một bài viết bổ ích cho các bạn đang làm nghiên cứu
Trang 1Đề tài:
GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
NGÀNH ĐIỆN
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
Hà Nội, 04/2012
Trang 2Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chúng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong công trình nghiên cứu là trung thực xuất
phát từ thực tế nghiên cứu.
Tác giả công trình nghiên cứu
Trang 3Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Trang phụ bìa 3
PHẦN MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG I: HUY ĐỘNG VỐN CHO ĐẦU TƯ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 8
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH ĐIỆN THỜI GIAN QUA 39
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN CHO PHÁT TRIỂN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH ĐIỆN 64
Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận I 70
Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận II 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC I 87
PHỤ LỤC II 94
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
Với tất cả các nền kinh tế trên thế giới, năng lượng luôn được coi là nguồn “lương thực – thực phẩm sống còn” Với vai trò như vậy, trong năm qua, ngành năng lượng Việt Nam đã có những nỗ lực mạnh mẽ nhằm góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế.
Ngành điện là một ngành đặc biệt trong cơ sở hạ tầng ngoài tính chất
là ngành liên quan đến an toàn, an ninh năng lượng quốc gia và đến chính sách xã hội của Nhà nước, còn là ngành cung cấp yếu tố đầu vào không thể thiếu cho sản xuất công nghiệp và mọi hoạt động khác của xã hội Để đáp ứng tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhu cầu về điện là rất lớn, ngành điện phải đi trước một bước trong việc cung cấp điện, vì vậy vốn đầu tư cho ngành điện là rất lớn,
Ngành điện cũng vậy, nó đã trở thành yếu tố không thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân, tham gia phục vụ cho hầu hết các lĩnh vực từ sản xuất công nghiệp đến mọi hoạt động khác của xã hội Điện ra đời đã tạo động lực thúc đẩy cho mọi ngành kinh tế phát triển Do đó nếu thiếu điện sẽ gây ra sự đình trệ trong các hoạt động của nền kinh tế.Nhận thức được vai trò to lớn đó của ngành Điện nên ngay từ khi ra đời ngành Điện đã được chú trọng đầu tư phát triển
Tuy nhiên thực tế cho thấy ngành Điện hiện nay chưa cung cấp đủ điện phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng Ai cũng có thể nhận ra đó là do tốc độ phát triển của ngành điện hiện nay vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng điện ngày càng tăng của các doanh nghiệp và hộ gia đình Nhưng nguyên nhân của thực tế đó là gì? Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực tế đó, trong
đó phải kể đến nguyên nhân là ngành Điện chưa được đầu tư thoả đáng.
Trang 6Công tác huy động vốn còn chậm chạp và vấn đề sử dụng vốn còn nhiều bất cập
Nhận thức được thực tế này và mong muốn trong thời gian tới ngành Điện Việt Nam sẽ khắc phục được khó khăn và đáp ứng được nhu cầu điện
ngày càng cao của nền kinh tế, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “GIẢI
PHÁP HUY ĐỘNG VỐN CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH ĐIỆN”
Đề tài tập trung nghiên cứu khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp trong ngành điện không nghiên cứu khả năng này trong các doanh nghiệp nói chung.
Đề tài nghiên cứu vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nghiên cứu các vấn đề đặt trong mối quan hệ mật thiết với nhau đồng thời phối kết hợp với các phương pháp kỹ thuật như thống kê, đánh giá, kiểm chứng, kinh tế tổng hợp…
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được chia làm 3 chương:
Trang 7Chương I: Doanh nghiệp và huy động vốn cho đầu tư của các doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Chương II: Thực trạng huy động vốn đầu tư phát triển cho các doanh
nghiệp ngành điện thời gian qua
Chương III: Giải pháp huy động vốn cho phát triển trong các doanh
nghiệp ngành điện
Trang 8CHƯƠNG I: HUY ĐỘNG VỐN CHO ĐẦU TƯ CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. Doanh nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách tài
trợ của doanh nghiệp
1.1.1 Doanh nghiệp và các loại hình doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất,
cung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục đích sinhlời
Doanh nghiệp là thuật ngữ có nguồn gốc từ lĩnh vực kinh tế học Doanhnghiệp như một cái áo khoác (phương tiện) để thực hiện ý tưởng kinh doanh.Muốn kinh doanh, thương nhân phải chọn lấy cho mình một trong số nhữngloại hình mà pháp luật quy định
Về góc độ pháp lý, theo Khoản 1 Điều 4 Luật doanh nghiệp ban hànhngày 29 tháng 11 năm 2005 của Việt Nam, khái niệm về doanh nghiệp như
sau: "Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao
dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện ổn định các hoạt động kinh doanh "
Trên thực tế doanh nghiệp được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau: cửahàng, nhà máy, xí nghiệp, hãng,
Các loại hình doanh nghiệp:
∗Căn cứ vào hình thức pháp lý doanh nghiệp
Căn cứ vào Luật Doanh nghiệp 2005 thì hình thức pháp lý của các loạihình doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm:
Trang 9Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tựchịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanhnghiệp Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân.Trong hoạt động kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân tự chịu trách nhiệmbằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động Điều đó cũng có nghĩa là vềmặt tài chính, chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với cáckhoản nợ của doanh nghiệp.
Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên làchủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thànhviên hợp danh) Thành viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn
và uy tín nghề nghiệp và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình vềcác nghĩa vụ của công ty Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thànhviên góp vốn Các thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợcủa Công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào Công ty
Các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với khoản nợcủa công ty còn các thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về khoản nợ củacông ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty
Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạnhai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên)
− Công ty trách nhiệm có 2 thành viên trở lên: là doanh nghiệp
trong đó thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sảnkhác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanhnghiệp
− Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: là doanh nghiệp do
1 tổ chức hoặc 1 cá nhân làm chủ sở hữu (chủ sở hữu Công ty); chủ sở hữu
Trang 10chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trongphạm vi số vốn điều lệ của Công ty
Với cả hai hình thức doanh nghiệp này, chủ sở hữu doanh nghiệp chỉphải chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ và nghĩa vụ chính của doanh nghiệptrong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp Điều đó có nghĩa là khi số tàisản của doanh nghiệp không đủ để trả nợ thì chủ sở hữu không có nghĩa vụphải trả nợ thay cho doanh nghiệp
Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chiathành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổphần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản
nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào Công ty Cổđông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cho người khác,trừ trường hợp có quy định của pháp luật Giống như Công ty trách nhiệmhữu hạn, thành viên của Công ty cổ phần chỉ chịu trách nhiệm (hữu hạn) đốivới các khoản nợ của Công ty trong phạm vi phần vốn đã góp
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách tài trợ của doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp tồn tại dưới một hình thức pháp lý nhất định về tổchức doanh nghiệp Chính những hình thức này cũng ảnh hưởng đến chínhsách tài trợ của từng doanh nghiệp với từng loại hình cụ thể
- Công ty tư nhân
Tài sản của Công ty chủ yếu được đầu tư bằng vốn của Chủ doanhnghiệp Cũng có thể huy động thêm vốn từ bên ngoài thông qua hình thức đivay, tuy nhiên việc huy động vốn từ bên ngoài là rất hạn hẹp và doanh nghiệpkhông được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào để huy động vốn trên thịtrường Qua đó, cho thấy nguồn vốn của doanh nghiệp tư nhân là hạn hẹp,
Trang 11loại hình doanh nghiệp này thường thích hợp với việc kinh doanh quy mônhỏ.
