triển là nói đến môi trường, và nói đến môi trường là nói đến phát triển Hai yếu tố này tồn tại, thống nhất và phát triển biện chứng với nhau, có tác động lẫn nhau để thúc đẩy sự tiến bộ bền vững.
Ý nghĩa của phát triển bền vững, sự cần thiết và khó khăn trong thực hiện Error! Bookmark not defined Chương 2: Môi trường là địa bàn sống của con ngườiError! Bookmark not defined
5.1.Ý nghĩa của sự phát triển bền vững
Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai" 5.2.Nguyên tắc phát triển bền vững:
- Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng
- Cải thiện chất lượng cuộc sống của con người
- Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của Trái đất
- Quản lý những nguồn tài nguyên không tái tạo được
- Tôn trọng khả năng chịu đựng được của Trái đất
- Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân
- Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình
- Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho việc phát triển và bảo vệ
- Xây dựng một khối liên minh toàn cầu
5.3.Khó khăn trong thực hiện phát triển bền vững
- Thế giới hiện này còn 1.2 tỷ người có mức thu nhập dưới 1 dola/ngày (24% dân số thế giới), 2.8 tỷ người dưới 2 dola/ngày (51 %)
- Hơn 1 tỷ người ở các nước kém phát triển không có nước sạch và phương tiện vệ sinh
- Mục tiêu toàn cầu: Trong giai đoạn 1990-2015 giảm một nửa số người có thu nhập 1dola/ngày
- 2/3 dân số mù chữ là nữ
- Thế giới vẫn còn 113 triệu trẻ em không được đi học
- Mỗi năm có 11 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị chết
- 1/3 số người chết ở các nước đang phát triển là do nghèo đói
- Mỗi năm có 3 triệu người chết vì HIV/AIDS, trong đó có 0.5 triệu là trẻ em, mỗi ngày có 8000 người, 10s có một người chết.
Các phương hướng và biện pháp bảo vệ và cải thiện không gian sống của con người Error! Bookmark not defined Chương 3: Môi trường là nguồn tài nguyên thiên nhiênError! Bookmark not defined 1 Đặc điểm chung của tài nguyên thiên nhiên
CHƯƠNG 2 MÔI TRƯỜNG LÀ ĐỊA BÀN SỐNG CỦA CON NGƯỜI
Con người tồn tại và phát triển trong một môi trường tổng hợp gồm không khí, nước, đất và xã hội; các yếu tố này đang ngày càng chịu áp lực ô nhiễm Thực trạng của các vấn đề môi trường và tác động của chúng đến chất lượng không gian sống là nội dung trọng tâm được phân tích Chương 2 đề xuất các hướng đi và biện pháp bảo vệ không gian sống, như nâng cao chất lượng không khí và nước, quản lý chất thải, bảo vệ đất đai và đa dạng sinh học, cùng tăng cường nhận thức và hành động của cộng đồng nhằm hướng tới phát triển bền vững.
- Nhận thức về hiểm hoạ, hạn chế phạm vi và ô nhiễm không gian sống
- Hiểu được các chức năng của môi trường đối với con người
- Biết phương hướng và biện pháp bảo vệ, cải thiện không gian sống của con người
Chỗ ở là thuật ngữ chỉ chung cho một nơi cư trú hoặc nơi trú ẩn của con người, thường ở dạng vật chất cụ thể là một ngôi nhà Nó có thể được hiểu là nơi cư trú, nơi trú ngụ hoặc gia cư, đồng thời cũng được gọi bằng nhiều từ ngữ khác như tổ ấm Trong thực tiễn, chỗ ở thường biểu hiện dưới dạng các công trình vật chất, nhưng khái niệm này cũng mở rộng tới nhiều loại hình nơi ở như căn hộ, nhà ở xã hội hoặc khu dân cư Chỗ ở không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh sống mà còn gắn liền với yếu tố an toàn, tiện nghi và sự ổn định cho cuộc sống hàng ngày của mỗi người.
Chỗ ở hay gia cư hay "Home" cũng được sử dụng để chỉ khu vực địa lý (cho dù đó là một vùng ngoại ô, đồng quê, thị xã, thành phố hoặc thậm chí là quốc gia), trong khi nhà thông đường dùng để chỉ về một dạng vật chất hữu hình nhất định thì thuật ngữ gia cư trong tiếng Anh dùng để chỉ về một trạng thái tinh thần hoặc cảm xúc về nơi nương tựa, sự thoải mái nói chung là một sự trừu tượng và "Home land" có nghĩa là quê hương
2.Mối quan hệ giữa dân số và phạm vi không gian sống của con người
Dân số và không gian sống của con người là hai yếu tố có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau: sự gia tăng dân số đòi hỏi mở rộng diện tích ở, hạ tầng và dịch vụ để đảm bảo chất lượng cuộc sống, trong khi quy hoạch không gian sống và phân bổ đất đai lại ảnh hưởng đến nhịp độ tăng trưởng dân số Sự phát triển của mỗi yếu tố luôn liên hệ chặt chẽ với yếu tố kia, quyết định cách sử dụng đất, mật độ cư trú, bền vững đô thị và môi trường sống của cộng đồng.
