Giáo trình Quản lý nhà nước trong công tác văn thư (Nghề: Văn thư hành chính - Trung cấp) nhằm giúp học viên nêu được những kiến thức cơ bản về hoạt động quản lý nhà nước như: chủ thể, đối tượng, phương pháp quản lý nhà nước; giải thích được đặc điểm, nguyên tắc của hoạt động quản lý nhà nước;... Mời các bạn cùng tham khảo!
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
Khái niệm, đặc điểm của hoạt động quản lý nhà nước
1.1 Một số khái niệm cơ bản
Dưới góc độ khoa học, khái niệm quản lý được xem xét từ nhiều cách tiếp cận khác nhau Theo nghĩa phổ biến, quản lý là hoạt động tác động có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm điều chỉnh hành vi, vận động và phát triển của chúng theo những mục tiêu đã được đặt ra Hiểu đúng khía cạnh này giúp xác định vai trò của quản lý trong điều phối nguồn lực và thiết kế các chiến lược để đạt hiệu quả và sự phát triển bền vững.
Với cách hiểu trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau:
Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động quản lý, có thể là một cá nhân hoặc một tổ chức Chủ thể này tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ, hình thức và phương pháp thích hợp và cần thiết, đồng thời căn cứ trên một tập hợp nguyên tắc nhất định để đảm bảo hiệu quả và tính đúng đắn của quá trình quản lý.
- Đối tượng quản lý (khách thể quản lý): Tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý
Mục tiêu quản lý là đích đến cần đạt được tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý đề ra; đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các tác động quản lý và lựa chọn các hình thức, phương pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Trong khuôn khổ quản lý nhà nước, khái niệm quản lý nhà nước thể hiện quá trình xác định mục tiêu, điều hành và kiểm soát các hoạt động của hệ thống nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển, ổn định xã hội và bảo đảm trật tự công cộng.
Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự hình thành của nhà nước và gắn với chức năng, vai trò của nhà nước trong xã hội có giai cấp Theo nghĩa rộng nhất, quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động của hệ thống nhà nước: hoạt động lập pháp của cơ quan lập pháp, hoạt động hành chính (chấp hành và điều hành) của hệ thống hành pháp, và hoạt động tư pháp của hệ thống tư pháp Đồng thời, quản lý hành chính nhà nước được xem là một thành phần chủ chốt trong quá trình quản lý nhà nước.
Trong quản lý nhà nước nói chung, quản lý hành chính đóng vai trò trung tâm và chủ đạo, là hoạt động tổ chức và điều hành nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước trong quản lý xã hội.
Quản lý hành chính nhà nước được hiểu là hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà nước, là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước trên cơ sở pháp luật đối với hành vi của con người và các quá trình xã hội, do các cơ quan trong hệ thống hành chính từ trung ương tới cơ sở tiến hành để thực hiện các mục tiêu, chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước Định nghĩa này có ba nội dung cơ bản.
Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước; hành pháp là một trong ba nhánh quyền lực của nhà nước, gồm Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp, chịu trách nhiệm triển khai và thực hiện các chính sách, quy định và hoạt động quản lý nhằm đảm bảo trật tự xã hội và phát triển kinh tế - xã hội.
Quản lý hành chính là sự tác động có tổ chức và có định hướng nhằm điều phối nguồn lực và hoạt động xã hội Trong quản lý hành chính nhà nước, chức năng tổ chức đóng vai trò cốt lõi vì nếu thiếu tổ chức thì không thể quản lý hiệu quả Nhà nước phải tổ chức hàng triệu công dân, mỗi người đóng vai trò tích cực và góp phần tạo ra lợi ích cho xã hội Quản lý hành chính nhà nước mang tính định hướng ở chỗ hoạt động quản lý định hướng hành vi con người và các quá trình xã hội theo những quỹ đạo và mục tiêu nhất định, từ đó đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng và hiệu quả của toàn bộ hệ thống.
Quản lý hành chính nhà nước được tiến hành trên cơ sở pháp luật và theo nguyên tắc pháp chế, là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước nhưng phải trong khuôn khổ của pháp luật Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của nhà nước pháp quyền.
1.2 Các tính chất và đặc điểm cơ bản của quản lý hành chính nhà nước ở nước ta a Các tính chất
- Tính chính trị xã hội chủ nghĩa
Trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, nền hành chính nhà nước đóng vai trò then chốt, là công cụ để thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Hoạt động hành chính nhà nước tập trung vào việc thực hiện đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng để đạt được các mục tiêu chính trị của quốc gia.
- Tính dân chủ xã hội chủ nghĩa
Nhà nước của dân, do dân và vì dân là nền tảng, với quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nhân dân là chủ thể tối cao của đất nước Trong khuôn khổ nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân uỷ quyền cho nhà nước thay mặt mình quản lý tập trung và thống nhất các lĩnh vực đời sống xã hội Hoạt động hành chính nhà nước phải chịu sự giám sát và kiểm tra của nhân dân, nhằm đảm bảo quyền làm chủ thực sự của nhân dân trong quản lý nhà nước và quản lý xã hội.