Chủ doanh nghiệp tư nhân là người có toàn quyền quyết định đối với tất
cả hoạt động kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp, có quyền cho thuêdoanh nghiệp của mình, có quyền bán lại doanh nghiệp hay tạm ngừng hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp nhưng phải tuân theo quy định của phápluật Lợi nhuận sau thuế là tài sản hoàn toàn thuộc quyền sở hữu và sử dụngcủa chủ doanh nghiệp
- Công ty hợp danh
Nguồn vốn điều lệ của Công ty không phải chỉ do một cá nhân góp vốn
mà có tổng hợp nguồn vốn từ các thành viên hợp danh
Ngoài vốn điều lệ, Công ty hợp danh có quyền lựa chọn hình thức huyđộng vốn theo quy định của pháp luật, nhưng không được phát hành bất kỳloại chứng khoán nào để huy động vốn
- Công ty trách nhiệm hữu hạn
Trong công ty trách nhiệm hữu hạn có 2 thành viên trở lên: Phần vốngóp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định của pháp luật.Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân nhưng số lượng thành viên không quánăm mươi Quyền biểu quyết của các thành viên tương ứng với phần vốn góp.Lợi nhuận sau thuế thuộc về các thành viên của công ty, và việc phân phối docác thành viên quyết định, tương ứng với phần vốn góp Công ty Ngoài phầnvốn góp của thành viên, Công ty có quyền lựa chọn hình thức và cách thứchuy động vốn theo quy định của pháp luật, nhưng Công ty không được quyềnphát hành cổ phiếu
Đối với Công ty TNHH một thành viên phải xác định và cách biệt tài sảncủa chủ sở hữu và tài sản của Công ty: Chủ sở hữu Công ty phải tách biệt chi
Trang 12tiêu của cá nhân và gia đình mình với chi tiêu trên cương vị là Chủ tịch Công
ty và Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không đượcquyền phát hành cổ phiếu
- Công ty cổ phần
Trong công ty cổ phần, việc phân phối lợi nhuận sau thuế thuộc quyền quyết định của Đại hội đồng cổ đông Công ty Ngoài các hình thức huy động vốn thông thường, công ty cổ phần có thể phát hành các loại chứng khoán(cổ phiếu, trái phiếu) ra công chúng để huy động vốn nếu đủ tiêu chuẩn theo luật định
Công ty cổ phần có nguồn tài trợ đa dạng nhất Ngoài những nguồn tàitrợ giống như các loại hình Doanh nghiệp khác: Nguồn vốn trong (lợi nhuận
để lại, quỹ khấu hao tài sản cố định), Nguồn vốn ngoài (vay, góp vốn, thuê tàichính), Công ty cổ phần còn có thể huy động vốn trên thị trường tài chínhthông qua hoạt động phát hành cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp Đây làphương thức huy động vốn nhanh chóng, hiệu quả và linh động nhất, quy mônguồn vốn không bị hạn chế như đi vay hay vốn góp
Ngoài ra, còn rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến Chính sách này, như Đặcđiểm kinh tế - kỹ thuật của ngành kinh doanh và Môi trường kinh doanh.Thứ nhất, về đặc điểm ngành kinh doanh Một doanh nghiệp thường hoạtđộng trong một hoặc một số ngành kinh doanh nhất định Mỗi ngành kinhdoanh có những đặc điểm kinh tế - kỹ thuật riêng có ảnh hưởng không nhỏ tớichính sách tài trợ của một doanh nghiệp
- Những doanh nghiệp hoạt động trong ngành thương mại, dịch vụ thìvốn lưu động chiếm tỷ trọng cao hơn, tốc độ chu chuyển của vốn lưu độngcũng nhanh hơn so với các doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp và côngnghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng Ở các ngành này, vốn cố định thườngchiếm tỷ trọng cao hơn vốn lưu động, thời gian thu hồi vốn cũng chậm hơn
- Những doanh nghiệp sản xuất ra những loại sản phẩm có chu kỳ sảnxuất ngắn thì nhu cầu vốn lưu động giữa các thời kỳ trong năm thường không
Trang 13có biến động lớn, doanh nghiệp cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng,đảm bảo cân đối giữa thu và chi, đồng thời đảm bảo vốn cho nhu cầu kinhdoanh Ngược lại những doanh nghiệp hoạt động trong những ngành sản xuất
có tính thời vụ thì nhu cầu về vốn lưu động giữa các thời kỳ trong năm chênhlệch nhau rất lớn, giữa thu và chi bằng tiền thường không có sự ăn khớp vềthời gian Đó là điều phải tính đến trong việc đề ra các chính sách tài trợ,nhằm đảm bảo vốn kịp thời, đầy đủ cho hoạt động của doanh nghiệp cũngnhư đảm bảo cho sự phát triển vững bền của doanh nghiệp
Thứ hai, là Môi trường kinh doanh Doanh nghiệp tồn tại và phát triểntrong môi trường kinh doanh nhất định Môi trường kinh doanh bao gồm tất
cả những điều kiện bên trong và bên ngoài ảnh hưởng tới hoạt động củadoanh nghiệp: Môi trường kinh tế - tài chính, môi trường chính trị, môitrường luật pháp, môi trường công nghệ,… ta có thể tìm hiểu về một số tácđộng của môi trường tới chính sách tài trợ của doanh nghiệp như:
- Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế: cơ sở hạ tầng kinh tế (hệ thống giaothông, thông tin liên lạc, điện, nước, ) phát triển sẽ giảm bớt được nhu cầuvốn đầu tư của doanh nghiệp
- Tình trạng của nền kinh tế: nền kinh tế đang trên đà tăng trưởng sẽ kíchthích doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội đầu tư và khi đó nhu cầu vốn sẽ tăngtheo, các biện pháp huy động vốn được triển khai, vận dụng Ngược lại, nềnkinh tế đang trong tình trạng suy thoái thì doanh nghiệp khó có thể tìm được
cơ hội tốt để đầu tư
- Lãi suất thị trường: đây là yếu tố tác động rất lớn đến hoạt động tàichính của doanh nghiệp Lãi suất thị trường ảnh hưởng đến cơ hội đầu tư, chiphí sử dụng vốn và cơ hội huy động vốn của doanh nghiệp Mặt khác, lãi suấtcòn ảnh hưởng gián tiếp đến tình hình sản xuất của doanh nghiệp Lãi suất thịtrường tăng cao khiến người ta có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn tiêu dùng nênảnh hưởng đến việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Trang 14- Lạm phát: nền kinh tế có tỷ lệ lạm phát cao sẽ dẫn đến khó khăn trongquá trình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, nếu không áp dụng những biệnpháp kịp thời hiệu quả, doanh nghiệp sẽ đứng trước nguy cơ bị thất thoát vốn.
- Chính sách kinh tế và tài chính của nhà nước đối với doanh nghiệp: cácchính sách như chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách thuế,… ảnhhưởng trực tiếp tới quá trình huy động vốn của doanh nghiệp
- Mức độ cạnh tranh: nếu doanh nghiệp hoạt động trong những môitrường có mức độ cạnh tranh cao nhu cầu về vốn sẽ lớn hơn vì phải liên tụcđầu tư thay đổi trang thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm,…
- Thị trường tài chính và hệ thống các trung gian tài chính: hoạt động củacác doanh nghiệp gắn liền với thị trường tài chính, nơi mà doanh nghiệp cóthể huy động gia tăng vốn, đồng thời có thể đầu tư các khoản tài chính tạmthời nhàn rỗi để tăng thêm mức sinh lời của vốn hoặc có thể dễ dàng hơn thựchiện đầu tư dài hạn gián tiếp Sự phát triển của thị trường làm đa dạng hóa cáccông cụ và các hình thức huy động vốn cho doanh nghiệp, như các hình thứccho thuê tài chính, và sự hình thành, phát triển thị trường chứng khoán…
1.2 Đầu tư phát triển và nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển.
1.2.1 Khái niệm đầu tư
Đầu tư theo cách hiểu tổng quát nhất là quá trình bỏ vốn, nhằm mục đíchthu được hiệu quả trong tương lai Cho đến nay có nhiều cách hiểu và địnhnghĩa về đầu tư:
- Theo Samuelson , đầu tư được hiểu như sau:
- Đầu tư bao giờ cũng có nghĩa là tạo ra vốn tư bản thực sự - tăng thêmhàng hóa đưa vào tồn kho, hay xây dựng nhà máy, nhà cửa, công cụ mới,…Nếu đầu tư dưới hình thức mua cổ phiếu của một doanh nghiệp nào đó, mởmột tài khoản tiết kiệm, gửi tiền ngân hàng thì nhà kinh tế học cho rằng, hànhđộng đó không tạo ra vốn tư bản thực sự, chỉ làm thay đổi về thành phần tài
Trang 15sản của những người đã tiến hành những công việc nói trên Chỉ khi nào cótình hình tạo vốn tư bản bằng vật chất thì lúc đó mới có đầu tư.
- Trên góc độ làm tăng thu nhập trong tương lai, đầu tư được hiểu là: sự
hy sinh tiêu dùng trong hiện tại để tăng thêm tiêu dùng trong tương lai vì thunhập sẽ được tăng thêm
- Trên góc độ rủi ro của đầu tư, đầu tư được hiểu là: sự đánh bạc vềtương lai, với hi vọng rằng thu nhập hiện tại và tương lai sẽ lớn hơn chi phíhiện nay và mai sau
- Theo từ điển kinh tế học của hai tác giả người Anh là Chritopher Pass
- Theo từ điển quản lý tài chính Ngân hàng của một nhóm tác giả người
Pháp do Pierrce Conso đại diện: thì đầu tư gồm ba khái niệm tùy thuộc từng quan điểm.