Biến động dân số có tác động hai chiều lên môi trường: quy mô, cơ cấu và tăng trưởng nhanh có thể làm tăng tiêu thụ tài nguyên, ô nhiễm và áp lực lên hệ sinh thái, trong khi giảm quy mô hay di cư có thể giúp giảm áp lực đó Ngược lại, không gian sống và chất lượng môi trường quyết định sức khỏe, tuổi thọ và chất lượng nguồn nhân lực của dân số, ảnh hưởng đến khả năng sinh sản và di cư Vì vậy, sự phối hợp giữa quản lý dân số và cải thiện chất lượng không gian sống là chìa khóa để đạt phát triển bền vững, tối ưu hóa tài nguyên và nâng cao chất lượng dân số.
2.1.Tình hình biến động dân số trên toàn thế giới Ảnh hưởng mạnh nhất của dân số đến không gian sống là sự gia tăng dân số Dân số càng đông tác động vào môi trường càng lớn
Năm 1650 dân số thế giới khoảng 500 triệu ngưòi Đến năm 2010 dân số thế giới đạt gần 7 tỷ người và tiếp tục gia tăng với tốc độ cao
Quy mô dân số các nước rất khác nhau Sự gia tăng dân số diễn ra chủ yếu ở các nước ít phát triển
2.2 Tác động của dân số đến môi trường
Dân số có tác động trực tiếp tới môi trường thông qua hoạt động sinh lý và sinh hoạt hàng ngày của con người Để tồn tại và phát triển, mỗi người phải sử dụng nguồn lương thực, nước uống, không khí để thở, quần áo, nơi ở và phương tiện giao thông; trong quá trình đó, con người thải ra chất thải, nếu chất thải không được xử lý tốt sẽ làm ô nhiễm môi trường và là nguồn gốc gây ra nhiều bệnh tật cho con người.
Trong cuộc sống hàng ngày, con người vừa dung nạp vừa tiêu hao năng lượng, và sự cân bằng nhiệt giữa cơ thể và môi trường được duy trì thông qua quá trình trao đổi năng lượng Quá trình ấy khiến cơ thể thải ra một lượng nhiệt nhất định, làm nhiệt độ không khí quanh ta tăng lên khi các hoạt động diễn ra, cho thấy cách năng lượng tiêu hao và nhiệt thải của con người ảnh hưởng đến nhiệt độ môi trường.
Tài nguyên thiên nhiên là nguồn cung cấp các yếu tố cải vật chất nguyên khai hình thành sẵn trong tự nhiên và có thể được con người khai thác để đáp ứng nhu cầu cuộc sống Tuy nhiên, dân số thế giới tiếp tục gia tăng đồng nghĩa với nhu cầu sử dụng ngày càng lớn, khiến nhiều nguồn tài nguyên thiết yếu cho sự sống còn trở nên khan hiếm Việc khai thác quá mức của con người dẫn đến cạn kiệt đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản và suy giảm tài nguyên rừng Những xu hướng này đặt ra thách thức lớn cho sự tồn tại và phát triển bền vững, đồng thời thúc đẩy cần có các biện pháp quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Ô nhiễm môi trường là tình trạng đất, nước và không khí bị ô nhiễm do các loại chất thải từ hoạt động của con người Khi dân số tăng, lượng chất thải và áp lực lên môi trường cũng tăng, khiến mức độ ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng Nguồn gốc ô nhiễm chủ yếu đến từ rác thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, phế phẩm nông nghiệp và phương tiện giao thông Để giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ sức khỏe cộng đồng, cần đẩy mạnh quản lý chất thải, xử lý nước thải, giảm khí thải và tăng cường ý thức bảo vệ môi trường.
2.3 Tác động của môi trường đến dân số: giữa dân số và môi trường có mối quan hệ qua lại tác động biện chứng với nhau Trong mối quan hệ dân số - tài nguyên – môi trường yếu tố dân số là chủ thể nên mọi sự biến đổi của dân số sẽ quyết định nội dung, tính chất của mối quan hệ này Vì vậy để giải quyết mối quan hệ này phải khống chế và kiểm soát được mức tăng dân số Dân số tăng mà không kiểm soát sẽ dẫn tới sự suy giảm tài nguyên một cách nhanh chóng và môi trường suy thoái trầm trọng Điều này tác động trở lại gây hậu quả tiêu cực lên quá trình và kết quả dân số
Tác động của tài nguyên môi trường đến mức sinh thể hiện rõ ở sự khác biệt giữa những vùng có môi trường sống lành mạnh, khí hậu mát mẻ và ít ô nhiễm và những nơi ô nhiễm nghiêm trọng Ở các khu vực có chất lượng sống tốt, sức khỏe sinh sản được bảo đảm và mức sinh đẻ thường cao hơn; ngược lại, ô nhiễm môi trường và suy kiệt tài nguyên làm giảm cơ hội sinh sản và kéo mức sinh xuống thấp Các yếu tố như chất lượng không khí, nước sạch, biến đổi khí hậu và an ninh nguồn lực môi trường đóng vai trò quan trọng trong quyết định sinh con và sự phát triển dân số Do đó, bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên hợp lý góp phần duy trì mức sinh ổn định và thúc đẩy phát triển bền vững.
