Giáo viên chỉ rèn luyện cho học sinh đọc mà coi nhẹ trọng âm, ngữ điệu trong các câu nói.. Giúp học sinh nắm vững trọng âm, ngữ điệu trong các loại câu nói Tiếng Anh là điều quan trọng t
Trang 1
MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU :
II/ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC KHAI THÁC CÁC THỦ THUẬT
B PHẦN NỘI DUNG
I/ CƠ SỞ LÝ LUẬN: TRỌNG ÂM VÀ NGỮ ĐIỆU TRONG TỪ VÀ CÂU
II/ THỰC HÀNH: VIỆC KHAI THÁC CÁC THỦ THUẬT TRONG DẠY
C PHẦN KẾT LUẬN
I/ KẾT QUẢ THỰC HIỆN TRONG THỰC TẾ GIẢNG DẠY - P 12
II/ BÀI HỌC KINH NGHIỆM & KIẾN NGHỊ - P 13
_
Trang 21
-A PHẦN MỞ ĐẦU I/ ĐẶT VẤN ĐỀ
Việc dạy và học Tiếng Anh trong nhà trường Phổ thông hiện nay ngày càng mang tính cấp thiết, vì với xu thế hội nhập thế giới và những đòi hỏi ngày càng cao của những hiểu biết về khoa học kỹ thuật cùng những cơ hội giao tiếp với các nền văn hóa trên thế giới Tất cả những nguyên nhân đó dẫn đến một đòi hỏi mới trong việc dạy và học Tiếng Anh trong nhà trường phổ thông Học sinh không chỉ đơn thuần nắm vững ngôn ngữ dưới dạng cấu trúc ngữ pháp mà còn phải biết kết hợp viêc học các kỹ năng và thực hành chúng trong giao tiếp Mục đích của việc giảng dạy và học Ngoại ngữ là rèn luyện cho học sinh 4 kỹ năng giao tiếp:
Nghe (listening), nói (reading) đọc (reading) và viết (writing) Muốn hoàn thiện kỹ năng ngôn ngữ người học phải thực hành nhiều.Và để việc thực hành giao tiếp có hiệu quả, một yếu tố vô cùng quan trọng đó là phát âm Nhưng trong
chương trình Tiếng Anh ở cấp THCS việc luyện trọng âm, ngữ điệu cho học sinh chưa được chú trọng Giáo viên chỉ rèn luyện cho học sinh đọc mà coi nhẹ trọng
âm, ngữ điệu trong các câu nói Giúp học sinh nắm vững trọng âm, ngữ điệu
trong các loại câu nói Tiếng Anh là điều quan trọng trong giảng dạy bộ môn Tiếng Anh Trọng âm, ngữ điệu sai dẫn đến diễn đạt nội dung sai Áp dụng tốt việc kết
hợp dạy trọng âm, ngữ điệu trong các câu nói Tiếng Anh có thể giản lược những
câu diễn dịnh bằng Tiếng Việt, phát triển tối đa khả năng nghe (Listening), nói (Speaking), đọc (Reading) của học sinh Vì vậy trong bài viết này tôi xin được
trình bày một số vấn đề mà bản thân tôi đã tích lũy được về “Khai thác các thủ
thuật trong việc dạy trọng âm , ngữ điệu”
_
Trang 3II/ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC KHAI THÁC CÁC THỦ THUẬT TRONG DẠY TRỌNG ÂM, NGỮ ĐIỆU
Thực tế, trọng âm, ngữ điệu rất quan trọng trong việc giao tiếp đàm thoại