- Tính khoa học và nghệ thuật
Trong quá trình phát triển của xã hội, quản lý là sự kết hợp giữa khoa học và nghệ thuật: là một khoa học vì nó có tính quy luật, có các nguyên lý và các mối quan hệ tương hỗ với các môn khoa học khác; đồng thời là một nghệ thuật vì nó gắn với tài năng, bản lĩnh, nhân cách, trí tuệ và kinh nghiệm của người quản lý.
Quản lý hành chính nhà nước là biểu hiện tập trung và quan trọng nhất của toàn bộ hoạt động nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế và đời sống xã hội Do đó, cán bộ, công chức cần được trang bị đầy đủ kiến thức về các quy luật khách quan của hoạt động quản lý nói chung và quản lý nhà nước nói riêng, nhằm nâng cao hiệu quả điều hành, cải thiện chất lượng phục vụ và đáp ứng yêu cầu của người dân và doanh nghiệp.
Quản lý hành chính nhà nước có tính chất bao quát, bao phủ tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng Đối tượng quản lý là toàn bộ đời sống xã hội; mục tiêu là không chỉ tổ chức và điều chỉnh từng lĩnh vực riêng lẻ mà còn liên kết, phối hợp các lĩnh vực thành một thể thống nhất để bảo đảm sự phát triển đồng bộ, cân đối và hiệu quả đáp ứng nhu cầu của các thành viên xã hội Tuy nhiên, quản lý toàn diện không đồng nghĩa với việc can thiệp vào mọi khía cạnh hay mọi quan hệ xã hội mà chỉ tác động vào các quan hệ xã hội đã được pháp luật xác định Các đặc điểm cơ bản của quản lý hành chính nhà nước thể hiện ở việc kết hợp quản lý theo ngành và theo lĩnh vực, tôn trọng pháp luật và định hướng xã hội.
Khi nói đến đặc điểm của quản lý hành chính nhà nước, ta nhấn mạnh những nét đặc thù riêng biệt giúp phân biệt nó với các dạng quản lý xã hội khác Với cách tiếp cận này, quản lý hành chính nhà nước chú trọng hệ thống pháp lý, cơ cấu tổ chức và quy trình ra quyết định mang tính công quyền, minh bạch và có trách nhiệm Quá trình quản lý bắt đầu từ việc xác định mục tiêu và nguồn lực công, được thực thi thông qua các cơ chế pháp lý và quản trị hành chính, và kết thúc bằng kết quả là các hoạt động dịch vụ công được triển khai nhằm bảo đảm trật tự xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế và an sinh cho người dân Những đặc điểm này làm nổi bật tính đặc thù của quản lý hành chính nhà nước so với các mô hình quản lý xã hội khác ở phạm vi tác động, tính cưỡng chế pháp lý và sự ổn định lâu dài.
9 nhà nước dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta có các đặc điểm cơ bản sau đây:
- Quản lý hành chính nhà nước mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao và tính mệnh lệnh đơn phương của nhà nước
Chủ thể, khách thể, phương pháp quản lý nhà nước
Trong hoạt động QLHCNN luôn luôn có: Chủ thể và khách thể
Chủ thể là tổ chức và cá nhân có quyền lực tác động lên khách thể
Khách thể là chịu sự tác động của chủ thể
Nhìn bên ngoài, chủ thể và khách thể có mâu thuẫn nhau Nhưng thực chất nó có mối quan hệ với nhau
3.1 Chủ thể của hoạt động QLNN
Chủ thể QL về mặt CT-XH là nhân dân lao động, có quyền tham gia
Quản trị nhà nước và xã hội là sự nghiệp của toàn dân Nhà nước là tổ chức chính trị - hành chính do nhân dân bầu ra, được ủy quyền và trao quyền hành để quản lý xã hội Chủ thể quản trị nhà nước về mặt pháp lý là hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống đó Đặc điểm của chủ thể quản trị nhà nước và xã hội là gắn với hệ thống cơ quan hành chính và đội ngũ cán bộ, công chức hoạt động trong hệ thống này để thực hiện quản lý xã hội theo quy định của pháp luật. -**Support Pollinations.AI:**🌸 **Quảng cáo** 🌸 Tối ưu bài viết và nâng cao thứ hạng SEO dễ dàng với [Pollinations.AI](https://pollinations.ai/redirect/kofi) – hỗ trợ content về quản trị nhà nước hiệu quả!