Việc khai thác tài nguyên thiên nhiên làm môi trường bị ảnh hưởng Môi trường bị ô nhiễm dẫn tới rủi ro trong cuộc sống lớn, bệnh tật và mức chết tăng lên
Do việc khai thác quá mức dẫn tới nhiều nơi bị cạn kiệt tài nguyên, đất đai bạc màu không thể canh tác hoặc ô nhiễm nguồn nước ngọt, không đủ nước phục vụ cho tưới tiêu dẫn tơi cuộc sống của con người trở nên nghèo đói, khó khăn
Tài nguyên môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến mức chết của cộng đồng, trong đó tử vong do thiên tai và thảm họa là chỉ báo dễ nhận thấy nhất của sự suy giảm nguồn lực tự nhiên Khi tài nguyên bị khai thác quá mức, ô nhiễm hoặc suy thoái đất, nước và không khí làm giảm khả năng dự báo, phòng ngừa và ứng phó, tỷ lệ tử vong tăng lên đáng kể Biến đổi khí hậu với sự thiếu bền vững trong quản lý tài nguyên làm gia tăng cường độ và tần suất các hiện tượng cực đoan như lũ lụt, hạn hán, bão và sạt lở, gây thiệt hại về mạng sống và sinh kế Do đó, quản lý tài nguyên môi trường một cách bền vững, cải thiện chất lượng nước, đất và không khí cùng bảo tồn đa dạng sinh học là yếu tố then chốt giúp giảm thiểu chết người trước các thảm họa thiên nhiên Các chiến lược như hệ thống cảnh báo sớm, cơ sở hạ tầng chịu được thiên tai và giáo dục cộng đồng về thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc giảm mức chết liên quan đến môi trường.
Tài nguyên đất Error! Bookmark not defined 3 Tài nguyên rừng
2.1.Khái niệm và phân loại đất
Đất có hai ý nghĩa chính: theo nghĩa thông thường, đất là lớp mỏng nằm trên bề mặt Trái Đất và không bị nước bao phủ Theo nghĩa thổ nhưỡng, đất là một vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập và hình thành lâu đời, kết quả của nhiều yếu tố như đá gốc, động thực vật, khí hậu, địa hình và thời gian.
Giá trị tài nguyên đất được đo bằng số lượng diện tích(ha, km 2 ) và độ phì(độ mầu mỡ thích hợp cho trồng cây lương thực và cây công nghiệp)
Có nhiều phương pháp phân loại đất khác nhau Theo hệ thống phân loại FAO_UNESSCO:
- Đất mùn vàng trên núi cao
- Đất xói mòn trơ sỏi đá
- Đất đỏ và xám nâu
2.2.Vai trò và chức năng của tài nguyên đất
- Đối với sinh vật: Đất là môi trường sống của các sinh vật ở cạn, cung cấp nơi ở cũng như nguồn thức ăn
+ Đất là môi trường sống của con người, là nền móng cho toàn bộ công trình xây dựng Đất cung cấp trực tiếp hoặc gián tiếp cho con người các nhu cầu thiết yếu
+ Đất là tư liệu sản xuất cơ bản, phổ biến, là tài nguyên quý nhất của sản xuất nông nghiệp và công nghiệp
+ Đất còn có giá trị cao về mặt lịch sử, tâm lí và tinh thần
- Là không gian sống của con người và sinh vật
- Chức năng điều hoà khí hậu
- Chức năng điều hoà nguồn nước
- Chức năng kiểm soát chất thải và ô nhiễm
- Chức năng bảo tồn vă hoá lịch sử
- Chức năng sản xuất và môi trường sống
- Chức năng nối liền không gian
2.3.Thực trạng khai thác và sử dụng tài nguyên đất:
Tổng diện tích bề mặt: 510 triệu km 2 trong đó biển và đại dương chiếm 360 triệu km 2 , đất liền và hải đảo là 150 triệu km 2 Diện tích đất có khả năng canh tác
29 nông nghiệp khoảng 33 triệu km 2 còn lại là đất không dung cho sản xuất nông nghiệp được
- Đất có năng suất cao chiếm 14%
- Đất có năng xuất trung bình chiếm 28%
- Đất có năng xuất thấp chiếm 58%
Mỗi năm trên thế giới, khoảng 12 triệu ha đất trồng trọt có năng suất cao bị chuyển đổi thành đất phi nông nghiệp, làm giảm diện tích đất canh tác và tác động tới sản lượng nông nghiệp Đồng thời, khoảng 100 triệu ha đất trồng trọt bị nhiễm độc, ảnh hưởng tới chất lượng và năng suất nông sản, đồng thời đặt ra thách thức lớn cho quản lý đất đai và nông nghiệp bền vững.
Theo số liệu năm 2010, tổng diện tích đất tự nhiên của Việt Nam lên tới hơn 33 triệu ha, xếp thứ 58 trên thế giới Trong đó đất bồi tụ chiếm khoảng 11 triệu ha và đất phát triển tại chỗ khoảng 22 triệu ha Diện tích đất được phân thành 3 nhóm chính là đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng.
- Đất nông nghiệp: 26226 triệu ha
- Đất phi nông nghiệp: 3705 triệu ha
- Đất chưa sử dụng: 3164 triệu ha
Dưới sức ép của bùng nổ dân số và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cùng với các hoạt động sản xuất vật chất và kinh tế, chất lượng đất ngày càng suy giảm Sự xuống cấp của đất đai đòi hỏi các biện pháp quản lý đất đai bền vững và sự chuyển đổi mạnh mẽ trong mô hình sản xuất để bảo vệ đất và nguồn lực cho nông nghiệp và môi trường.