- Theo quan điểm kinh tế, đầu tư là làm tăng vốn cố định, tham gia vàohoạt động của các doanh nghiệp trong nhiều chu kỳ kinh doanh nối tiếp Đó làquá trình làm tăng tài sản cố định về sản xuất và kinh doanh
- Theo quan điểm kế toán, khái niệm đầu tư gắn liền với việc phân bổcác khoản vốn đã bỏ ra vào trong các mục cố định, trong một thời gian nhấtđịnh, phục vụ cho công tác quản lý về kết quả đầu tư
- Theo quan điểm tài chính đầu tư là làm bất động hóa một số vốn, nhằmthu lợi nhuận trong nhiều thời kỳ nối tiếp sau này Khái niệm này cho biết,ngoài việc tạo các tài sản vật chất tham gia trực tiếp vào hoạt động của doanh
Trang 16nghiệp, còn bao gồm các khoản chi tiêu không tham gia ngay một cách trựctiếp vào hoạt động của các doanh nghiệp như các chi phí nghiên cứu đào tạonhân viên…
Các ý kiến trên về khái niệm đầu tư ,tuy có những khía cạnh khác nhau,nhưng đều tập trung vào khía cạnh đầu tư là tạo vốn tư bản thực sự, nhấnmạnh đến hình thái vật chất của đầu tư, trong đó chủ yếu là những tài sản cốđịnh và có những khoản đầu tư vô hình không gắn với hình thái vật chất cụthể (bằng sáng chế, phát minh, chi tiêu nghiên cứu đào tạo,…)
Từ các khái niệm nêu trên, ta ta có thể khái quát lại một số đặc trưng củađầu tư sau đây:
Đầu tư đòi hỏi nhu cầu về vốn lớn Sản phẩm của đầu tư có qui mô lớn,phải bỏ vốn trong thời gian dài hơn so với sản phẩm thông thường và cần mộtkhối lượng vốn đầu tư lớn, trong khi lợi nhuận thu về phải chờ đợi sau mộtthời gian nhất định Do vậy, các nhà đầu tư thường phải tiến hành vay vốn, vìvốn đầu tư có không đủ đáp ứng cho nhu cầu đầu tư Khi tiến hành vay vốn,ngoài việc phải trả giá vốn (lãi suất tiền vay), còn phải tìm được người chovay vốn Như vậy từ đặc trưng này của đầu tư cho ta biết: cần phải tiến hànhhuy động vốn theo hình thức và phương pháp phù hợp, nếu không ta sẽ làmkìm hãm đầu tư
Tóm lại, đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực hiện tại để tiến hành cáchoạt động nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn cácnguồn lực đã bỏ ra để thu được các kết quả đó.Các nguồn lực đó có thể là tàichính, tài nguyên thiên nhiên,sức lao động và trí tuệ.Các nguồn lực này được
sử dụng một cách hợp lý để tạo ra các kết quả tốt với một chi phí thấpnhất.Các kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm của các tài sản tài chính,tài
Trang 17sản vật chất ,tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực cao hơn có đủ điều kiện làmviệc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội.
Trong đầu tư có ba loại đầu tư chính
Đầu tư tài chính là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vayhoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi sất định trước hoặc lãi suất tùythuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của công ty phát hành Đầu tư tàichính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế mà chỉ tăng tài sản tài chínhcủa tổ chức, cá nhân đầu tư
Đầu tư thương mại là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra muahàng hóa và sau đó bán lại với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệchgiá khi mua và khi bán Loại đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới chonền kinh tế mà chỉ tăng tài sản tài chính của người đầu tư trong quá trình mua
đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa giữa người bán và người đầu
tư và người đầu tư với khách hàng của họ Không chính xác
Đầu tư phát triển trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạtđộng nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực cho nền sảnxuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác là điều kiện chủ yếu để tạoviệc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội Nói một cách cụthể hơn đầu tư phát triển là việc bỏ tiền ra để xây dựng,sửa chữa nhà cửa vàcác kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị, lắp đặt chúng trên nền bệ và bồidưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liềnvới sự hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và đào tạo tiềm lực mới cho nềnkinh tế xã hội
Do phạm vi nghiên cứu liên quan nên ở đây chỉ quan tâm đến loại đầu tưphát triển PHẢI đưa ra khái niệm theo quan niệm của người viết Em có thểđưa vào quan điểm trong cuốn luận văn cô cho mượn
Trang 18Đầu tư phát triển rất đa dạng và phong phú bao gồm các hoạt động đầu
tư phát triển hoạt động sản xuất, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng_kỹ thuật, đầu
tư phát triển văn hóa …xuất phát từ đặc trưng kỹ thuật của các hoạt độngtrong mỗi công cuộc đầu tư, đầu tư phát triển bao gồm các hoạt động chuẩn bịđầu tư, mua sắm các yếu tố đầu vào của quá trình đầu tư, thi công xây lắpcông trình, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản và xây lắp cơ bản khác cóliên quan đến sự phát huy tác dụng sau này của công cuộc đầu tư phát triển.Đối với nền kinh tế, đầu tư phát triển là việc đầu tư mà kết quả đầu tư sẽdẫn đến sự gia tăng sản lượng hàng hóa, dịch vụ và làm thay đổi cơ cấu kinh
tế xã hội của một quốc gia trong việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế
1.2.2 Phân loại đầu tư
Để huy động vốn đáp ứng cho nhu cầu đầu tư, cần phải tiến hành phânloại đầu tư Có một số cách phân loại thường gặp sau:
Một là, phân loại theo cơ cấu vốn đầu tư: Căn cứ vào cơ cấu vốn đầu tư
của doanh nghiệp có thể chia đầu tư của doanh nghiệp thành các loại:
- Đầu tư vào tài sản có hình thái vật chất cụ thể (máy móc, thiết bị, nhàxưởng )
Trang 19Đây là khoản đầu tư nhằm tạo ra TSCĐ của doanh nghiệp và thôngthường doanh nghiệp phải sử dụng một khoản vốn lớn để thực hiện đầu tư vềTSCĐ thông qua việc xây dựng và mua sắm.
