1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hàm lượng đạm vô cơ trong đất trồng chè trên địa bàn xã tân cương, thành phố thái nguyên, tỉnh thái nguyên

53 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số vùng đồi núi ở nước ta có điều kiện sinh thái khí hậu, đất đai rất thích hợp cho cây chè sinh trưởng và phát triển, chất lượng chè nguyên liệu chè búp tươi trồng ở những vùng thíc

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -

TRẦN PHƯƠNG ANH

Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ HÀM LƯỢNG ĐẠM VÔ CƠ TRONG ĐẤT

TRỒNG CHÈ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TÂN CƯƠNG,

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -

TRẦN PHƯƠNG ANH

Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ HÀM LƯỢNG ĐẠM VÔ CƠ TRONG ĐẤT

TRỒNG CHÈ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TÂN CƯƠNG,

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : KHMT

Khoa : Khoa học Môi trường

Lớp : K46 – KHMT- N02

Khoá học : 2014 – 2018

Giảng viên hướng dẫn : ThS Hà Đình Nghiêm

Thái Nguyên, năm 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới ThS Hà Đình Nghiêm - Khoa môi trường - Trường Đại học Nông Lâm và ThS Hoàng Hữu Chiến - Khoa quản lý tài nguyên - Trường Đại học Nông Lâm định hướng nghiên cứu, xây dựng ý tưởng và tận tình hướng dẫn em trong thời gian nghiên cứu và làm khóa luận tốt nghiệp

Đồng thời, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến tập thể thầy cô giáo Khoa Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên đã truyền thụ những kiến thức quý báu cho em trong suốt quá trình học tập

Cuối cùng, em xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn bên em suốt chặng đường em đi, động viên, hỗ trợ và giúp đỡ em để hoàn thành bản khóa luận này

Thái Nguyên, ngày 12 tháng 05 năm2018

Sinh Viên

Trần Phương Anh

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Tọa độ các điểm nghiên cứu 22

Bảng 4.1 Diện tích đất tự nhiên xã Tân Cương 25

Bảng 4.2 Diện tích, năng suất và sản lượng chè tại xã Tân Cương

giai đoạn 2016 – 2018 3

Bảng 4.3 Diện tích, năng suất khô, giống chè, tuổi chè tại vườn chè người dân 3

Bảng 4.4 Lượng phân bón cho chè tại các vườn 5

Bảng 4.5 Kết quả phân tích đạm vô cơ trong đất trồng chè 6

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Mô tả công nghệ hút dung dịch đất bằng áp suất 23