Hoạt động nông nghiệp ngày càng phát triển kéo theo xu thế sử dụng đất đai ngày càng lớn
Hoạt động chặt phá rừng, khai thác mỏ bừa bãi, canh tác nông nghiệp quá mức làm tang nhanh quá trình sa mạc hoá ở nước ta
Trong nông nghiệp hiện đại, thâm canh được thúc đẩy bằng việc đầu tư nhiều phân bón hóa học, thuốc trừ sâu và nước tưới, nhưng lại thiếu chú ý đến việc trả lại chất hữu cơ cho đất Điều này khiến đất bị xấu đi rõ rệt, mất cấu trúc và khả năng giữ nước, đồng thời làm giảm độ phì nhiêu và năng suất lâu dài Để nông nghiệp phát triển bền vững, cần cân bằng giữa thâm canh và bổ sung chất hữu cơ, cải thiện đất và áp dụng các biện pháp nông nghiệp thông minh, đồng thời kết hợp cả công nghệ và thực hành nông nghiệp hữu cơ.
2.4.Giải pháp bảo vệ và sử dụng hợp lí tài nguyên đất
- Hoàn thiện và thực hiện tốt luật đất đai
- Hoàn thiện hệ thống quản lí đất của nhà nước
- Bảo vệ và khai thác hợp lí tài nguyên rừng và đất rừng
- Nhanh chóng phủ xanh đất trống đồi núi trọc
- Phát triển nông nghiệp bền vững theo hướng sinh thái
- Khai thác và sử dụng hợp lí các vùng đất có vấn đề
Rừng là một hệ sinh thái phức hợp, bao gồm quần thể thực vật, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác Trong rừng, cây gỗ, tre hoặc các hệ thực vật đặc trưng đóng vai trò thành phần chính và được nhận diện qua độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên.
Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên
3.2.Tài nguyên rừng ở nước ta:
Việt Nam kéo dài từ Bắc xuống Nam và có địa hình với nhiều độ cao khác nhau so với mực nước biển, khiến rừng phân bố khắp các dạng địa hình Với nét độc đáo của rừng nhiệt đới và sự đa dạng sinh học cao, nước ta có nhiều rừng xanh quanh năm, rừng già nguyên thủy, rừng cây lá rộng và rừng cây lá kim, tạo nên cảnh quan phong phú và đóng vai trò sinh thái quan trọng.
- Rừng Việt Nam có nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng, nhiều loại thực vật động vật quý hiếm độc đáo mà các nước ôn đới hiếm có
- Về thực vật: có khoảng 12000 loài, trong đó khoảng 2300 loài cây đã được dung làm lương thực, thực phẩm, thức ăn cho gia súc
+ Rừng cho gỗ chiếm khoảng 6 triệu ha trong đó 41 loại cho gỗ quý, 20 loài cho gỗ bền chắc, 24 loài cho gỗ đồ mộc và xây dựng
+ Rừng có cây được sử dụng làm được liệu khoảng 1500 loài, cây có chứa hoá chất quý hiếm, có nhựa thơm…
- Về động vật: rất đa dạng: 774 loài chim, 273 loài thú, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng cư…
3.3.Thực trạng rừng nước ta hiện nay:
Diện tích đất rừng và chất lượng rừng đang giảm sút nhanh chóng:
*Về độ che phủ và chất lượng rừng:
Trong thế kỉ qua rừng bị suy thoái nặng nề
- Thời kì Pháp thuộc, nhiều vùng đất rộng lớn ở phía nam đã bị khai phá để trồng cà phê, cao su, chè và một số cây công nghiệp khác
Giữa thế kỉ XX, phần lớn các khu rừng thuộc đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và các khu rừng ven biển đã bị khai phá để xây dựng xóm làng và trồng trọt Độ che phủ rừng chỉ còn lại khoảng 43% diện tích đất tự nhiên.
- 30 năm chiến tranh diện tích rừng bị thu hẹp nhanh chóng do chất diệt cỏ, bom mìn
Sau chiến tranh, để đáp ứng nhu cầu của dân số ngày càng tăng và duy trì nền kinh tế yếu, nước ta vẫn phải tiếp tục khai thác mạnh mẽ diện tích đất rừng còn lại Nguồn lực rừng bị khai thác quá mức đã khiến nhiều vùng rừng biến thành đất hoang cằn cỗi, đặc biệt ở phía bắc nơi rừng đang xuống cấp và trữ lượng gỗ suy giảm Khai thác dẫn đến rừng bị chia cắt thành những đám nhỏ, làm giảm tính liên kết của hệ sinh thái và ảnh hưởng đến sinh kế của người dân dựa vào rừng.
- Trong những năm gần đay diện tích rừng có xu hướng tăng lên do chính sách trồng rừng
3.4.Nguyên nhân mất rừng và giải pháp khắc phục:
Áp lực dân số ở các vùng có rừng đang tăng nhanh do tăng cơ học và di cư tự do từ nơi khác, khiến nhu cầu về đất ở và đất canh tác trở nên rất cao Những đối tượng chịu tác động nhiều nhất là hộ nghèo, đời sống gặp nhiều khó khăn, với sinh kế chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên rừng.