- Đầu tư về vốn lưu động thường xuyên cần thiết:
Đây là khoản đầu tư để hình thành nên tài sản lưu động tối thiểu thườngxuyên cần thiết (nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu) đảm bảo cho quá trình sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành hoạt động bình thường Tùythuộc vào mô hình tổ chức nguồn vốn mà có thể đầu tư một phần hoặc toàn
bộ tài sản lưu động thường xuyên cần thiết tương ứng với một quy mô kinhdoanh nhất định
- Đầu tư góp vốn liên doanh dài hạn và đầu tư vào tài sản tài chính:
Đây là các khoản đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp Trong hoạt động sảnxuất kinh doanh của các doanh nghiệp có nhiều hình thức liên doanh liên kết.Trong đó có hình thức liên doanh dài hạn, các doanh nghiệp tham gia góp vốnsản xuất kinh doanh trong thời gian tương đối dài, chịu trách nhiệm chung vàphân chia lợi nhuận theo tỷ lệ tương ứng với phần đóng góp Liên doanh này
có thể thực hiện trong khuôn khổ một doanh nghiệp đã có sẵn, các tổ chức,doanh nghiệp khác góp vốn vào liên doanh với các doanh nghiệp đó hoặccũng có thể thực hiện liên doanh bằng cách cùng góp vốn để lập nên một đơn
vị kinh tế mới Ngoài việc tham gia liên doanh trong điều kiện nền kinh tếhàng hóa nhiều thành phần, các doanh nghiệp ở các thành phần kinh tế khác
có thể tham gia đầu tư vốn dài hạn vào các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tếkhác dưới hình thức mua cổ phần, mua trái phiếu dài hạn của các doanhnghiệp khác phát hành… Doanh nghiệp sẽ nhận được khoản thu nhập từ các
cổ phiếu, trái phiếu đã mua
Hai là, phân loại theo mục tiêu bao gồm:
- Đầu tư hình thành doanh nghiệp: bao gồm các khoản đầu tư ban đầu để
Trang 20- Đầu tư mở rộng quy mô kinh doanh: là toàn bộ các khoản đầu tư nhằm
mở rộng thêm các phân xưởng mới hay các đơn vị trực thuộc
- Đầu tư chế tạo sản phẩm mới: là khoản đầu tư cho nghiên cứu và pháttriển sản phẩm, tạo điều kiện phát triển lâu dài cho doanh nghiệp
- Đầu tư thay thế, hiện đại hóa máy móc: là khoản đầu tư thay thế hoặcđổi mới các trang thiết bị cho phù hợp với tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhằmduy trì hoặc tăng khả năng sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp
- Đầu tư ra bên ngoài: là sự đầu tư góp vốn thực hiện liên doanh dài hạnvới các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác, đầu tư về tài sản tài chính khác…Việc phân loại này giúp cho doanh nghiệp có thể kiểm soát được tìnhhình thực hiện đầu tư theo những mục tiêu nhất định mà doanh nghiệp đặt ratrong một thời kỳ và có thể tập trung vốn và biện pháp thích ứng để đạt đượcmục tiêu đầu tư đã đề ra
Ba là, phân loại theo phạm vi hoạt động đầu tư, bao gồm:
- Đầu tư trong nội bộ doanh nghiệp: là việc sử dụng vốn để đầu tư nhằm
mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư hiện đại hóa công nghệ kỹ thuật hiện cónhưng chủ thể quản lý là doanh nghiệp
Hoạt động đầu tư này hiện nay diễn ra chủ yếu trong các doanh nghiệpViệt Nam nhằm hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật để tăng năng suất laođộng, giảm giá thành
- Đầu tư ra ngoài doanh nghiệp : đây là hoạt động đầu tư mà DN sử dụngvốn để đầu tư vào các doanh nghiệp khác nhằm mở rộng quy mô hoạt độnghoặc đầu tư các tài chính nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận Hiện nay cácdoanh nghiệp Việt Nam đã và đang triển khai thực hiện mạnh hoạt động đầu
tư này
- Đầu tư ra nước ngoài: đây là hoạt động đầu tư mà các doanh nghiệp sửdụng vốn để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nhằm thành lập các Công ty tạinước ngoài Hoạt động đầu tư này sẽ thừa hưởng khoa học công nghệ cao và
Trang 21tiếp cận được kỹ năng quản lý của các doanh nghiệp nước ngoài Hiện nayhoạt động này chưa được phát triển do năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp Việt Nam kém, vốn hạn chế.
Bốn là, phân loại theo cách thức đầu tư, bao gồm:
- Đầu tư trực tiếp: là phương thức đầu tư trong đó người bỏ vốn trực tiếptham gia quản trị kinh doanh Có hai hình thức đầu tư trực tiếp, đó là:
+ Đầu tư dịch chuyển là hình thức đầu tư trong đó bỏ vốn mua lạimột số cổ phần đủ lớn để được quyền chi phối doanh nghiệp khác Trong hìnhthức đầu tư này chỉ có sự thay đổi về quyền sở hữu Tài sản được dịch chuyển
từ tay doanh nghiệp này sang tay doanh nghiệp khác, không có sự gia tăng tàisản của doanh nghiệp
+ Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư của doanh nghiệp mà kếtquả tạo dựng lên những năng lực mới (về lượng hay về chất) cho các hoạtđộng sản xuất, dịch vụ để làm phương tiện sinh lợi
- Đầu tư gián tiếp: là hoạt động đầu tư bằng cách mua các chứng chỉ cógiá như: Cổ phiếu – Trái phiếu … để hưởng lợi tức (giá trị đầu tư ở mức thấpkhông đủ điều kiện tham gia quản trị công tác kinh doanh của DN khác).Như vậy, đầu tư là một quá trình bỏ vốn, mang lại kết quả to lớn đối với
sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng và sự tăng trưởng và phát triển kinh
tế của cả quốc gia nói chung Tuy nhiên phải lựa chọn sao cho đúng đắn nhấtđối tượng và phương thức đầu tư vẫn luôn là bài toán nan giản của các nhàquản trị doanh nghiệp Bên cạnh đó là những khó khăn về huy động đượcnguồn vốn cho công tác đầu tư
1.2.3 Ý nghĩa của quyết định đầu tư dài hạn
Trang 22Đầu tư dài hạn là một trong những nhân tố chủ yếu quyết định đến sựphát triển của một doanh nghiệp cũng như của nền kinh tế quốc dân Bởi lẽ:
- Quyết định đầu tư dài hạn là quyết định chủ yếu tạo ra giá trị mới chodoanh nghiệp, là cơ sở gia tăng giá trị của doanh nghiệp
Đầu tư là yếu tố chủ yếu quyết định sự tăng trưởng của doanh nghiệp,là
cơ sở cho sự gia tăng giá trị của doanh nghiệp.Nếu mức rủi ro không thay đổithì việc thực hiện những dự án có tỷ suất sinh lợi cao hơn chi phí sử dụng vốn
sẽ làm gia tăng giá trị doanh nghiệp và ngược lại
- Mỗi quyết định đầu tư đều ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của doanhnghiệp trong một thời gian dài, phần lớn các quyết định đầu tư chi phối đếnquy mô kinh doanh, trình độ trang bị kỹ thuật, công nghệ của doanh nghiệp,
từ đó ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh, năng lực sản xuất, tiêu thụ sảnphẩm trong tương lai của một doanh nghiệp
- Quyết định đầu tư tác động đến tỷ suất sinh lời và rủi ro của doanhnghiệp trong tương lai: Quyết định này ảnh hưởng đến cơ cấu tài sản và từ đóảnh hưởng tới cơ cấu chi phí và rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp Việcchấp nhận một dự án lớn mang tính chiến lược sẽ làm thay đổi đáng kể mứclợi nhuận tương lai của doanh nghiệp và sự rủi ro gắn liền với việc tạo ra lợinhuận đó
- Về mặt tài chính, quyết định đầu tư dài hạn là quyết định tài chính dàihạn Thông thường, để thực hiện các quyết định đầu tư đòi hỏi phải sử dụngmột lượng vốn lớn Vì thế hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong tương laicủa doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào quyết định đầu tư ngày hôm nay Nếuquyết định đầu tư đúng sẽ góp phần nâng cao sức mạnh cạnh tranh, mở rộngthị trường tiêu thụ Tăng doanh thu và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp trongtương lai Ngược lại, quyết định đầu tư sai sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.Nếu đầu tư quá nhiều, không đúng hướng, hoặc đầu tư không đồng bộ sẽ dẫnđến tình trạng lãng phí vốn rất lớn, làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh
Trang 23nghiệp Nếu không nắm sát nhu cầu thị trường, đầu tư vốn quá ít sẽ làm chodoanh nghiệp không đủ khả năng sản xuất đáp ứng kịp thời các đơn đặt hàng,
từ đó có thể bị mất thị trường do không đủ sản phẩm để bán
- Sai lầm trong quyết định đầu tư dài hạn là sai lầm khó hoặc không sửachữa được và thường gây ra sự tổn thất có thể đe dọa sự tồn tại của doanhnghiệp
Quyết định đầu tư dài hạn là quyết định mang tính chiến lược của mộtdoanh nghiệp Nó quyết định đến tương lai của một doanh nghiệp Bởi lẽ, mỗiquyết định đầu tư đều ảnh hưởng lớn đến hoạt động của doanh nghiệp trongmột thời gian dài, nó chi phối quy mô kinh doanh, trình độ trang bị kĩ thuật,công nghệ của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến sản phẩm sản xuất, tiêu thụtrong tương lai của một doanh nghiệp
1.2.4 Nhu cầu vốn cho đầu tư
Vốn đầu tư là đầu vào vô cùng quan trọng của bất kỳ quá trình sản xuấtnào,là “chìa khoá” của sự phát triển, ở cả phạm vi Doanh nghiệp và phạm vinền KTQD Các chủ thể công nghiệp cần vốn để đầu tư thành lập mới,mởrộng quy mô, đổi mới công nghệ của các Doanh nghiệp hiện có và để tiếnhành các hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong điều kiện kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, vốnkhông chỉ là điều kiện đầu tiên đối với sự ra đời của doanh nghiệp mà nó còn
có vai trò quyết định đối với sự phát triển của doanh nghiệp đó Để biếnnhững ý tưởng và kế hoạch kinh doanh thành hiện thực, đòi hỏi phải có mộtlượng vốn nhằm hình thành nên những tài sản cần thiết cho hoạt động củadoanh nghiệp để đạt được mục tiêu đề ra
Do vậy, doanh nghiệp phải tổ chức tốt nguồn vốn và một vấn đề hết sứcquan trọng đặt ra là xác định nhu cầu vốn cho hoạt động đầu tư phát triển vàcân đối vốn Vì vậy khi quyết định đầu tư, cần phải cân đối nhu cầu vốn cho
Trang 24dự án đầu tư đó Chính điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải ước tính chitiết về các dòng tiền dự kiến đạt được từ các dự án đầu tư của mình.