Chủ thể QLHCNN có tính quyền lực NN, phải gắn liền thẩm quyền, tách rời thẩm quyền thì không có chủ thể
- Lĩnh vực hoạt động QL rất rộng, bao gồm tất cả lĩnh vực KT-CT-
- QL chủ yếu thông qua các quyết định QL và hành vi HC
Hệ thống CQ được thành lập theo trật tự cấp bậc, thẩm quyền (chung, riêng) Hệ thống CQ được thành lập theo trật tự cấp bậc
Hệ thống CQHCNN TW: Chính phủ; Bộ và CQ ngang Bộ; CQ trực thuộc C.Phủ
- Chính phủ: CQ chấp hành Quốc hội là CQHC cao nhất, có nhiệm vụ và quyền hạn QL tất cả các lĩnh vực ĐS-XH
- Bộ, CQ ngang Bộ: CQ chuyên môn của Chính phủ, QL hành chính theo lĩnh vực phân quyền
- Thành viên Chính phủ: Bao gồm
+ Chế độ làm việc tập thể
Hệ thống CQHCNN phân theo thẩm quyền Gồm có:
CQHCNN thẩm quyền chung (CQ QL về mặt lãnh thổ, tổng hợp): + Chính phủ
- Được thành lập theo Hiến pháp; Có chức năng QLHCNN tổng hợp
- Trong phạm vi quyền lực được sử dụng quyền lực NN thể điều chỉnh tất cả các mối quan hệ XH trong chức năng hành pháp và HCNN
- Công chức lãnh đạo được hình thành theo cơ chế bầu cử hoặc kết hợp giữa bầu cử và bổ nhiệm
- Phương thức làm việc theo chế độ tập thể quyết định theo đa số và trách nhiệm người đứng đầu theo Luật định
VD Thủ tướng Chính phủ
- Ký thay mặt trên các văn bản HCNN
CQHCNN thẩm quyền riêng (CQ chuyên môn)
- Được thành lập bằng các VB pháp qui của Chính phủ, Thủ tướng
CP hoặc thủ trưởng các CQNN khác có thẩm quyền Có chức năng QL theo ngành hoặc lĩnh vực (Trừ bộ phận CQ ngang bộ do QH thành lập)
- Được sử dụng quyền lực NN để điều chỉnh một hoặc một số mối quan hệ XH nhất định
- CC lãnh đạo được hình thành theo cơ chế bổ nhiệm (Chỉ có bộ trưởng, thủ trưởng CQ ngang bộ được QH phê chuẩn)
- Lãnh đạo và quản lý theo chế độ thủ trưởng
VD Phó giám đốc Sở là người Phó giúp việc cho Giám đốc
Bộ trưởng, thủ trưởng CQ ngang bộ làm việc theo chế độ thủ trưởng
- Không ký thay mặt trên các VB HC
Khách thể QLHCNN là những gì mà hoạt động QL hướng tới, tác động tới Bao gồm:
- Trật tự QL trên tất cả các lĩnh vực của đời sống KT-XH
- Là hành vi hoạt động của con người
16 Đặc điểm của khách thể QLHCNN
- Được phân thành nhiều loại, mỗi loại có đặc điểm riêng Phân loại khách thể để có phương pháp QL riêng cho từng loại
- Khách thể luôn luôn vận động, có khả năng tự điều chỉnh để thích nghi với hoàn cảnh và môi trường của điều kiện hoạt động
Hiểu sâu các mặt của đối tượng là nền tảng để công tác quản lý hành chính nhà nước (QLHCNN) xây dựng sự ổn định và vững chắc cho xã hội Nhờ vậy, QLHCNN có thể tạo điều kiện cho đối tượng luôn vận động, thích nghi và phát triển bền vững.
VD Là nhu cầu con người của XH
3.3 Mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể
Chủ thể quản lý tạo ra các tác động quản lý, kích hoạt quá trình điều hành và định hướng nguồn lực Khách thể quản lý chịu tác động từ chủ thể để hình thành các giá trị vật chất và tinh thần, đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Chủ thể quản lý tồn tại nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội và phục vụ khách thể quản lý; tuy nhiên, nếu không quan tâm đúng mức đến khách thể, chủ thể sẽ tồn tại và hoạt động mà không có mục đích rõ ràng.
- Con người vừa là chủ thể vừa là khách thể QL, nhân dân lao động vừa là chủ thể vừa là khách thể
- Bất kỳ CQ nào, một công chức lãnh đạo nào dù ở vị trí cao nhất vừa là chủ thể, vừa là khách thể
3.4 Các hình thức và phương pháp quản lý hành chính nhà nước
- Hình thức quản lý hành chính
Hình thức hoạt động quản lý hành chính nhà nước là sự biểu hiện trực tiếp của các hoạt động quản lý được thực hiện bởi cơ quan hành chính nhà nước nhằm thực thi các chức năng và nhiệm vụ được giao Nó phản ánh cách thức tổ chức, phương thức và công cụ quản lý được áp dụng để đạt mục tiêu quản trị nhà nước, bảo đảm tính hợp pháp, công khai và hiệu quả Từ lên kế hoạch, điều hành, kiểm tra đến đánh giá kết quả, các hình thức quản lý hành chính nhà nước cho thấy mức độ phối hợp giữa các cơ quan và sự tham gia của cộng đồng Phân tích và tối ưu hình thức này giúp nâng cao chất lượng quản trị, tăng cường trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi các chức năng, nhiệm vụ được giao.