- Do cơ chế thị trường, giá cả một số mặt hang nông, lâm sản tăng cao, nhu cầu về đất canh tác các mặt hang này cũng tăng theo đã kích thích người dân phá rừng để lấy đất trồng các loại cây có giá trị cao hoặc buôn bán đất, sang nhượng trái phép
Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong tình hình mới, nhiều công trình xây dựng, đường xá và cơ sở hạ tầng được triển khai trên quy mô lớn Những dự án này gây áp lực lớn lên rừng và đất nông nghiệp, làm giảm diện tích rừng và nguồn đất sản xuất, tạo điều kiện cho các hoạt động phá rừng diễn ra Vì vậy, cần có biện pháp quản lý môi trường và bảo vệ rừng bền vững để cân bằng tăng trưởng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
- Tình hình thời tiết diễn biến ngày càng phức tạp, khô hạn kéo dài, bão lũ xảy ra thường xuyên gây thiệt hại lớn tới tài nguyên rừng
Tài nguyên nước
Tài nguyên nước là nguồn nước mà con người có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, từ sản xuất đến sinh hoạt Nước được dùng trong nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường, và hầu hết các hoạt động này đều cần nước ngọt sạch để duy trì hiệu quả và an toàn Vì vậy, quản lý tài nguyên nước một cách bền vững là cần thiết để đảm bảo nguồn nước có chất lượng và lượng đủ cho cả hiện tại và tương lai, đồng thời giảm thiểu rủi ro ô nhiễm, cạn kiệt và xung đột nước Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và gia tăng dân số, vai trò của tài nguyên nước càng trở nên quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường Do đó, hiểu đúng về tài nguyên nước và các nguồn nước ngọt là bước đầu để xây dựng chiến lược bảo vệ và sử dụng nước hiệu quả.
97% lượng nước trên Trái Đất là nước biển, còn 3% là nước ngọt Trong phần nước ngọt này, gần hai phần ba được lưu giữ ở dạng sông băng và các mũ băng ở vùng cực.
Phần còn lại không đóng băng được tìm thấy chủ yếu ở dạng nước ngầm, và chỉ một tỷ lệ nhỏ tồn tại trên mặt đất và trong không khí
Nước ngọt là nguồn tài nguyên tái tạo, tuy vậy mà việc cung cấp nước ngọt và sạch trên thế giới đang từng bước giảm đi Nhu cầu nước đã vượt cung ở một vài nơi trên thế giới, trong khi dân số thế giới vẫn đang tiếp tục tăng làm cho nhu cầu nước càng tăng Sự nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ nguồn nước cho nhu cầu hệ sinh thái chỉ mới được lên tiếng gần đây Trong suốt thế kỷ 20, hơn một nửa các vùng đất ngập nước trên thế giới đã bị biến mất cùng với các môi trường hỗ trợ có giá trị của chúng Các hệ sinh thái nước ngọt mang đậm tính đa dạng sinh học hiện đang suy giảm nhanh hơn các hệ sinh thái biển và đất liền Chương trình khung trong việc định vị các nguồn tài nguyên nước cho các đối tượng sử dụng nước được gọi là quyền về nước
4.2.1 Nước mặt: là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập nước Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất
Lượng giáng thủy này được thu hồi bởi các lưu vực, tổng lượng nước trong hệ thống này tại một thời điểm cũng tùy thuộc vào một số yếu tố khác Các yếu tố này như khả năng chứa của các hồ, vùng đất ngập nước và các hồ chứa nhân tạo, độ thấm của đất bên dưới các thể chứa nước này, các đặc điểm của dòng chảy mặn trong lưu vực, thời lượng giáng thủy và tốc độ bốc hơi địa phương Tất cả các yếu tố này đều ảnh hưởng đến tỷ lệ mất nước
Hoạt động của con người có thể tác động mạnh hoặc làm gián đoạn các yếu tố liên quan tới chu trình nước Việc xây dựng bể chứa và hồ chứa làm tăng khả năng trữ nước, trong khi việc tháo khô vùng đất ngập nước làm giảm khả năng này Đồng thời, việc lát đường và dẫn nước bằng các kênh làm tăng lưu lượng và vận tốc dòng chảy mặt, từ đó làm thay đổi sự phân bổ nước trên mặt đất và ảnh hưởng đến cân bằng nước ở khu vực đô thị và vùng ven.
Quản lý tổng lượng nước tại một thời điểm là vấn đề cần quan tâm, vì một số đối tượng có nhu cầu nước theo vụ Ví dụ, mùa hè đòi hỏi lượng nước lớn cho nông nghiệp và phát điện, trong khi mùa mưa thì nhu cầu lại ít hơn; do đó để bảo đảm cấp nước cho mùa hè, cần hệ thống trữ nước hoạt động quanh năm và xả nước trong một khoảng thời gian ngắn Các đối tượng sử dụng nước thường xuyên như nhà máy điện cần nguồn nước để làm lạnh Để cung cấp nước cho các nhà máy điện, hệ thống nước mặt chỉ cần tích lũy đủ nước trong các bể chứa khi dòng chảy trung bình thấp hơn nhu cầu nước của nhà máy.