với người khác, đặc biệt là người nước ngoài Có thể những từ mà sự phát âm chưa
thật đúng nhưng trọng âm, ngữ điệu mà đúng thì người nước ngoài cũng sẽ hiểu Ngược lại nếu ta phát âm các từ đúng, mà trọng âm, ngữ điệu lại sai thì người
nước ngoài cũng sẽ khó hiểu thậm chí không hiểu gì Nhiều người khi mới học tiếng Anh thường nghĩ rằng chỉ cần phát âm đúng các từ mà không chú ý đến
trọng âm, ngữ điệu Thực ra phát âm đúng các từ mới chỉ là điều kiện cần nhưng
chưa đủ Trong câu nói của người Anh ta thấy có hiện tượng khác hẳn, nhưng vẫn được "nhấn giọng" xuất hiện gần như cách đều nhau trong dòng chảy âm thanh, giữa chúng là vẫn nói nhanh và lướt qua - không nhấn mạnh, tạo cho người nghe cảm giác là người Anh nói nhanh hơn người Việt Trong một câu tiếng Anh bình thường, những từ có ý nghĩa, có nội dung diễn đạt chính thường được "nhấn giọng" Những loại câu nói khác nhau sử dụng ngữ điệu khác nhau
Ví dụ 1:
I met him at the airport
Tôi đã gặp anh ấy tại sân bay
(Chính tôi đã gặp anh ấy chứ không phải ai khác)
I met him at the airport
(Tôi hoặc nhiều người đã gặp anh ấy, không có sự khẳng định do chính mình, bản thân tôi)
Ví dụ 2:
She is very happy
(Cô ấy rất hạnh phúc)
Nhưng:
She is very happy?
(Cô ấy hạnh phúc phải không?)
Căn cứ vào tầm quan trọng của trọng âm, ngữ điệu trong giao tiếp Ngoài ra,
trong chương trình đổi mới SGK Tiếng Anh THCS có phần nhấn mạnh về kỹ năng giao tiếp Hơn nữa, phần ngữ âm là một phần không thể thiếu trong các bài thi, kiểm tra, đề thi các cấp Vì vậy việc dạy trọng âm, ngữ điệu trong quá trình dạy học là không thể thiếu
Trang 4B PHẦN NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN:
TRỌNG ÂM VÀ NGỮ ĐIỆU TRONG TỪ VÀ CÂU TIẾNG ANH.
1 TRỌNG ÂM:
Trong tiếng Anh có hai loại trọng âm, trọng âm từ (word stress) và trọng
âm câu (sentence stress).
1.a/ Trọng âm từ
- Trọng âm từ là mức độ nhấn mạnh được sử dụng khi phát âm các âm tiết khác nhau của một từ có từ hai âm tiết trở lên
- Trọng âm từ luôn cố định
Ví dụ: 'garden / 'ga:dn/
Tuy nhiên, với cùng một từ, khi trọng âm thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của từ loại và nghĩa của từ
Ví dụ: - danh từ - động từ
'comment - com’ment hoặc: - danh từ, tính từ - động từ.
'perfect - per’fect
- Trọng âm từ tiếng Anh chia thành 4 loại: trọng âm chính (primary stress), trọng âm phụ hoặc thứ hai (secondary stress), trọng âm thứ ba (tertiary stress) và trọng âm yếu hoặc thứ tư (weak stress).