Quản lý hành chính nhà nước có nhiều hình thức hoạt động Việc lựa chọn hình thức hoạt động phù hợp được tiến hành trên cơ sở các quy luật sau nhằm bảo đảm tính hợp pháp, hiệu quả và phù hợp với mục tiêu quản lý.
- Quy luật về sự phù hợp của hình thức quản lý với chức năng quản lý
- Quy luật về sự phù hợp của hình thức quản lý với nội dung và t ính chất của những nhiệm vụ quản lý cần giải quyết
- Quy luật về sự phù hợp của hình thức quản lý với những đặc điểm của đối tượng quản lý cụ thể
- Quy luật về sự phù hợp của hình thức quản lý với mục đích cụ thể của tác động quản lý
Hình thức quản lý hành chính nhà nước có thể được chia thành 2 loại là: hình thức pháp và hình thức không pháp lý
Đổi mới hoạt động quản lý nhà nước
Trong giai đoạn 2010– 2020, cải cách hành chính nhà nước Việt Nam phấn đấu nhằm đạt được các mục tiêu chủ yếu sau:
Mục tiêu chung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2010–2020 là xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa và hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Đến năm 2010, hệ thống hành chính cơ bản được cải cách phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Những mục tiêu cụ thể:
1 Hoàn thiện hệ thống thể chế hành chính, cơ chế, chính sách phù hợp với thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trước hết là các thể chế về kinh tế, về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính Tiếp tục đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, khắc phục tính cục bộ trong việc chuẩn bị, soạn thảo các văn bản; đề cao trách nhiệm của từng cơ quan trong quá trình xây dựng thể chế; phát huy dân chủ, huy động trí tuệ của nhân dân để nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật
2 Xoá bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân; hoàn thiện các thủ tục hành chính mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho dân
3 Các cơ quan trong hệ thống hành chính được xác định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng; chuyển được một số công việc và dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan nhà nước thực hiện cho doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ đảm nhận
4 Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gọn nhẹ, hợp lý theo nguyên tắc Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, thực hiện chức năng chủ yếu là quản lý vĩ mô toàn xã hội bằng pháp luật, chính sách, hướng dẫn và kiểm tra thực hiện
Bộ máy của các Bộ được điều chỉnh theo cơ cấu mới, dựa trên sự phân định rõ chức năng và phương thức hoạt động của các bộ phận tham mưu, thực thi chính sách và cung cấp dịch vụ công, nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước và nâng cao chất lượng phục vụ người dân.
5 Đến năm 2020, đội ngũ cán bộ, công chức có số lượng, cơ cấu hợp lý chuyên nghiệp, hiện đại Tuyệt đại bộ phận cán bộ, công chức có phẩm chất tốt và đủ năng lực thi hành công vụ, tận tụy phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước và phục vụ nhân dân
6 Nền hành chính nhà nước được hiện đại hoá một bước rõ rệt Các cơ quan hành chính có trang thiết bị tương đối hiện đại phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước kịp thời và thông suốt Hệ thống thông tin điện tử của Chính phủ được đưa vào hoạt động
Phân tích và đánh giá các yếu kém, hạn chế của nền hành chính Việt Nam hiện nay giúp xác định những mục tiêu cơ bản cho công cuộc cải cách Dựa trên nền tảng này, Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2010–2020 được xây dựng nhằm định hình một hệ thống hành chính hiện đại, hiệu quả và phục vụ người dân tốt hơn Các nội dung chủ yếu của chương trình gồm củng cố thể chế, đổi mới tổ chức và quản trị nhà nước, đơn giản hóa và công khai thủ tục hành chính, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và dữ liệu mở, tăng cường kiểm tra giám sát và minh bạch, và nâng cao chất lượng phục vụ, hiệu lực và hiệu quả của nền hành chính.
- Xây dựng và hoàn thiện các thể chế, trước hết là thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thể chế về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước
- Đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật
- Bảo đảm việc tổ chức thực thi pháp luật nghiêm minh của cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức
- Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính
4.2.1 Cải cách tổ chức bộ máy hành chính
- Điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp cho phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước trong tình hình mới
Tiến hành điều chỉnh từng bước chức năng và nhiệm vụ của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương nhằm khắc phục chồng chéo, trùng lắp về chức năng và nhiệm vụ; đồng thời chuyển giao các công việc về dịch vụ không thiết yếu cho các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ hoặc doanh nghiệp, để các cơ quan hành chính nhà nước tập trung vào các nhiệm vụ cốt lõi và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
Ban hành và áp dụng các quy định mới về phân cấp trung ương - địa phương và phân cấp giữa các cấp chính quyền địa phương nhằm nâng cao thẩm quyền và trách nhiệm của chính quyền địa phương, đồng thời tăng cường mối liên hệ và trách nhiệm của cơ quan nhà nước trước nhân dân địa phương Quản lý được liên kết chặt chẽ giữa phân cấp công việc và phân cấp tài chính, tổ chức và cán bộ để bảo đảm tính đồng bộ và hiệu quả Cần định rõ loại việc địa phương được quyết định toàn quyền, những việc yêu cầu có ý kiến của trung ương trước khi địa phương quyết định và những việc phải thực hiện theo quyết định của trung ương, qua đó thiết lập khung pháp lý và cơ chế giám sát, đánh giá kết quả thực hiện.