Nước mặt tự nhiên có thể được tăng cường thông qua việc cung cấp từ các nguồn nước mặt khác bởi các kênh hoặc đường ống dẫn nước Cũng có thể bổ cấp nhân tạo từ các nguồn khác được liêt kê ở đây, tuy nhiên, số lượng không đáng kể Con người có thể làm cho nguồn nước cạn kiệt (với nghĩa không thể sử dụng) bởi ô nhiễm
Brasil được đánh giá là quốc gia có nguồn cung cấp nước ngọt lớn nhất thế giới, sau đó là Nga và Canada
Trên suốt dòng sông, lưu lượng nước về hạ nguồn thường gồm hai dạng: dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm hình thành trong các đá bị nứt nẻ dưới đáy sông (không phải nước ngầm thông thường) Đối với một số thung lũng lớn, lưu lượng dòng chảy ngầm có thể lớn hơn rất nhiều so với dòng chảy mặt Dòng chảy ngầm hình thành một bề mặt động lực học giữa nước mặt và nước ngầm thật sự; nó nhận nước từ nguồn nước ngầm khi tầng ngậm nước được bổ sung đầy đủ và bổ sung nước cho tầng nước ngầm khi nước ngầm cạn kiệt Dạng dòng chảy này phổ biến ở các khu vực karst do ở đây có nhiều hố sụt và sông ngầm.
Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, là nước ngọt được chứa trong các lỗ rỗng của đất hoặc đá Nó cũng có thể là nước chứa trong các tầng ngậm nước bên dưới mực nước ngầm Đôi khi người ta còn phân biệt nước ngầm nông, nước ngầm sâu và nước chôn vùi
Nước ngầm cũng có những đặc điểm giống như nước mặt như: nguồn vào (bổ cấp), nguồn ra và chứa Sự khác biệt chủ yếu với nước mặt là do tốc độ luân chuyển chậm (dòng thấm rất chậm so với nước mặt), khả năng giữ nước ngầm nhìn chung lớn hơn nước mặt khi so sánh về lượng nước đầu vào Sự khác biệt này làm cho con người sử dụng nó một cách vô tội vạ trong một thời gian dài mà không cần dự trữ Đó là quan niệm sai lầm, khi mà nguồn nước khai thác vượt quá lượng bổ cấp sẽ là cạn kiệt tầng chứa nước và không thể phục hồi
Nguồn cung cấp nước cho nước ngầm là nước mặt thấm vào tầng chứa Các nguồn thoát tự nhiên như suối và thấm vào các đại dương
Nguồn nước ngầm có khả năng bị nhiễm mặn do hai cơ chế chính: tự nhiên và do tác động của con người khi khai thác quá mức các tầng chứa nước ở gần biên mặn/ngọt Tại các vùng ven biển, khai thác nước ngầm quá mức có thể gây xâm nhập nước biển và làm thấm mặn nguồn nước ngầm, dẫn tới muối hóa đất và giảm chất lượng nước phục vụ sinh hoạt và tưới tiêu Bên cạnh đó, con người có thể làm cạn kiệt nguồn nước hoặc gây ô nhiễm, làm suy giảm tài nguyên nước ngầm Nguồn nước này có thể được bổ cấp bằng cách xây dựng các hồ chứa hoặc triển khai các hệ thống bổ cấp nước nhân tạo nhằm duy trì nguồn nước ngầm an toàn và bền vững 4.3 Hiện trạng tài nguyên nước và biện pháp bảo vệ tài nguyên nước.
4.3.1 Hiện trạng tài nguyên nước:
Hiện trạng tài nguyên nước trên thế giới đang đối mặt với áp lực từ ô nhiễm ngày càng gia tăng Trung bình mỗi ngày, khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt được xả thẳng vào sông, hồ và biển Thêm vào đó, khoảng 70% lượng chất thải công nghiệp chưa qua xử lý bị đổ trực tiếp vào các nguồn nước tại các quốc gia đang phát triển, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nước và an toàn nguồn nước uống.
*Hiện trạng về tài nguyên nước ở Việt Nam: Giống như một số nước trên thế giới, Việt Nam cũng đang đứng trước thách thức hết sức lớn về nạn ô nhiễm môi trường nước, đặc biệt là tại các khu công nghiệp và đô thị
Hiện nay chất lượng nước ở vùng thượng lưu các con sông chính còn khá tốt, nhưng ở vùng hạ lưu đã và đang có nhiều khu vực ô nhiễm nặng nề Đặc biệt, mức độ ô nhiễm tăng cao vào mùa khô khi lượng nước đổ về các con sông giảm, khiến nhiều chỉ tiêu chất lượng nước như BOD, COD, NH4, N và P vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần Ô nhiễm nước mặt khu đô thị đang lan rộng trên các con sông chính ở Việt Nam, cho thấy tình trạng ô nhiễm nước mặt ở khu vực đô thị đang diễn biến nghiêm trọng.
Tài nguyên khoáng sản Error! Bookmark not defined 6 Tài nguyên năng lượng
5.1.Khái niệm và phân loại
Tài nguyên khoáng sản là sự tích tụ của vật chất dưới dạng hợp chất hoặc đơn chất trong vỏ Trái Đất, và ở điều kiện hiện tại con người có thể khai thác để thu được các nguyên tố có ích hoặc sử dụng trực tiếp chúng trong đời sống hàng ngày Những nguồn tài nguyên này đóng vai trò then chốt cho sản xuất công nghiệp, công nghệ và năng lượng, mang lại kim loại, khoáng chất và sản phẩm thiết yếu cho đời sống, đồng thời đòi hỏi quản lý khai thác và chế biến một cách bền vững.