Nhu cầu vốn ban đầu cho hoạt động đầu tư (đầu tư thuần) có thể baogồm: Giá trị tài sản sau khi lắp đặt; Các nhu cầu vốn luân chuyển; Giá trịchứng khoán sẽ mua được Các chi phí khác phát sinh đến hoạt động đầu tư;Giá trị các khoản chi vì mục đích phát triển (quảng cáo, đào tạo…)
Việc xác định chính xác giá trị thuần đầu tư của dự án đầu tư phát triển
là một chi tiêu quan trọng xác định nhu cầu vốn cho đầu tư Việc xác định nhucầu vốn cho đầu tư phát triển có vai trò quan trọng trong doanh nghiệp Bởilẽ:
+ Việc xác định đúng đắn nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển là cơ sở đểhoạch định chiến lược đầu tư ngắn hạn, trung hạn và dài hạn và cũng là tiền
đề để thực hiện cải tạo, nâng cấp, hiện đại hóa cơ sở vật chất hiện có, áp dụngkhoa học kỹ thuật hiện đại để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm hànghóa
+ Xác định nhu cầu vốn đầu tư là cơ sở để doanh nghiệp lựa chọn kênhhuy động vốn cho hoạt động đầu tư
+ Là một trong những chỉ tiêu đánh giá khả năng tái sản xuất mở rộngcủa doanh nghiệp, đánh giá quy mô của doanh nghiệp làm tiền đề thu hút vốnđầu tư của các đối tượng khác như: các ngân hàng, tổ chức tài chính – tíndụng…
1.2.5 Đặc điểm của nguồn vốn đầu tư phát triển
- Thứ nhất, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp đòi hỏi quy mô lớn thu hồi trong thời gian dài
Thông thường quyết định đầu tư phát triển là những quyết định đầu tư cótính chất chiến lược, không chỉ nhằm cải tiến đổi mới cơ sở vật chất kỹ thuật– công nghệ mà còn nhằm phục vụ mục đích thay đổi cải thiện toàn bộ điều
Trang 25kiện về sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô phát triển của doanh nghiệp.
Để thực hiện mục tiêu đó, doanh nghiệp phải ứng ra ngay một lượng vốn lớn
ở ngày hôm nay Do đó, cần thiết phải có một số lượng vốn lớn và dài hạn.Việc thu hồi vốn thường chỉ được thu hồi dần trong một thời gian dài ởtương lai Xem xét đầu tư phát triển trên giác độ khác nhau có thể thấy rằng:
+ Đầu tư phát triển xét trên giác độ tài sản là nhằm đổi mới hiệnđại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, mở rộng quy mô hoạt động của doanh nghiệp
và luôn luôn gắn với những tài sản hữu hình và vô hình giá trị lớn và thu hồivốn dần qua các năm
+ Đầu tư phát triển xét trên giác độ phát triển doanh nghiệp là việcgóp vốn để thành lập doanh nghiệp mới, cũng phải sử dụng vốn đó để muasắm trang thiết bị… và phần này chỉ được thu hồi từ lợi nhuận mang lại,những khoản đầu tư này có thể là đầu tư dài hạn: 10, 20, 30, 50 năm hoặc lâuhơn nữa…
+ Đầu tư phát triển xét trên giác độ hẹp và đơn giản thì cũng có thểthu hồi vốn trong một thời gian ngắn như: Đầu tư nâng cao trình độ và kỹnăng quản lý của cán bộ công nhân viên thì nó được thu hồi ngay trong nămhoặc trong một vài năm
Tuy nhiên về tổng quan, vốn cho đầu tư phát triển chủ yếu được thu hồitrong thời gian dài, giá trị của tài sản được hình thành từ vốn đầu tư dịchchuyển dần vào giá trị sản phẩm hàng hóa dịch vụ sản xuất ra
- Thứ hai, Vốn đầu tư phát triển là vốn đầu tư dài hạn
Trang 26Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự án đến khi dự án hoànthành và đưa vào hoạt động Nhiều công trình đầu tư phát triển có thời gianđầu tư kéo dài hàng chục năm Do vốn nằm khê đọng trong suốt quá trìnhthực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, cần tiến hành phân kỳđầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạngmục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, khắc phục tình trạngthiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
- Thứ ba, vốn đầu tư phát triển có tính rủi ro cao
Đầu tư là hy vọng ở tương lai Trong khi đó tương lai là điều không chắcchắn và ẩn chứa nhiều biến số bất định Những lợi ích mà hoạt động đầu tưđưa lại chịu nhiều tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô cũng như các yếu tố
vi mô Chính vì thế, doanh nghiệp thực hiện đầu tư luôn phải đối mặt với rủi
ro Đề cập đến vấn đề này, nhà kinh tế học nổi tiếng Paul A.Samuelson đã chorằng đầu tư là đánh bạc với tương lai
Hiệu quả đầu tư là lợi ích thu được trong thời gian dài ở tương lai Vềmặt tài chính, lợi ích của đầu tư là dòng tiền thu được do dự án thu được trongthời gian dài ở tương lai Điều đó cũng làm cho việc đánh giá hiệu quả củađầu tư là vấn đề khó khăn, không đơn giản
Quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và thời gian vận hành cáckết quả đầu tư cũng kéo dài… cũng là nguyên nhân mức độ rủi ro của hoạtđộng đầu tư phát triển thường cao Rủi ro đầu tư do nhiều nguyên nhân, trong
đó, có nguyên nhân chủ quan từ phía các nhà đầu tư như quản lý kém, chấtlượng sản phẩm không đạt yêu cầu… có nguyên nhân khách quan như giánguyên liệu tăng, giá bán sản phẩm giảm, công suất sản xuất không đạt côngsuất thiết kế…
Trang 271.3 Nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp
Vốn là điều kiện tiên quyết không thể thiếu được để thành lập một DN
và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Sự phát triển nhanh chóngcủa nền kinh tế thị trường và thị trường tài chính sẽ sớm tạo điều kiện để các
DN mở rộng khả năng thu hút vốn vào kinh doanh Có nhiều nguồn vốn khácnhau để doanh nghiệp có thể lựa chọn để phục vụ cho hoạt động của doanhnghiệp mình bao gồm cả nguồn vốn bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
1.3.1 Nguồn vốn huy động bên trong doanh nghiệp
- Nguồn vốn bên trong:
Nguồn vốn bên trong là nguồn vốn có thể duy động được vào đầu tư từchính hoạt động của bản thân doanh nghiệp tạo ra Nguồn vốn bên trong thểhiện khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp
- Nguồn vốn bên trong mà doanh nghiệp huy động để ĐTPT bao gồm:
+ Vốn góp ban đầu của chủ sở hữu (CSH): Đây là số vốn ban đầu
do các thành viên sáng lập đóng góp và được ghi vào trong điều lệ của doanhnghiệp Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn chủ sở hữu sẽ tăng hoặcgiảm phụ thuộc vào kết quả kinh doanh và chiến lược huy động vốn củadoanh nghiệp
Ngoài nguồn vốn đầu tư ban đầu khi thành lập doanh nghiệp, trong quátrình tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp vẫn phảitiếp tục thực hiện các hoạt động đầu tư dài hạn nhằm thay thế các tài sản cốđịnh (TSCĐ) khi đã hư hỏng hoặc lạc hậu Bên cạnh đó, để đáp ứng nhu cầuđầu tăng trưởng, mở rộng kinh doanh, các doanh nghiệp cũng cần phải bổsung vốn đầu tư dài hạn vào các TSCĐ và tài sản lưu động
Khi đó doanh nghiệp có thể huy động từ vốn bổ sung thêm do chủ sởhữu góp thêm hoặc do tăng vốn từ lợi nhuận sau thuế không chia (hay lợinhuận để lại tái đầu tư)
+ Lợi nhuận để lại tái đầu tư:
Trang 28Về nguyên tắc lợi nhuận sau thuế thuộc sở hữu của các cổ đông Vàocuối năm tài chính, thông thường cổ đông sẽ được nhận cổ tức thừ thu nhậpsau thuế Tuy nhiên, trong một số trường hợp các cổ đông sẽ đồng ý chodoanh nghiệp giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư mà không nhận cổ tức.