- Bố trí lại cơ cấu tổ chức của Chính phủ
- Điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy bên trong của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
- Cải cách tổ chức bộ máy chính quyền địa phương
- Cải tiến phương thức quản lý, lề lối làm việc của cơ quan hành chính các cấp
- Thực hiện từng bước hiện đại hoá nền hành chính
4.2.2 Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
- Đổi mới công tác quản lý cán bộ, công chức
- Cải cách tiền lương và chế độ, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ, công chức
- Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
- Nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức cán bộ, công chức
4.2.3 Cải cách tài chính công
Đổi mới cơ chế phân cấp quản lý tài chính và ngân sách nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống tài chính quốc gia và vai trò chỉ đạo của ngân sách trung ương, đồng thời phát huy tính chủ động, năng động, sáng tạo và trách nhiệm của địa phương và các ngành trong việc điều hành tài chính và ngân sách.
Đảm bảo quyền quyết định ngân sách địa phương của Hội đồng nhân dân các cấp, tạo điều kiện cho chính quyền địa phương chủ động xử lý các công việc ở địa phương; xác lập quyền quyết định phân bổ ngân sách của các Bộ, Sở, Ban, ngành đối với các đơn vị trực thuộc; bảo đảm quyền chủ động của các đơn vị sử dụng ngân sách trong phạm vi dự toán được duyệt, phù hợp với chế độ, chính sách.
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ TÀI CHÍNH
Quản lý nhà nước về kinh tế
1.1 Một số vấn đề cơ bản
Quản lý Nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng hiệu quả nguồn lực kinh tế trong nước và ngoài nước, tận dụng mọi cơ hội có thể để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra, đồng thời tăng cường hội nhập và mở rộng giao lưu kinh tế quốc tế.
Theo nghĩa rộng, quản lý Nhà nước về kinh tế dược thực hiện thông qua cả ba loại cơ quan luật pháp, hành pháp và cơ quan tư pháp
Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, do cơ quan hành pháp (Chính phủ) thực hiện Quản lý Nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên các hoạt động kinh tế nhằm định hướng và điều tiết nền kinh tế.
1.2 Nội dung quản lý NN về kinh tế a Sự cần thiết khách quan quản lý Nhà nước về kinh tế:
- Khắc phục những hạn chế của việc điều tiết thị trường , bảo đảm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đã đề ra
Qua quyền lực chính sách và sức mạnh về kinh tế, Nhà nước phải nhận diện và giải quyết những mâu thuẫn lợi ích kinh tế phổ biến, thường xuyên và căn bản trong nền kinh tế quốc dân Việc điều tiết và cân bằng lợi ích giữa nhà nước, doanh nghiệp và người dân giúp thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững, công bằng và cạnh tranh hiệu quả Đồng thời, chiến lược phát triển kinh tế và các công cụ chính sách được triển khai nhằm tối ưu hóa phân bổ nguồn lực, hạn chế xung đột và đảm bảo tăng trưởng ổn định cho nền kinh tế quốc gia.
- Tính khó khăn, phức tạp của sự nghiệp kinh tế
- Tính giai cấp trong kinh tế và bản chất giai cấp của Nhà nước b Nội dung quản lý NN về kinh tế
Các nội dung quản lý vĩ mô của Nhà nước được thực hiện thông qua hệ thống các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô Do đó, quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế phải gắn liền với việc đổi mới và hoàn thiện các công cụ quản lý vĩ mô quan trọng để nâng cao hiệu quả điều hành và ổn định kinh tế.
-Xây dựng chiến lược, kế hoạch, chương trình kinh tế - xã hội để định hướng cho sự vận động của nền kinh tế thị trường
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là sự lựa chọn có căn cứ khoa học nhằm xác định các mục tiêu dài hạn và cơ bản của quá trình phát triển, đồng thời gắn kết với việc lựa chọn các phương tiện và biện pháp chủ yếu để đạt được các mục tiêu đó.
Chiến lược được cụ thể hóa thành các chương trình và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo từng thời kỳ nhằm đảm bảo các cân đối chủ yếu của nền kinh tế và định hướng cho quá trình vận động của nền kinh tế.