Ở đây tôi xin đề cập đến hai loại : là trọng âm chính với ký hiệu " ' " và trọng âm phụ với ký hiệu " , "
Ví dụ: , disa’gree /, disa’gri/
hoặc , bi,con'tennial /, bai, sen’ tenial/
Những từ có hai trọng âm thường có từ 3, 4 âm tiết trở lên
1 b/ Qui tắc trọng âm từ (Word stress rules)
Từ 1 âm tiết (one- syllable words)
Trang 5Những từ có 1 âm tiết đều có trọng âm, trừ những từ ngữ pháp (grammatical words) như: in, on, at, to, but, so
VD: ‘school, ‘learn
Từ 2 âm tiết (two - syllable words)
- Những từ 2 âm tiết hầu hết có trọng âm rơi vào âm tiết thứ nhất
VD: ‘happy, ‘pretty
- Những từ có 2 âm tiết nhưng âm tiết thứ nhất là 1 tiền tố (prefix) thì trọng
âm rơi vào âm tiết thứ 2
VD: be’hind, pre’pare
- Những động từ có 2 âm tiết, trọng âm thường rơi vào âm tiết thứ 2
VD: de’sign; com’plete
Từ 3 âm tiết trở lên (three or more - syllable words)
- Những từ có từ 3 âm tiết trở lên, trọng âm rơi vào âm tiết thứ 3 tính từ bên phải
sang bên trái
VD: e’conomy; ‘industry
- Nhưng nếu là từ vay mượn tiếng Pháp (thông thường tận cùng bằng – ee hoặc
- eer) thì trọng âm rơi vào âm tiết cuối cùng ấy
VD: engi’neer; employ’ee
Từ tận cùng bằng “ -ion, -ic(s)”
Những từ tận cùng bằng – ion, - ic(s) không kể có bao nhiêu âm tiết, trọng âm rơi vào âm tiết trước nó
VD: re’vision; tele’vision; ‘logic
Từ tận cùng bằng “-cy, -ty, -phy, -gy, -al”
Những từ tận cùng bằng – cy, - ty, - phy, - gy, - al không kể có bao nhiêu âm tiết, trọng âm rơi vào âm tiết thứ 3 tính từ bên phải sang bên trái
VD: bi’ology, pho’tography, eco’nomical
Trang 6 Sự thay đổi trọng âm khi thay đổi từ loại (stress shift)
Một từ khi thay đổi từ loại, vị trí trọng âm sẽ thay đổi
VD: Danh từ -> động từ ‘record(n) re’cord (v)
Tính từ -> động từ ‘perfect (a) per’fect(v)
Từ dài trên 4 âm tiết (words of more than 4 syllables)
Những từ dài thường có 2 trọng âm: trọng âm chính (primary stress) và trọng
âm phụ (secondary stress)
VD: ,inter’national; ,comple’mentary
Từ ghép (Compunds)
- Nếu từ ghép là 1 danh từ thì trọng âm rơi vào thành phần thứ nhất
VD: ‘greenhouse, ‘boyfriend
- Nếu từ ghép là 1 tính từ thì trọng âm rơi vào thành phần thứ hai
VD: home’sick; old- ‘fashion
- Nếu từ ghép là 1 động từ thì trọng âm rơi vào thành phần thứ hai
VD: under’stand; over’look
1 c/ Trọng âm câu.
- Trọng âm câu là mức độ nhấn mạnh và được sử dụng khi phát âm các từ khác nhau trong một câu và thường gắn liền với ngữ điệu của câu Nhìn chung, trọng âm trong một câu bình thường, thường rơi vào các từ quan trọng mang nội
dung nghĩa (content words), còn các từ chức năng (function words) như giới từ (in,
on, at ) hoặc phó từ (quickly, here, very ) mạo từ (a, the, an ) thường không
có trọng âm
- Mỗi câu thường có ít nhất một trọng âm, nhưng đôi khi một câu có thể có hai hoặc nhiều trọng âm, tuỳ thuộc vào độ dài của câu hoặc tuỳ thuộc vào ý nghĩa mà người nói muốn chuyển tới người nghe Một câu như sau:
"What are you doing?" có thể có hai trọng âm, một ở "what" và một ở
"do" Một câu trả lời ngắn như "Yes, I did" có thể có hai trọng âm, một ở
"yes" và một ở "did".
-Trọng âm câu không cố định như trọng âm từ
Trang 7- Trọng âm câu thay đổi tuỳ theo ngữ cảnh của câu và ý nghĩa của người nói muốn chuyển tới người nghe
Ví dụ: I visited my old friend
1 2 3 4 5
Khi ta nhấn mạnh trọng âm vào từ số 1 , ta muốn trả lời câu hỏi "Who
visited my old friends?"