Lợi nhuận để lại tái đầu tư là nguồn vốn tích lũy được do hiệu quả sảnxuất kinh doanh mang lại đáp ứng nhu cầu đầu tư tăng trưởng của doanhnghiệp Như vậy lợi nhuận để lại tái đầu tư là cơ sở để doanh nghiệp tái sảnxuất mở rộng, nguồn vốn này là cơ sở để đánh giá hiệu quả phát triển củadoanh nghiệp
+ Nguồn vốn khấu hao tài sản cố định:
Tài sản cố định (TSCĐ) trong quá trình sử dụng chịu sự tác động củahao mòn hữu hình và hao mòn vô hình Chính vì vậy hàng năm, doanh nghiệpkhai trích khấu hao và tiền khấu hao được tích lũy lại nhằm tạo thành một quỹkhấu hao dùng để tái sản xuất giản đơn TSCĐ hay đầu tư lại tài sản đó khi đãhết hạn sử dụng Tuy nhiên do thời gian sử dụng của các TSCĐ thường rấtdài, phải sau nhiều năm mới cần thay thế đổi mới Vì vậy, khi chưa có nhucầu thay thế TSCĐ cũ, các doanh nghiệp có thể sử dụng số tiền khấu hao đó
để đáp ứng nhu cần đầu tư tăng trưởng của mình
+ Nguồn vốn bên trong khác, như tiền nhượng bán tài sản vật tưkhông cần dùng, hoặc khoản thu nhập ròng về thanh lý tài sản cố định để đápứng nhu cầu nguồn vốn đầu tư dài hạn của mình
Nguồn vốn bên trong có ưu điểm: Doanh nghiệp có thể chủ động sửdụng nguồn vốn này để đáp ứng nhu cầu phát triển của doanh nghiệp màkhông phải trả chi phí cho việc sử dụng vốn, và giữ được quyền kiểm soát đốivới doanh nghiệp
Tuy nhiên việc sử dụng nguồn vốn bên trong cũng bộc lộ những hạn chếnhất định: Nguồn vốn này thường bị hạn chế về quy mô nên không đáp ứngđược mọi nhu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh, mặt khác việc sử dụngnguồn vốn này không chịu sức ép về chi phí sử dụng vốn và có thể thiếu kiểm
Trang 29tra, giám sát, hoặc tư vấn của các chuyên gia, các tổ chức như trong sử dụngnguồn vốn đi vay, do đó có hiệu quả sử dụng vốn không cao hoặc có thể sẽ cónhững quyết định đầu tư không khôn ngoan.
1.3.2 Nguồn vốn huy động bên ngoài doanh nghiệp
Ngoài các hình thức vốn đầu tư ban đầu của chủ doanh nghiệp thì doanhnghiệp còn một loại vốn mà vai trò của nó khá quan trọng, đặc biệt trong nềnkinh tế thị trường đó là vốn huy động Để đạt được số vốn cần thiết cho một
dự án, công trình hay một nhu cầu thiết yếu của doanh nghiệp mà đòi hỏitrong một thời gian ngắn nhất mà doanh nghiệp không đủ số vốn còn lại trongdoanh nghiệp thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự liên doanh liên kết, pháthành trái phiếu hay huy động các nguồn vốn khác dưới hình thức vay nợ haycác hình thức khác
Trang 30Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường vay dài hạn ngânhàng để đảm bảo các nguồn tài chính cho các dự án đầu tư mới, mở rộng hoặcđầu tư chiều sâu của doanh nghiệp Theo tính chất và mục đích sử dụng tiềnvay, có thể phân chia thành vay dài hạn ngân hàng thành các loại: Vay đầu tưtài sản cố định, vay hình thành vốn lưu động thường xuyên.
Vay vốn đầu tư của Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác
là phương thức huy động nguồn vốn dài hạn của các doanh nghiệp Việt Nam
áp dụng phổ biến nhất từ trước đến nay
Hệ thống ngân hàng của Việt Nam hiện nay khá đa dạng và phong phúbao gồm: 5 ngân hàng trực thuộc nhà nước, 5 ngân hàng liên doanh, 35 ngânhàng thương mại cổ phần và 23 chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại ViệtNam, đáp ứng được phần nào nhu cầu về vốn của các DN
Nguồn vốn tín dụng ngân hàng có những ưu điểm sau:
Trang 31Một là, góp phần tăng nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp, đáp ứngnhu cầu đầu tư.
Hai là, không làm mất quyền quản lý, quyền kiểm soát đối với doanhnghiệp
- Doanh nghiệp phải chịu sự kiểm soát của ngân hàng đối vớiviệc huy động và sử dụng tiền vay, và chi phí sử dụng vốn (lãi suất vay)
- Việc huy động nguồn vốn vay dài hạn của doanh nghiệp từ cácngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính tín dụng khác như (các cộng tytài chính, công ty bảo hiểm, quỹ hỗ trợ phát triển, v.v…) cũng chỉ có giới hạnnhất định Do các tổ chức này cũng là người đi vay rồi cho vay vốn Thêmvào đó Các ngân hàng thương mại thường đặt trọng tâm vào thị trường tíndụng ngắn hạn Hiện nay cho vay ngắn hạn chiếm tỉ trọng trên 70% tổng hạnmức tín dụng của ngân hàng, phần còn lại là cho vay trung và dài hạn ; Cònvới các tổ chức tài chính tín dụng khác lại chịu sự hạn chế về vốn điều lệ hoặc
sự giới hạn của luật pháp về phạm vi huy động vốn ; Vì vậy quy mô nguồnvốn tín dụng mà doanh nghiệp có thể huy động từ các tổ chức tài chính tíndụng này còn nhiều hạn chế
Trong điều kiện đó, các doanh nghiệp có thể tính tới khả năng huy độngvốn vay dài hạn khác trên thị trường thông qua phát hành trái phiếu doanhnghiệp (hay trái phiếu công ty) hoặc sử dụng thuê tài chính
Trang 32
•Nguồn vốn tín dụng thuê mua
Trong hoạt động kinh doanh, tín dụng thuê mua là một phương thức giúpcho các doanh nghiệp thiếu vốn vẫn có được tài sản cần thiết sử dụng vàohoạt động sản xuất kinh doanh của mình Đây là phương thức tài trợ thôngqua hợp đồng thuê giữa người cho thuê và doanh nghiệp Người thuê sử dụngtài sản và phải trả tiền thuê cho người thuê theo thời hạn mà hai bên đã thoảthuận, người cho thuê là người sở hữu tài sản
Tín dụng thuê mua có hai phương thức giao dịch chủ yếu là thuê vậnhành và thuê tài chính Trong đó thuê tài chính được coi là hình thức huyđộng vốn trung và dài hạn
* Thuê tài chính:
Một trong những giải pháp tài trợ quan trọng cho việc mua các tài sảncủa doanh nghiệp đó là thuê tài chính Thuê tài chính, còn gọi là thuê vốn làphương thức tài trợ tín dụng trung và dài hạn không thể hủy ngang Theophương thức này, người cho thuê thường mua tài sản, thiết bị theo yêu cầungười thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê Người thuê sửdụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn đã thỏa thuận, vàkhông được phép hủy bỏ hợp đồng trước hạn Khi kết thúc thời hạn thuê, bênthuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc trực tiếp thuê tài sản đó tùytheo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê
Thông thường, trong khoản tiền thuê mà người thuê trả cho người chothuê theo định kì bao gồm tiền vốn gốc, tiền lãi tín dụng, chi phí quản lí vàphần lợi nhuận hợp lý Do vậy nếu xét theo góc độ người thuê thì thuê tàichính là một hình thức vay trung hạn hoặc dài hạn; còn theo góc độ người chothuê, thì đây là hình thức tài trợ tín dụng
Đối với các doanh nghiệp sử dụng thuê tài chính có những điểm lợi chủyếu:
- Sử dụng hình thức thuê tài chính giúp cho doanh nghiệp không phảihuy động tập trung tức thời một lượng vốn lớn để mua tài sản
- Sử dụng phương thức thuê tài chính giúp doanh nghiệp (nhất là cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ) có thể dễ dàng huy động và sử dụng vốn vay
Trang 33- Sử dụng thuê tài chính giúp doanh nghiệp thực hiện nhanh chóng dự ánđầu tư, nắm bắt các thời cơ trong kinh doanh.