Tài nguyên khoáng sản thường tập trung trong một khu vực gọi là mỏ khoáng sản Tài nguyên khoáng sản có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế của loài người và khai thác sử dụng tài nguyên khoáng sản có tác động mạnh mẽ đến môi trường sống Một mặt, tài nguyên khoáng sản là nguồn vật chất để tạo nên các dạng vật chất có ích và của cải của con người Bên cạnh đó, việc khai thác tài nguyên khoáng sản thường tạo ra các loại ô nhiễm như bụi, kim loại nặng, các hoá chất độc và hơi khí độc (SO2, CO, CH4 v.v )
5.1.2.Phân loại tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản được phân loại theo nhiều cách:
+ Thể rắn, khí : khí đốt, Acgon, He
+ Thể lỏng: Hg, dầu, nước khoáng
+ Nội sinh: sinh ra trong lòng trái đất
+ Ngoại sinh: sinh ra trên bề mặt trái đất
- Theo thành phần hoá học:
+ Khoáng sản kim loại: kim loại đen, kim loại màu, kim loại quý hiếm
+ Khoáng sản phi kim: vật liệu khoáng, đá quý, vật liệu xây dựng
+ Khoáng sản cháy: than, dầu, khí đốt, đá cháy
5.2.Hiện trạng tài nguyên khoáng sản trên thế giới và trong nước
- Quy mô khai thác ngày càng mở rộng
- Trong vòng 100 năm trở lại đây con người đã khai thác một lượng khoáng sản khổng lồ: 130 tỷ tấn than, 38 tỷ tấn dầu…
- Cường độ khai thác khoáng sản ngày một gia tang
Việt Nam là nước có lịch sử địa chất kiến tạo rất lâu dài và trải qua nhiều kiến tạo lớn đồng thời nước ta lại nằm tại vị trí tiếp giáp với Địa Trung Hải và Thái Bình Dương nên nước ta có nguồn tài nguyên khoáng sản rất đa dạng và phong phú Trên cả nước có tới hơn 5000 quặng tụ và tụ khoáng của 60 loại khoáng sản khác nhau và phần lớn các loại khoáng sản đều có trữ lượng vừa và nhỏ Nếu tính đến trữ lượng lớn thì phải chỉ đến sắt, than đá, dầu mỏ, apatit, đá vôi,…Có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú vì thế nước ta có rất nhiều thuận lợi trong việc khai thác và sử dụng hợp lý chúng để tạo ra nguồn năng lượng và vật liệu xây dựng,…để phục vụ nhu cầu ngày càng cao của con người
- Nước ta có nhiều mỏ kim loại như sắt, mangan , đồng,…và nhiều mỏ phi kim loại như than đá, than mỡ, than nâu, dầu mỏ,…Đó chính là cơ sở để con người tạo ra nhiều nguồn tài nguyên đa dạng để phát triển ngành khai khoáng như : khai thác than, luyện kim màu, luyện kim đen,…
Theo kết quả nghiên cứu, Quảng Ninh có trữ lượng đáng kể với than đá lên tới 3,5 tỉ tấn và dầu mỏ khoảng 10 tỉ tấn tại khu vực biển Đông Bên cạnh đó, khu vực này còn phong phú các khoáng sản và vật liệu xây dựng như cát thủy tinh và đá vôi Những nguồn nguyên liệu này đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển nền công nghiệp của đất nước từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Việt Nam sở hữu nhiều loại khoáng sản chất lượng cao, điển hình là than đá ở Quảng Ninh có chất lượng tương đương than Antraxit của Vương quốc Anh Đây là nguyên liệu then chốt để phát triển ngành công nghiệp trong nước và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế lớn.
Ở nhiều mỏ khoáng sản có điều kiện khai thác rất thuận lợi, như mỏ cát thủy tinh lộ thiên ven biển và mỏ apatit lộ thiên ở Lào Cai Những điều kiện khai thác thuận lợi này vừa giúp quá trình khai thác diễn ra dễ dàng, vừa làm giảm giá thành sản phẩm khi đưa ra thị trường.
- Nước sông, biển quanh năm không bị đóng băng do thời tiết khí hậu nước ta là nắng nóng quanh năm, vì thế ta có thể khai thác tài nguyên quanh năm dưới biển mà chi phí lại thấp
Việt Nam có đa dạng các loại khoáng sản, nhưng trữ lượng khoáng sản của nước ta còn nhỏ, chỉ chiếm dưới 5% so với thế giới Vì vậy, khai thác khoáng sản ở nước ta chủ yếu phù hợp với quy mô vừa và nhỏ.
- Điều kiện khai thác dầu mỏ ở biển Đông rất khó khăn vì mỏ dầu khí nằm sâu dưới tận đáy biển đòi hỏi phải nhờ đến kĩ thuật nước ngoài, nên rất tốn kém Nhiều mỏ khoáng lại phân bố gần biên giới dẫn đến việc khó khai thác mà khi khai thác nhiều thì sẽ làm cạn kiệt nguồn tài nguyên khác
- Các khoáng chất bị lẫn nhiều các tạp chất khác như vàng lẫn bạc, đồng lẫn chì,…điều này khiến ta phải có công nghệ cao mới có thể tinh luyện được các chất đó mà trên hiện tại thì ta vẫn chưa có các công nghệ hiện đại đó
- Phân bố không đồng đều giữa các vùng như giữa miền Nam và miền Bắc Bên cạnh đó, các mỏ khoáng sản ở đất liền đang trên đà cạn kiệt còn khoáng sản dưới biển thì mới bắt đầu khai thác
- Khí hậu có diễn biến phức tạp, thiên tai xảy ra thường xuyên nên việc khai thác khoáng sản sẽ rất dễ gây đảo lộn hề sinh thái
Hiện nay chúng ta khai thác quá mức khoáng chất, dẫn tới cạn kiệt nguồn tài nguyên đồng và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Ví dụ điển hình là sông Tây Ninh và khu vực Quảng Tây sau hoạt động khai thác boxit đã bị biến đổi nghiêm trọng và được ví như suối máu; bên cạnh đó, nhiều dòng sông, suối khác cũng ô nhiễm trầm trọng khi có hoạt động khai thác than Để phát triển bền vững, cần tăng cường quản lý khoáng sản, áp dụng công nghệ khai thác sạch và thực hiện các biện pháp phục hồi môi trường sau khai thác.