- "I visited them"
Khi ta nhấn trọng âm vào từ số 2 (visited), ta muốn trả lời câu hỏi "Did you
meet your old friends?"
- "No, I visited them."
Khi ta nhấn trọng âm vào từ số 3 (my), ta muốn trả lời câu hỏi "Did you
visit his old friends?"
- "No, I visited my old friends"
Khi ta nhấn trọng âm vào từ số 4 (old), ta muốn trả lời câu hỏi "Did you
visit your new friends?"
- "No, Ivisited my old friends"
Khi ta nhấn trọng âm vào từ số 5(friends), ta muốn trả lời câu hỏi: "Did
you visit your old teacher?"
- "No, I visited my old friends"
2/ NGỮ ĐIỆU:
Ngữ điệu trong tiếng Anh được phân làm hai loại chính:
- Ngữ điệu lên với ký hiệu thường được dùng là
- Ngữ điệu xuống với ký hiệu thường được dùng là + Tuy nhiên, trong giao tiếp hàng ngày người ta còn dùng nhiều loại "tiểu" ngữ điệu để diễn đạt chính xác các ý khác nhau của mình
Ví dụ: - Xuống thấp (Low Fall)
- Xuống rộng cao (High Wide Fall)
- Xuống hẹp cao (High Narroww Fall)
- Lên thấp (Low Rise)
Trang 8- Lên rộng cao (High Wide Rise).
- Lên hẹp cao (High Narroww Rise)
- Lên - xuống (Rise - Fall)
- Xuống - lên (Fall - Rise)
- Lên - xuống - lên (Rise - Fall - Rise)
Thậm chí, người Anh ở Úc (Autralia) còn sử dụng tới 13 tiểu ngữ điệu khác nhau trong giao tiếp hàng ngày
Ta đề cập tới hai loại ngữ điệu chính là "Ngữ điệu lên " (Rising
Intonation) và "Ngữ điệu xuống" (Falling Intonation).
Ngữ điệu lên thường sử dụng ý chưa kết thúc và không khẳng định Ngữ điệu xuống thường thể hiện ý kết thúc và khẳng định
Tầm quan trọng của ngữ điệu trong tiếng Anh có thể ví như tầm quan trọng của thanh điệu trong tiếng Việt Từ "Ba" sẽ thay đổi nghĩa tuỳ theo thanh điệu mà
ta sử dụng: Ba - Bà - Bá - Bả - Bã - Bạ" Từ "Yes" trong tiếng Anh sẽ thay đổi tuỳ theo ngữ điệu mà ta sử dụng:
Yes (với ngữ điệu xuống) có nghĩa là : ừ, vâng, phải, có
Yes (với ngữ điệu lên ) có nghĩa là: gì cơ?, ai đấy?, được chứ?
Yes (với ngữ điệu lên - xuống - lên ám chỉ ý mỉa mai, chê bai, nghi nghờ tuỳ theo từng ngữ cảnh và tình huống mà người nói sử dụng)
Thông thường ta dùng ngữ điệu lên với những câu hỏi trả lời bằng "Yes-No", với các phần trong câu liệt kê trước khi kết thúc, với phần đầu của câu hỏi lựa chọn, và với những câu trần thuật thông thường khi ta muốn ám chỉ để hỏi
Ví dụ: "You under stand." (Anh hiểu chứ?)