- Giúp doanh nghiệp đi thuê nhanh chóng đổi mới thiết bị công nghệ.Bên cạnh đó hoạt động huy động vốn bằng thuê tài chính cũng có không
về tài sản (sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự kết thúc chu kỳ sống của sảnphẩm), về sự biến động của cơ chế chính sách của nhà nước
Như vậy, việc sử dụng công cụ thuê tài chính sẽ tạo điều kiện thuận lợicho doanh nghiệp thực hiện đổi mới máy móc thiết bị, mở rộng quy mô sảnxuất, tận dụng được cơ hội kinh doanh nhằm gia tăng giá trị doanh nghiệp.Tuy nhiên, việc thuê mua tài chính cũng có bất lợi lớn khi giá trị thuê mua cấuthành trong chi phí lớn (đặc biệt chi phí sử dụng vốn) sẽ làm tăng giá thànhsản phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
1.3.2.1 Nguồn vốn góp liên doanh, liên kết:
Đây là hình thức doanh nghiệp kêu gọi vốn góp liên doanh từ bên ngoài,đầu tư vốn vào doanh nghiệp mình để cùng nhau thực hiện một kế hoạch kinhdoanh hoặc một dự án cụ thể có tính khả thi Huy động vốn liên doanh, liênkết là hình thức huy động vốn trung và dài hạn khá phổ biến trong nền kinh tếthị trường
Trong hình thức liên doanh các doanh nghiệp tham gia góp vốn sản xuấtkinh doanh trong thời gian tương đối dài , chịu trách nhiệm chung và phânchia lợi nhuận theo tỷ lệ tương ứng với phần đóng góp Liên doanh này có thểthực hiện trong khuôn khổ một doanh nghiệp đã có sẵn, các tổ chức, doanhnghiệp khác góp vốn vào liên doanh với doanh nghiệp đó hoặc cũng có thểthực hiện liên doanh bằng cách cùng góp vốn để lập nên một đơn vị kinh tếmới Hình thức liên doanh, liên kết có thể được chia ra làm hai trường hợp
Trang 34chủ yếu đó là: Liên doanh để thu hút vốn đầu tư nhằm mở rộng sản xuất vàLiên doanh nhằm khai thác tối đa lợi thé của các bên liên doanh.
Tóm lại, việc huy động vốn liên doanh, liên kết với các doanh nghiệpkhác về bản chất cũng là một kênh huy động vốn của doanh nghiệp để thựchiện đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật Doanh nghiệp có thể liêndoanh với các loại hình doanh nghiệp khác nhau như Doanh nghiệp Nhànước, Doanh nghiệp tư nhân hoặc với các công ty nước ngoài Với hình thứcnày, doanh nghiệp không chỉ huy động đủ số vốn cho hoạt động kinh doanhcủa mình mà còn thu hút được công nghệ mới hoặc kinh nghiệm của các đốitác, đồng thời chia sẻ rủi ro trong kinh doanh
1.3.2.2 Nguồn vốn trên Thị trường chứng khoán
Thông qua thị trường chứng khoán, doanh nghiệp có thể huy động đươc jmột số lượng vốn nhàn rỗi lớn trong dân cư để phục vụ đầu tư dài hạn đápứng nhu cầu đầu tư phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật mới.Khi thị trường chứng khoán càng phát triển, các công cụ huy động vốn càngtrở nên phong phú, đa dạng, doanh nghiệp có thể huy động vốn bằng các công
cụ tài chính như: Cổ phiếu, Trái phiếu, Cổ phiếu ưu đãi, chứng chỉ quỹ đầu tưchứng khoán,…
•Huy động vốn từ phát hành cổ phiếu thường
Để đáp ứng nhu cầu tăng vốn mở rộng kinh doanh , doanh nghiệp có thểlựa chọn phương pháp huy động tăng vốn bằng cách phát hành thêm cổ phiếuthường Các nhà đầu tư dựa trên những thông tin của doanh nghiệp, và thôngtin của các Công ty chứng khoán, tư vấn chứng khoán để quyết định lựa chọnđầu tư Việc phát hành cổ phiếu làm vốn của doanh nghiệp chỉ áp dụng đốivới các Công ty cổ phần, còn các doanh nghiệp khác không áp dụng đượchình thức này
Cổ phiếu là chứng chỉ thể hiện quyền sở hữu của cổ đông trong công ty
cổ phần và cho phép cổ đông được hưởng những quyền lợi của Công ty
Trang 35Cổ phiếu thường là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu trong công ty và
cho phép người sở hữu nó được hưởng các quyền lợi thông thường trong công
Bên cạnh những điểm lợi kể trên phương pháp huy động tăng vốn nàycũng bộc lộ những điểm hạn chế nhất định Do cổ phiếu mới phát hành chủyếu được phân phối trong phạm vi các cổ đông hiện hành của công ty, vì vậyviệc phát hành thêm cổ phiếu mới để tăng vốn này ít làm tăng tính thanhkhoản của cổ phiếu công ty Mặt khác, với việc bán cổ phần mới cho cổ đônghiện hành với giá thấp hơn giá thị trường đã làm cho quy mô nguồn vốn cóthể huy động được là thấp hơn so với hình thức chào bán công khai trên thịtrường
- Phát hành rộng rãi cổ phiếu mới ra công chúng
Với hình thức phát hành này Công ty tăng được vốn đầu tư dài hạn,nhưng công ty không có nghĩa vụ bắt buộc phải trả lợi tức cố định như sửdụng vốn vay; việc phát hành thêm cổ phiếu thường ra công chúng làm tăngthêm vốn chủ sở hữu của công ty, trên cơ sở đó càng làm tăng thêm khả năngvay vốn và mức độ tín nhiệm cho doanh nghiệp Trong một số trường hợp, cổphiếu thường được bán ra dễ dàng hơn so với cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu dài
Trang 36mức lợi tức cao hơn so với mức lợi tức cố định của cổ phiếu ưu đãi và tráiphiếu.
Bên cạnh những lợi thế kể trên, việc phát hành rộng rãi cổ phiếu thường
ra công chúng để huy động tăng vốn kinh doanh cũng có thể đưa lại cho Công
ty những điểm bất lợi sau:làm tăng thêm cổ đông của Công ty dẫn đến việcphải phân chia quyền biểu quyết, quyền kiểm soát Công ty, cũng như quyềnphân phối thu nhập cao cho các cổ đông mới Chi phí phát hành cổ phiếuthường cao hơn so với chi phí phát hành trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi; Chi phí
sử dụng cổ phiếu cao hơn so với chi phí sử dụng trái phiếu, do ở nhiều nước,lợi tức cổ phần không được tính trừ vào thu nhập chịu thuế, còn lợi tức tráiphiếu hay lợi tức tiền vay được tính trừ vào thu nhập chịu thuế Việc pháthành thêm cổ phiếu làm tăng số cổ phiếu đang lưu hành, tác động tiêu cực đếngiá cổ phiếu của công ty trên thị trường, trong thường hợp Công ty sử dụngvốn kém hiệu quả, hoạt động kinh doanh của Công ty bị sa sút…
- Phát hành cổ phiếu mới bằng việc chào bán cho người thứ ba
Theo quy định của nhiều quốc gia, hoặc điều lệ của nhiều Công ty cổphần cho phép, nếu được sự tán đồng của Đại hội đồng cổ đông, Công ty cóthể phát hành thêm cổ phiếu mới với việc dành quyền mua cổ phiếu chongười thứ ba là những người có quan hệ mật thiết với Công ty như người laođộng trong Công ty, các đối tác kinh doanh, các định chế tài chính Phát hành
cổ phiếu theo phương pháp này vừa giúp Công ty tăng được vốn kinh doanh,vừa tạo sự gắn bó chặt chẽ hơn giữa Công ty và những người thường xuyên
có quan hệ với Công ty
•Huy động vốn từ việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Một trong những công cụ cho phép doanh nghiệp sử dụng để vay vốn dài
hạn qua thị trường đáp ứng nhu cầu tăng vốn kinh doanh cũng như cho đầu tưphát triển là trái phiếu doanh nghiệp
Trái phiếu doanh nghiệp là một loại chứng khoán nợ do DN phát hành,
xác nhận nghĩa vụ trả cả gốc và lãi của DN phát hành đối với người sở hữu
Trang 37trái phiếu Doanh nghiệp là người phát hành và với tư cách là người đi vay.Thông qua việc sử dụng trái phiếu, doanh nghiệp có thể thực hiện vay vốntrung hạn và dài hạn qua thị trường với một khối lượng lớn
Ưu điểm của hình thức huy động vốn qua phát hành trái phiếu Doanhnghiệp: lợi tức trái phiếu được trừ vào thu nhập chịu thuế khi tính thuế thunhập doanh nghiệp, nên chi phí sử dụng trái phiếu thấp hơn so với cổ phiếuthường và cổ phiếu ưu đãi Trái phiếu có mức độ rủi ro là thấp nhất nên chiphí phát hành trái phiếu thấp hơn so với cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi.Lợi tức trái phiếu được giới hạn ở mức độ nhất định, xác định trước vàthường thấp hơn lợi tức cổ phiếu ưu đãi Chủ sở hữu doanh nghiệp không bịchia sẻ quyền quản lí và kiểm soát doanh nghiệp cho các trái chủ Bên cạnh
đó huy động vốn bằng phát hành trái phiếu còn giúp doanh nghiệp chủ độngđiều chỉnh cơ cấu vốn một cách linh hoạt
Nhược điểm của hình thức huy động vốn này: buộc phải trả lợi tức cốđịnh cũng như vốn gốc đúng hạn gây bất lợi nếu lợi nhuận của công ty không
ổn định, bấp bênh, doanh nghiệp không đủ nguồn tài chính để trang trải lợitức, vốn gốc trái phiếu khi đến hạn thanh toán Tăng hệ số nợ, tăng rủi rothanh toán cho doanh nghiệp, việc sử dụng trái phiếu để tài trợ nhu cầu tăngvốn của doanh nghiệp cũng có giới hạn nhất định, các doanh nghiệp khôngthể để hệ số nợ vượt quá xa mức thông thường của các doanh nghiệp trongcùng ngành kinh doanh
•Huy động vốn từ phát hành cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu ưu đãi là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu trong Công ty cổ
phần, đồng thời cho phép người nắm giữ loại cổ phiếu này được hưởngmột số quyền lợi ưu đãi hơn so với cổ đông thường
Cổ phiếu ưu đãi ngày càng phát triển phong phú, đa dạng về chủng loại.Tuy nhiên, cổ phiếu ưu đãi phổ biến thường được sử dụng là loại có lợi tức cố
Trang 38định, được ưu tiên nhận cổ tức và thanh toán khi giải thể Công ty và không cóquyền biểu quyết Với các đặc trưng như vậy, cổ phiếu ưu đãi được coi như làmột loại chứng khoán lai ghép giữa cổ phiếu thường và trái phiếu.