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật là nền tảng pháp lý cho hoạt động đầu tư và kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, đồng thời duy trì trật tự, kỷ cương kinh tế và điều chỉnh hành vi Vì vậy, cần đổi mới quá trình xây dựng, ban hành và thực thi luật pháp để đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội trong cơ chế thị trường, bảo đảm tính đồng bộ và hệ thống, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế Đồng thời tăng cường pháp chế nhằm nâng cao hiệu quả của công cụ pháp lý và củng cố niềm tin của nhà đầu tư vào môi trường kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trường, công cụ tài chính - tiền tệ và công cụ điều chỉnh giá cả là trụ cột của quản lý kinh tế vĩ mô Nền kinh tế thị trường thực chất là kinh tế tiền tệ, nên Nhà nước cần nắm vững và vận dụng linh hoạt các công cụ này cùng với các hình thức, biện pháp tài chính và giá cả phù hợp với nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN Việc quản lý hiệu quả đòi hỏi sự kết hợp nhịp nhàng giữa điều tiết tiền tệ, ngân sách và chính sách giá nhằm ổn định chu kỳ kinh tế, cân đối cung cầu và thúc đẩy tăng trưởng bền vững Mỗi công cụ cần được áp dụng tùy theo thời kỳ, đặc thù ngành và vùng miền, đảm bảo phản ứng nhanh nhạy trước biến động thị trường và sức cạnh tranh của nền kinh tế Tóm lại, nắm bắt và vận dụng linh hoạt các công cụ tài chính - tiền tệ và giá cả là yếu tố cốt lõi cho quản lý kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tiếp tục cải cách và xây dựng hệ thống tài chính, tiền tệ thành công cụ điều tiết vĩ mô nhạy bén, phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Trong nền kinh tế thị trường, ngân sách nhà nước đóng vai trò then chốt trong quản lý vĩ mô trên mọi lĩnh vực: điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, chống lạm phát, định hướng phát triển sản xuất và hoạt động đầu tư.
Tiếp tục đổi mới chính sách thuế theo hướng vừa bảo đảm nguồn thu ngân sách nhà nước, vừa khuyến khích sản xuất kinh doanh và thúc đẩy thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng để tăng tích lũy Chính sách này giúp tối ưu nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững và nâng cao hiệu quả quản lý tài chính cho nhà nước cũng như doanh nghiệp.
Chính sách thuế là một bộ phận trọng yếu của nền tài chính quốc gia, gắn với nhiều mối quan hệ kinh tế, xã hội và đời sống của các tầng lớp dân cư Đối với hoạt động quản lý của Nhà nước, thuế là nguồn thu chủ yếu hình thành ngân sách nhà nước, cho phép Nhà nước điều tiết nền kinh tế, phân bổ nguồn lực và cung cấp các dịch vụ công thiết yếu cho xã hội Chính sách thuế còn thể hiện nguyên tắc công bằng, khuyến khích đầu tư và đổi mới sáng tạo, đồng thời giúp ổn định thu nhập và giảm thiểu bất bình đẳng xã hội.
Mục 24 không chỉ là nguồn thu chủ yếu của Nhà nước để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ trên mọi lĩnh vực của Nhà nước, mà còn là công cụ quản lý vĩ mô quan trọng, giúp điều tiết nguồn lực và định hướng phát triển kinh tế - xã hội.
Kiên quyết thực hiện nghiêm túc các luật thuế hiện hành, đồng thời đơn giản hóa hệ thống thuế và biểu thuế suất để nâng cao tính ổn định của hệ thống thuế Bổ sung thuế và phí sử dụng tài nguyên không tái tạo nhằm bảo đảm nguồn thu bền vững cho ngân sách Xây dựng quy chế quản lý chi tiêu công đảm bảo chi ngân sách tiết kiệm và hiệu quả, đồng thời nâng dần tỷ lệ chi cho đầu tư và phát triển và kiềm chế bội chi ngân sách.
Trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, thuế là công cụ chủ đạo để điều tiết áp lực cạnh tranh và bảo hộ sản xuất trong nước Thuế còn điều phối quan hệ xuất nhập khẩu và thực hiện các chính sách kinh tế mở cửa, góp phần cân bằng lợi ích giữa thị trường trong nước và thương mại quốc tế.
Chính sách giá cả (bao gồm giá hàng hóa và giá cả đồng tiền) là cơ sở để bố trí tài nguyên và thúc đẩy sản xuất thông qua thị trường, đồng thời phản ánh nhanh nhạy cung – cầu của nền kinh tế; sự biến động của nền kinh tế quốc dân trước hết thể hiện ở sự dao động về giá cả, vì vậy quản lý giá cả bằng chính sách giá là một nội dung chủ yếu của sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường nhằm điều tiết quan hệ cung – cầu, điều chỉnh hành vi và mối quan hệ giữa các doanh nghiệp, các ngành kinh tế, điều tiết cạnh tranh và môi trường kinh tế để chống lại biến động tiêu cực từ lạm phát và bảo hộ hoạt động sản xuất kinh doanh.