Còn ngữ điệu xuống thường được sử dụng trong các câu hỏi đặc biệt ("Wh" question), câu trần thuật, câu trả lời, phần cuối cùng của câu liệt kê và phần sau của câu hỏi lựa chọn
_
Trang 9II THỰC HÀNH:
KHAI THÁC CÁC THỦ THUẬT TRONG DẠY TRỌNG ÂM, NGỮ ĐIỆU
1 PHƯƠNG PHÁP GIẢNG CHUNG KHI DẠY TRỌNG NGỮ ĐIỆU
Thông thường dạy Trọng âm, ngữ điệu cho học sinh, giáo viên cần tiến
hành theo các bước:
- Giáo viên đọc mẫu theo nhịp gõ động tác lên xuống của tay (có thể hai hoặc ba lần)
- Hoặc cho học sinh nghe băng (nếu có)
- Giáo viên gọi học sinh khá đọc trước, sau đó gọi học sinh trung bình và cuối cùng gọi học sinh yếu đọc Giáo viên cần sử dụng nhịp gõ và động tác lên xuống của tay giúp học sinh nhấn trọng âm và ngữ điệu lên xuống chính xác, dễ dàng
- Ở một số câu khó, giáo viên ghi lên bảng kèm theo ký hiệu trọng âm ngữ điệu Giáo viên đọc rõ từng từ một trong câu (có thể một lần) Sau đó giáo viên đọc câu hoàn chỉnh, kết hợp nhịp gõ, động tác lên xuống của tay (có thể hai lần) Tiến hành luyện cho học sinh đọc lần lượt, tập thể lớp đọc
2 CÁC THỦ THUẬT ÁP DỤNG TRONG DẠY TRỌNG ÂM, NGỮ ĐIỆU TRONG TỪNG LOẠI CÂU NÓI CỤ THỂ.
a) Câu trần thuật:
Ví dụ 1:
These are some books
- Giáo viên tiến hành luyện Tiết tấu, ngữ điệu theo phương pháp chung
- Giáo viên dùng nhịp gõ ở các từ "These, some", trọng âm của câu, động tác tay xuống ở từ "books" - ngữ điệu xuống
Trang 10Ví dụ 2:
It is a cat
- Giáo viên tiến hành tiết tấu, ngữ điệu theo phương pháp chung
- Giáo viên dùng nhịp gõ ở từ "It", động tác tay xuống ở từ "cat"
Ví dụ 3:
He always does his homework in the evening.
- Giáo viên tiến hành luyện tiết tấu, ngữ điệu theo phương pháp chung
- Giáo viên dùng nhịp gõ ở từ "He, does, homework", điệu bộ xuống ở từ
"evening"
b) Câu hỏi nghi vấn:
Ví dụ 1:
Are you a teacher?
- Giáo viên tiến hành luyện tiết tấu, ngữ điệu theo phương pháp chung
- Giáo viên dùng nhịp gõ ở từ "you", động tác tay lên ở từ "teacher"
Ví dụ 2:
Must I stay at home?
- Giáo viên tiến hành luyện tiết tấu, ngữ điệu theo phương pháp chung
- Giáo viên dùng nhịp gõ ở từ "I", động tác tay lên ở từ "home"
Ví dụ 3:
Did you meet her at the airport?
- Giáo viên tiến hành luyện tiết tấu, ngữ điệu theo phương pháp chung
- Giáo viên dùng dịp gõ ở từ "meet", động tác tay lên ở từ "airport"
c) Câu trả lời:
Ví dụ 1: Yes, it is.
- Giáo viên tiến hành luyện tiết tấu, ngữ điệu theo phương pháp chung
- Giáo viên dùng động tác tay xuống ở các từ "yes, is"
Ví dụ 2:
No, I don't.
- Giáo viên tiến hành luyện tiết tấu, ngữ điệu theo phương pháp chung
Trang 11d) Câu hỏi có từ để hỏi:
Ví dụ 1:
Where are you going?
- Giáo viên tiến hành luyện tiết tấu, ngữ điệu theo phương pháp chung
- Giáo viên dùng nhịp gõ ở các từ "Where", động tác tay xuống ở từ
"going"
Ví dụ 2:
What are these?
- Giáo viên dùng nhịp gõ ở từ "What", động tác tay xuống ở từ "these"
Ví dụ 3:
What’s your job?
- Giáo viên dùng nhịp gõ ở từ "What" , động tác tay xuống ở từ "job"
e) Câu hỏi lựa chọn:
Ví dụ 1:
Does Mr Allen like tea or coffee?