Cổ phiếu ưu đãi là một phương tiện quan trọng của công ty cổ phầntrong việc huy động vốn mở rộng sản xuất kinh doanh Việc sử dụng cổ phiếu
ưu đãi để đáp ứng nhu cầu tăng vốn của Công ty có những điểm lợi chủ yếu:không bắt buộc phải trả lợi tức cố định đúng hạn, điều này giúp công ty tránhkhỏi nguy cơ phá sản khi hoạt động kinh doanh đang gặp khó khăn, công tykhông có khả năng trả cổ tức đúng hạn; Có khả năng làm tăng lợi tức cổ phầnthường khi Công ty có triển vọng thu được lợi nhuận cao hơn trong hoạt độngkinh doanh; Giúp công ty tránh được việc chia sẻ quyền quản lý và kiểm soátdoanh nghiệp cho các cổ đông mới; Công ty không phải cầm cố thế chấp tàisản, cũng như lập quỹ thanh toán vốn gốc
Bên cạnh những điểm lợi kể trên, việc sử dụng cổ phiếu ưu đãi cũng cónhững điểm bất lợi đối với công ty phát hành: Lợi tức cổ phiếu ưu đãi cao hơnlợi tức trái phiếu khiến cho mức độ rủi ro đối với người đầu tư vào cổ phiếu
ưu đãi; Lợi tức cổ phiếu ưu đãi không được trừ vào thu nhập chịu thuế củacông ty nên chi phí sử dụng sẽ cao hơn so với trái phiếu
Như vậy, nguồn vốn và kênh huy động vốn cho đầu tư phát triển là rất đadạng phong phú Tại Việt Nam, các kênh huy động vốn về cơ bản đã có đầy
đủ nhưng việc sử dụng các công cụ này vẫn còn quá ít và chưa thực sự tạoniềm tin cho các nhà đầu tư cũng như tạo cơ hội cho các doanh nghiệp huyđộng vốn
Trang 39CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH ĐIỆN THỜI GIAN QUA
2.1.1 Vai trò của ngành điện đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân
Năng lượng (trong đó có điện năng) có vai trò vô cùng quan trọng trong
sự phát triển của mỗi Quốc gia Năng lượng là một trong các nhu cầu thiếtyếu đối với sinh hoạt của nhân dân và cũng chính là yếu tố đầu vào không thểthiếu của rất nhiều ngành kinh tế khác, có tác động ảnh hưởng không nhỏ đếncác hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
Một nền kinh tế phát triển phải gắn với sự phát triển của ngành nănglượng quốc gia, nhằm đảm bảo cung cấp đủ nguồn điện cho các hoạt động sảnxuất, kinh doanh và phát triển kinh tế Việt Nam cũng không nằm ngoài quyluật đó, khi ngành điện luôn được coi là một ngành then chốt, trọng điểm vànhận được rất nhiều sự quan tâm của Nhà nước Trong những năm vừa qua,tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện của Việt Nam ngày càng cao và có xu hướnggấp đôi tốc độ tăng trưởng GDP, điều đó cho thấy VN đang trên đà phát triể nngày càng mạnh mẽ
Tuy nhiên, sự tăng trưởng cao cũng đặt ra bài toán cần có một chiến lượclâu dài ổn định, bởi vì ở nước ta năng lực cầu về điện cao nhưng năng lựccung cấp vốn còn hạn chế, điển hình là những vẫn đề còn tồn tại về vốn đầutư
Bất kỳ sản phẩm nào sản xuất ra đều nhằm đáp ứng một nhu cầu sảnxuất hay tiêu dùng nào đó Riêng đối với ngành điện lại có vai trò vô cùng tolớn, nó được sản xuất ra để phục vụ hầu hết các lĩnh vực sản xuất và một phần
Trang 40đáp ứng nhu cầu tiêu dùng điện sinh hoạt cho đời sống nhân dân Ngày nayđiện đã trở thành nhân tố không thể thiếu đối với đời sống xã hội Từ khi điện
ra đời,các dụng cụ lao động dần chuyển sang sử dụng điện Khi khoa họcngày càng phát triển đã chế tạo ra nhiều công cụ lao động sử dụng điện hơn,giải phóng sức lao động Do đó nhu cầu sử dụng điện ngày càng lớn Tất cảcác ngành,các lĩnh vực của nền KTQD đều cần sự phục vụ của điện.Côngnghiệp là ngành giữ vai trò chủ đạo trong các ngành kinh tế nên quy môngành công nghiệp ngày càng lớn Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tếgiai đoạn 2011-2015 là từ 7,0%-7,5%; GDP bình quân đầu người năm 2015đạt khoảng 2.000USD, tăng 1,7 lần năm 2010 Trong đó công nghiệp nặngtăng 8,5%-9,0% Theo tính toán, nhu cầu tiêu thụ điện năng toàn quốc sẽ tăng
từ 14%-16%/năm cho giai đoạn 2011-2015
Như vậy, tốc độ và quy mô của công nghiệp ngày càng lớn thì cầu vềđiện cũng tăng cao Bên cạnh đó, cầu về điện phục vụ sản xuất trong nôngnghiệp và dịch vụ cũng không phải là nhỏ Riêng nhu cầu về điện sinh hoạtđang có nguy cơ quá tải Tất cả các thiết bị sinh hoạt trong các gia đình, cơquan, công sở đều sử dụng điện: TV, bàn là, tủ lạnh, máy giặt… khiến chonhu cầu sử dụng điện lên cao một cách mạnh mẽ, đặc biệt trong giờ cao điểm.Hiện nay sản lượng điện thương phẩm tiêu dùng ngày càng lớn, tốc độ tăngmạnh, khoảng 15%/năm
Với nhu cầu tăng cao như vậy,trong khi năng lực sản xuất hiện tại củangành điện còn nhiều hạn chế buộc ngành công nghiệp điện phải đầu tư pháttriển đồng bộ cả khâu sản xuất, truyền tải, phân phối và kinh doanh dịch vụnhằm đảm bảo cung cấp điện đầy đủ và an toàn cho xã hội
2.1.2 Sự phát triển ngành điện trong những năm gần đây