* Ba nội dung cơ bản của chính sách giá cả là:
Quản lý nhà nước về tài chính
2.1 Một số vấn đề cơ bản
Quản lý Nhà nước về tài chính và ngân sách Nhà nước là quá trình có tổ chức, được thực thi dựa trên pháp luật nhằm khai thác và sử dụng nguồn lực tài chính của đất nước theo hướng hiệu quả cao nhất, kể cả nguồn lực trong nước và vốn nước ngoài Nhiệm vụ của quản lý tài chính công là bảo đảm chi ngân sách được phân bổ hợp lý để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và xã hội của đất nước, đồng thời thúc đẩy mục tiêu phát triển trong môi trường hội nhập và mở rộng giao lưu kinh tế với khu vực và toàn cầu.
2.2 Nội dung quản lý Nhà nước về tài chính
Quản lý và điều hành ngân sách nhà nước
NSNN là nguồn tài chính tập trung quan trọng nhất của hệ thống tài chính quốc gia, đồng thời là tiềm lực và sức mạnh tài chính của Nhà nước Việc quản lý và điều hành NSNN quyết định phạm vi và hiệu quả chi tiêu công, đồng thời tác động trực tiếp đến các hoạt động tài chính khác trong nền kinh tế quốc dân Qua đó, NSNN không chỉ đảm bảo khả năng đầu tư công và ổn định ngân sách mà còn định hướng phát triển kinh tế vĩ mô, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và sự tin cậy của thị trường tài chính.
NSNN được quản lý và điều hành theo Luật NSNN được Quốc hội nước CHXHCNVN thông qua ngày 30/3/1996 Các nội dung chủ yếu liên quan đến quản lý và điều hành ngân sách nhà nước gồm: một là chế độ kế hoạch hoá thống nhất từ trung ương đến cơ sở, trong đó mọi thu chi của NSNN được thể hiện qua kế hoạch thống nhất và kế hoạch ngân sách được Quốc hội phê duyệt hàng năm; hai là thực hiện phân cấp quản lý NSNN phù hợp với sự phân cấp hành chính từ trung ương đến cấp tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương), cấp huyện (quận) và cấp xã (phường).
Phân công và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là quá trình phân cấp thực hiện nhiệm vụ kế hoạch thu chi NSNN cho các cấp trên cơ sở chế độ thống nhất và kế hoạch thống nhất Phân công phân cấp không phải là phân chia ngân sách đơn thuần mà là tổ chức thực thi nhiệm vụ một cách đồng bộ trên mọi cấp Quản lý thuế và nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước đóng vai trò then chốt và cần được tích hợp chặt chẽ trong cơ chế phân cấp để bảo đảm nguồn thu ổn định và bền vững.
- Một là: Tiếp tục cải cách và hoàn thiện các sắc luật về thuế theo các tiêu chuẩn cơ bản và hướng chính sau:
+ Hệ thống thuế phải bao quát hết các nguồn thu và tăng thu
Xác định và lựa chọn đúng mục tiêu của thuế là yếu tố then chốt của hiệu quả chính sách tài khóa Mục tiêu chủ đạo của thuế là kích thích và điều tiết kinh tế, đồng thời tăng thu cho ngân sách nhà nước Do đó, thuế nên được thiết kế tập trung vào các mục tiêu kinh tế và ngân sách, không nên đặt ra cho thuế nhiệm vụ thực hiện cùng lúc quá nhiều mục tiêu liên quan đến chính sách xã hội, tránh làm giảm hiệu quả và tính ổn định của hệ thống thuế.
+ Thực hiện chính sách thuế bình đẳng đối với các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư
Đơn giản hoá chính sách thuế là mục tiêu then chốt để nâng cao tính minh bạch và hiệu quả của hệ thống thuế; bằng cách đơn giản hoá cả thuế suất lẫn thủ tục, bản thân chính sách trở nên dễ hiểu, dễ thực hiện và dễ kiểm tra Mức thuế được thiết kế rõ ràng, các bước nộp thuế được tối giản hóa, giúp người nộp thuế nhanh chóng nắm bắt và tuân thủ Khi sự đơn giản lan tỏa từ thuế suất tới thủ tục và quy trình kiểm tra, nó được đông đảo người nộp thuế chấp nhận và thực hiện một cách tự giác, từ đó cải thiện môi trường kinh doanh và tăng nguồn thu bền vững.
Chính sách thuế phải có tác dụng tích cực trong phân phối thu nhập và điều tiết thu nhập của doanh nghiệp cũng như cá nhân một cách hợp lý, từ đó tạo ra sự công bằng xã hội và nền kinh tế ổn định.
Chính sách thuế nên được thiết kế để đảm bảo ổn định trong thời gian dài và tạo khả năng dự đoán cho doanh nghiệp và người nộp thuế, từ đó thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ phát triển bền vững Tránh thay đổi quá nhiều và quá đột ngột để không gây trở ngại cho môi trường đầu tư, kế hoạch sản xuất và hoạt động kinh doanh, đồng thời tăng tính ổn định và tin cậy của hệ thống thuế.