- Giáo viên tiến hành luyện tiết tấu, ngữ điệu theo phương pháp chung
- Giáo viên gõ nhịp ở các từ "Does, Allen", động tác tay lên ở từ "tea", động tác tay xuống ở từ "coffee"
Ví dụ 2:
Do you speak English or French?
- Giáo viên tiến hành luyện tiết tấu, ngữ điệu theo phương pháp chung
- Giáo viên dùng nhịp gõ ở các từ "Do you", động tác tay lên ở từ
"English", động tác tay xuống ở từ "French"
f) Câu hỏi đuôi:
Ví dụ 1: You always go to school on Mondays, don’t you?
- Giáo viên dùng nhịp gõ ở các từ "always, school, Mondays", động tác tay xuống
ở từ "don’t you"
Ví dụ 2:
Tom is lazy, isn’t he?
- Giáo viên dùng nhịp gõ ở các từ "Tom,lazy", động tác tay xuống ở từ "isn’t he"
Trang 12C PHẦN KẾT LUẬN.
I KẾT QUẢ THỰC HIỆN TRONG THỰC TẾ GIẢNG DẠY.
Việc áp dụng phương pháp kết hợp dạy trọng âm, ngữ điệu trong các loại câu tiếng Anh trong giảng day suốt thời gian qua đã giúp tôi thu được những kết quả đáng mừng trong việc nâng cao khả năng giao tiếp của các đối tượng học sinh
ở trường chúng tôi Các em không còn thấy sợ hoặc chán nản với việc học phát âm
từ và câu khó, trái lại còn cảm thấy hào hứng với việc học từ mới, và đặc biệt là các tiết dạy nói ở lớp 8,9 đã thực sự trở thành tiết học thực hành nói giữa thầy và trò, giữa các bạn trong lớp với nhau.Điều đó đồng nghĩa với việc các em cũng đạt được những kết quả học tập đáng phấn khởi: 85% học sinh trong lớp đã nắm chắc tiết tấu, ngữ điệu để diễn đạt nội dung trình bày, các em đã nhận rõ sự khác nhau
về tiết tấu, ngữ điệu giữa tiếng Việt và tiếng Anh, các em lĩnh hội tốt những gì giáo viên nói
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả khả quan đạt được do có sự đầu tư, khai thác hợp lý phương pháp đổi mới kết hợp dạy trọng âm, ngữ điệu trong các tiết dạy, chúng tôi cũng thực sự gặp không ít khó khăn như:
- Chất lượng học sinh không đồng đều trong một lớp; khiến các học sinh yếu thường ỷ lại vào các học sinh giỏi
- Tình trạng học sinh lười học còn phổ biến Hiện tượng học sinh ngại nói Tiếng Anh trong lớp còn nhiều
- Lớp học quá đông, nên để có thời gian hợp lý cho các hoạt động của 1 tiết học chúng tôi cũng thực sự không bao quát được hết các đối tượng học sinh
- Chưa có giáo trình riêng về việc hướng dẫn dạy và học ngữ âm trong nhà trường Những thiết bị giảng dạy liên quan đến việc dạy ngữ âm còn thiếu hoặc không có
- Thời gian chuẩn bị cho 1 tiết dạy của giáo viên còn ít vì số lượng tiết dạy nhiều
Mặc dù vậy, chúng tôi cũng sẽ cố gắng khắc phục để ngày càng đem tới cho học sinh những bài học lý thú nhất
II BÀI HỌC KINH NGHIỆM & KIẾN NGHỊ.
Việc giúp học sinh nắm vững trọng âm, ngữ điệu trong các loại câu nói là điều quan trọng trong giảng dạy bộ môn tiếng Anh Trọng âm, ngữ điệu sai dẫn đến diễn đạt nội dung sai Áp dụng tốt việc kết hợp dạy trọng âm, ngữ điệu trong