Khoáng sản là một loại tài nguyên không thể tái tạo được và có số lượng còn hạn chế trong lòng đất chính vì thế cần phải có chiến lược quản lý, bảo vệ và khai thác hợp lý để giúp sử dụng tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả nhằm phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội và an ninh quốc phòng của đất nước
6.1.Khái niệm và phân loại
Năng lượng là một dạng tài nguyên vật chất xuất phát từ hai nguồn chủ yếu: Năng lượng mặt trời và năng lượng lòng đất
- Năng lượng mặt trời: tồn tại ở các dạng chính: bức xạ mặt trời, năng lượng sinh học (sinh khối động thực vật), năng lượng chuyển động của khí quyển và thuỷ quyển (gió, sóng, các dòng hải lưu, thuỷtriều, dòng chảy sông ), năng lượng hoá thạch (than, dầu, khí đốt, đá dầu)
Tài nguyên sinh học và đa dạng sinh học
Tài nguyên sinh học hay đa dạng sinh học bao gồm tất cả các loài thực vật, động vật và vi sinh vật sống hoang dã trong rừng, trong đất, trong nước và trong không khí Đa dạng sinh học là sự phong phú về nguồn gen, về giống, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên
Theo thống kê mới nhất chúng ta đã biết và mô tả được 1,4 triệu loài sinh vật và mô tả từ thấp đến cao:
- 248.428 loài động vật nguyên sinh,
- 170.000 loài cây hai lá mầm
- 50.000 loài cây một lá mầm
- 1.000 loài vi rút Đa dạng sinh học được xem xét theo 3 mức độ:
Đa dạng sinh học ở cấp loài là sự phong phú về số lượng và sự đa dạng của các loài sinh vật trên Trái đất, từ vi khuẩn và vi sinh vật đến thực vật, động vật và nấm Sự đa dạng này đóng vai trò cốt yếu trong mọi hệ sinh thái bằng cách duy trì chu trình dinh dưỡng, phân hủy chất hữu cơ và thụ phấn cho thực vật, đồng thời cung cấp nguồn gene quý giá và các dịch vụ hệ sinh thái thiết yếu cho cuộc sống của con người và sự phát triển bền vững.
Ở cấp độ đa dạng sinh học, sự khác biệt di truyền tồn tại ở ba mức cơ bản: giữa các loài, giữa các quần thể sống cách ly về địa lý và giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể Sự khác biệt di truyền giữa các loài đóng vai trò tạo nên sự đa dạng chức năng của hệ sinh thái và cân bằng sinh học, trong khi sự biến đổi di truyền giữa các quần thể phân tán địa lý thúc đẩy khả năng thích nghi với điều kiện sống khác nhau Bên cạnh đó, sự biến động di truyền giữa các cá thể trong một quần thể tăng khả năng tồn tại trước áp lực môi trường và hỗ trợ quá trình tiến hóa của quần thể.
- Đa dạng sinh học còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống và các hệ sinh thái, nơi mà các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau
7.2.Sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên sinh học:
7.2.1.Tầm quan trọng của tài nguyên sinh học trong hoạt động sống của con người
- Đảm bảo sự hoạt động của các chu trình: sinh địa hoá vật chất;
- Duy trì chức năng sinh thái(Điều hoà nguồn nước, duy trì chất lượng khí hậu, sự màu mỡ của đất đai)
- Vai trò lớn trong hoạt động kinh tế;
- Nhu cầu văn hoá, thẩm mĩ;
- Cung cấp các vốn gen quý cho khoa học kĩ thuật
- Cân bằng hệ sinh thái
7.2.2.Sự tác động của con người đến tài nguyên sinh học và đa dạng sinh học, hậu quả và phương pháp khắc phục
*Sự tác động của con người:
- Sự phát triển kinh tế dẫn đến việc chiếm diện tích đất để xây dựng
- Sự khai thác quá mức: săn bắt, đánh bắt theo phương pháp huỷ diệt
- Ngành nông nghiệp du cacnh, du cư, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, đốt rừng có chủ ý…
- Các hoạt động như phát triển nhà máy, xí nghiệp, khai thác khoáng sản…
- Nơi cư trú của sinh vật bị thu hẹp
- Nhiều loài đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng
- Nguồn tài nguyên dần cạn kiệt
- Khí hậu, môi trường biến đổi
- Bảo vệ rừng nhiệt đới, đất ngập nước, tài nguyên thuỷ hải sản
- Hợp tác quốc tế bảo vệ đa dạng sinh học
- Phổ cập kiến thức và giáo dục cộng đồng đến người dân
- Hoàn thiện luật bảo vệ tài nguyên môi trường.