Chính sách thuế hiệu quả là chính sách tạo điều kiện cho khả năng kiểm soát được của ba phía: người nộp thuế, người thu thuế và cơ quan quản lý thuế Khi có sự kiểm soát rõ ràng và minh bạch giữa các bên, nghĩa vụ và quyền lợi về thuế được thực thi đúng hạn, tăng tính tuân thủ và giảm thất thoát ngân sách Chính sách cần thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả, cung cấp thông tin đầy đủ và dễ tiếp cận cho người nộp thuế, đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan quản lý thuế và người nộp thuế để đảm bảo sự công bằng và hiệu quả của hệ thống thuế.
Thu hẹp phạm vi miễn giảm thuế, tập trung vào các yêu cầu cơ bản của chính sách kinh tế nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việc điều chỉnh này tối ưu hóa nguồn lực và tăng hiệu quả hỗ trợ cho doanh nghiệp và người dân, đồng thời bảo đảm sự ổn định và bền vững của nền kinh tế Qua đó, sự cân nhắc giữa ưu đãi thuế và mục tiêu phát triển sẽ thúc đẩy năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và thu hút đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Đẩy mạnh hiệu lực pháp lý và hiệu quả của chính sách thuế bằng cách áp dụng nghiêm minh các hình thức thưởng phạt trong thuế, nhằm nâng cao tính ràng buộc và động lực tuân thủ của người nộp thuế; đồng thời loại bỏ các khoản thuế kém hiệu quả do chi phí thu thuế lớn hơn mức thu được, giúp tối ưu chi phí quản lý và tăng cường hiệu quả thu ngân sách.
Việc tuyên truyền và phổ biến sâu rộng, thường xuyên về các luật thuế và văn bản dưới luật được thực hiện trong mọi tổ chức và cộng đồng nhằm giúp người dân hiểu rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của người nộp thuế, từ đó nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện Tạo điều kiện cho nhân dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra về thuế, thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng và công khai minh bạch trong công tác quản lý thuế.
- Ba là: Tổ chức chỉ đạo công tác kê khai, đăng ký, xét duyệt đăng ký KD làm cơ sở, căn cứ pháp lý để thu thuế
Bốn là lập sổ thuế cho từng doanh nghiệp và hộ sản xuất, kinh doanh tại xã, phường, thị trấn Sổ thuế được lập và sử dụng trong nhiều năm; hàng năm, khi có thay đổi về chính sách thuế hoặc căn cứ tính thuế, các doanh nghiệp và hộ sản xuất, kinh doanh phải kê khai để điều chỉnh sổ thuế cho phù hợp.
- Năm là: Chỉ đạo tổ chức thu thuế và nộp thuế
Chính phủ tổ chức thực hiện các luật thuế Các Bộ, cơ quan ngang Bộ có liên quan đến các luật thuế phối hợp với Bộ Tài chính ra các văn bản hướng dẫn thi hành hoặc trình Chính phủ ban hành các văn bản chỉ đạo thi hành các luật thuế Chủ tịch UBND cấp tỉnh tổ chức chỉ đạo công tác thu thuế ở địa phương Chủ tịch UBND cấp huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có nhiệm vụ chỉ đạo công tác thu thuế ở địa phương, duyệt sổ thuế của xã, phường và đề nghị cấp trên xem xét những vấn đề cần thiết Chủ tịch UBND cấp xã, phường, thị trấn có trách nhiệm trực tiếp tổ chức công tác thu thuế ở xã, phường, thị trấn.
Hệ thống cơ quan thuế là cơ quan chuyên trách thực hiện các nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát, tính thuế, thông báo thuế và thu thuế; đồng thời xử phạt vi phạm luật thuế của các tổ chức và cá nhân nộp thuế Hệ thống này còn hỗ trợ UBND các cấp trong công tác liên quan đến trách nhiệm của UBND trong việc thực thi luật thuế và phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan Bên cạnh đó, cơ quan thuế phối hợp với cơ quan kho bạc nhà nước để thu nộp thuế vào ngân sách nhà nước, đảm bảo nguồn lực cho ngân sách và cho sự phát triển kinh tế - xã hội. -**Support Pollinations.AI:**🌸 **Quảng cáo** 🌸 Tìm hiểu thêm về API miễn phí của Pollinations.AI – tối ưu hóa nội dung SEO hiệu quả! [Ủng hộ sứ mệnh của chúng tôi](https://pollinations.ai/redirect/kofi) để AI luôn phục vụ cộng đồng.
- Sáu là: Tổ chức thanh tra, kiểm tra thực hiện các luật thuế
+ Hệ thống thanh tra nhà nước, thanh tra tài chính, thanh tra thuế có quyền và trách nhiệm tổ chức công tác thanh tra về thuế