Hình 4.1 Mối tương quan giữa đạm vô cơ trong đất và trong dung dịch đất 9

Hình 4.2 Mối tương quan giữa liều lượng phân đạm với hàm lượng

đạm nitrate trong đất và trong dung dịch đất 10

Hình 4.3 Mối tương quan giữa hàm lượng đạm tổng số và hàm lượng

đạm vôcơ trong đất và trong dung dịch đất 11

Hình 4.4 Cây Guột (Gleichenia linearis Clarke)dùng đề ủ gốc chè 13

Hình 4.5 Một số loài thiên địch sử dụng trên cây chè 14

Hình 4.6 Một số loại thuốc trừ sâu sinh học áp dụng trên cây chè 15

Hình 4.7 Sử dụng bả sinh học và bẫy vật lý trên nương chè 15

Hình 4.8 Sử dụng tưới phun mưa cho cây chè 16

Trang 6

DANH MUC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

STT Kí hiệu Họ và tên người được

phỏng vấn

Địa chỉ

1 A1 Nguyễn Văn Tuân Xóm Hông Thái 1-Xã Tân Cương

3 A3 Nguyễn Văn Thăng Xóm Hông Thái 1-Xã Tân Cương

5 A5 Trần Hữu Quân Xóm Hông Thái 2-Xã Tân Cương

6 A6 Lương Văn Nghìn Xóm Hông Thái 2-Xã Tân Cương

10 A10 Nguyễn Thị Hương Xóm Nam Đồng-Xã Tân Cương

14 B4 Nguyễn Văn Hùng Xóm Y Na 2-Xã Tân Cương

15 B5 Phạm Quang Giang Xóm Nam Đồng-Xã Tân Cương

17 B7 Nguyễn Thị Thảo Xóm Nam Đồng-Xã Tân Cương

20 B10 Nguyễn Gia Bảo Xóm Y Na1-Xã Tân Cương

23 C3 Nguyễn Thị Thúy Xóm Y Na2-Xã Tân Cương

24 C4 Trần Thị Chung Chiến Xóm Y Na1-Xã Tân Cương

27 C7 Nguyễn Thị Huệ Xóm Soi Vàng – Xã Tân Cương

28 C8 Nguyễn Văn Lộc Xóm Soi Vàng – Xã Tân Cương

29 C9 Nguyễn Xuân Trường Xóm Soi Vàng – Xã Tân Cương

30 C10 Lương Thế Vinh Xóm Soi Vàng – Xã Tân Cương

31 D1 Trần Mạnh Trường Xóm Hông Thái 1-Xã Tân Cương

32 D2 Nguyễn Văn Mạnh Xóm Hông Thái 1-Xã Tân Cương

33 D3 Hoàng Thu Thảo Xóm Soi Vàng – Xã Tân Cương

34 D4 Khúc Thị Nga Xóm Hông Thái 1-Xã Tân Cương

35 D5 Nguyễn THị Thúy Xóm Hông Thái 2-Xã Tân Cương

37 D7 Hoàng Gia Bảo Xóm Hông Thái 2-Xã Tân Cương

38 D8 Nguyễn Sơn Tùng Xóm Nam Đồng-Xã Tân Cương

40 D10 Đinh Lan Anh Xóm Soi Vàng – Xã Tân Cương

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 2

MỤC LỤC vi

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 8

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 8

1.2 Mục tiêu của đề tài 9

1.3 Ý nghĩa của đề tài 9

1.4 Yêu cầu của đề tài 9

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 10

2.1 Đặc điểm và yêu cầu sinh trường của cây chè 10

2.1.1 Yêu cầu về các yếu tố khí hậu 10

2.1.2 Yêu cầu về địa hình, đất đai 12

2.1.3 Sử dụng phân bón cho cây chè 14

2.2 Sự chuyển hóa đạm trong đất trồng chè và hệ quả 18

PHẦN 3.ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21 3.1 Đối tượng nghiên cứu 21

3.2 Phạm vi nghiên cứu 21

3.2.1 Phạm vi không gian 21

3.2.2 Phạm vi thời gian 21

3.2.3 Địa điểm nghiên cứu 21

3.3 Nội dung nghiên cứu 21

3.4 Phương pháp nghiên cứu 22

3.4.1 Phương pháp cấp 22

3.4.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn 22

3.4.3 Phương pháp lấy mẫu 22

3.4.4 Phương pháp phân tích mẫu 23

3.4.5 Phương pháp thu thập dữ liệu 24

3.4.6 Phương pháp xử lý số liệu 24

Trang 9

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên 25

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 25

4.1.2 Điều kiện kinh tế -xã hội xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên,

tỉnh Thái Nguyên 26

4.2 Thực trạng sản suất chè của xã Tân Cương, thành phố Thái nguyên,

tỉnh Thái Nguyên 1

4.3 Đánh giá hàm lượng đạm vô cơ và mối tương quan giữa hàm lượng

đạm vô cơ trong đất và trong dung dịch đất 6

4.3.1 Đánh giá hàm lượng đạm vô cơ trong đất trồng chè xã Tân Cương,

thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 6

4.3.2 Đánh giá hàm lượng đạm vô cơ trong dung dịch đất trồng chè

xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 7

4.3.3 Mối tương quan giữa hàm lượng đạm vô cơ trong đất và

trong dung dịch đất 9

4.4 Đề xuất giải pháp thúc đẩy chè phát triển bền vững xã Tân Cương,

thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 11

4.4.1 Nhóm giải pháp quản lý 12

4.4.2 Nhóm giải pháp kỹ thuật 12

4.4.3 Sử dụng phương pháp tưới hợp lý 169 PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1740

5.1 Kết luận 1740

5.2 Kiến nghị 181

TÀI LIỆU THAM KHẢO 192

Trang 10

PHẦN 1

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, không thể tái tạo được đối với mỗi quốc gia Đặc biệt là đất nông nghiệp có hạn về diện tích, có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và những hoạt động sử dụng đất thiếu hiểu biết của con người trong quá trình sản xuất Khi xã hội phát triển, dân số tăng nhanh, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh, kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về nhu cầu lương thực cũng như nhu cầu về đất sử dụng cho các mục đích chuyên dùng Điều này, gây áp lực ngày càng lớn đối với đất sản xuất nông nghiệp, làm cho quỹ đất nông nghiệp luôn có nguy cơ bị suy giảm diện tích, trong khi đó khả năng khai hoang những vùng đất mới có thể dùng sử dụng cho mục đích sản xuất nông nghiệp lại gần như đã cạn kiệt Do vậy, việc nghiên cứu đánh giá tiềm năng đất sản xuất nông nghiệp và sử dụng có hiệu quả trên quan điểm sinh thái, bền vững đang ngày càng trở nên cấp thiết, quan trọng đối với mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ

So với một số cây trồng khác, cây chè không yêu khắt khe lắm về đất Song để cây chè sinh trưởng tốt, có khả năng cho năng suất cao và ổn định thì đất trồng chè phải bảo đảm được những yêu cầu cơ bản là đất tốt, nhiều mùn, đất chua và dễ thoát nước

Chè là cây công nghiệp lâu năm được trồng và sử dụng từ rất lâu đời ở Việt Nam Nó là cây trồng đóng vai trò quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của người dân, đồng thời cũng là cây trồng có độ che phủ cao và có khả năng chống xói mòn, rửa trôi tốt Một số vùng đồi núi ở nước ta có điều kiện sinh thái (khí hậu, đất đai) rất thích hợp cho cây chè sinh trưởng và phát triển, chất lượng chè nguyên liệu (chè búp tươi) trồng ở những vùng thích hợp này tương đương với những vùng trồng chè tốt của thế giới Chè là một trong những sản phẩm xuất khẩu quan trọng trong các sản phẩm nông nghiệp ở nước ta Hiện nay, trên thế giới có khoảng 60 quốc gia trồng và chế biến chè thì Việt Nam đứng thứ 5 về diện tích và đứng thứ 8 về sản lượng xuất khẩu chè Sản xuất chè ở nước ta đã mang lại thu nhập đáng kể cho người lao động

Trang 11

Tuy nhiên để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, phân bón hóa học đã được sử dụng phổ biến và vượt mức cần thiết trong canh tác Do hoạt động này diễn

ra trong thời gian dài dẫn đến tác động rất lớn tới môi trường đặc biệt là môi trường đất cũng như ảnh hưởng tới chất lượng của sản phẩm chè Hiện tại, có rất ít các nghiên cứu một cách chi tiết về hiện trạng môi trường đất trồng chè dẫn đến nhiều hạn chế về hệ thống dữ liệu cho nghiên cứu khoa học và ứng dụng sản xuất

Xuất phát từ thực trạng đó, em xin được tiến hành đề tài “Đánh giá hàm lượng đạm vô cơ trong đất trồng chè trên địa bàn xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”

1.2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá hiện trạng môi trường đất trồng chè tại vùng chè đặc sản Tân Cương

- Xây dựng các giải pháp quản lý và sử dụng đất trong canh tác chè theo hướng bền vững

1.3 Ý nghĩa của đề tài

- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu: Giúp cho bản thân biết được cách làm thí nghiệm khoa học cũng như có cơ hội tiếp cận với cách thức thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học

- Ý nghĩa trong thực tiễn: Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng năng suất, cải thiện chất lượng chè, góp phần vào sự phát triển bền vững của địa phương

1.4 Yêu cầu của đề tài

- Đánh giá được đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

- Đánh giá được thực trạng sản xuất chè của xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

- Đánh giá được hàm lượng đạm vô cơ và mối tương quan hàm lượng vô cơ trong đất và trong dung dịch đất

- Đề xuất được các giải pháp thúc đẩy sản xuất chè bền vững

Trang 12

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Đặc điểm và yêu cầu sinh trường của cây chè

Chè là cây chịu ảnh hưởng lớn của các điều kiện sinh thái Nguyên sản của cây chè ở vùng khí hậu nhiệt đới Tuy nhiên, trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển như hiện nay, bằng con đường lai tạo, chọn lọc, cây chè đã được trồng ở cả những nơi khác xa so với nguyên sản của chúng Thực tế sản xuất chè ở nước ta và các nước trên thế giới cho thấy năng suất và chất lượng chè chủ yếu phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu, đất đai phân bố theo vùng, cũng như các kỹ thuật canh tác của con

là thích hợp (Stephens và cs, 1992) [16] Nếu dưới 1.150 mm và không được tưới, cây chè sẽ phát triển kém (Carr và Stephen, 1992) [17] Bình quân lượng mưa của các tháng trong thời kỳ cây chè sinh trưởng phải lớn hơn hoặc bằng 100 mm, nếu nhỏ hơn

Trang 13

cây chè sẽ sinh trưởng không tốt (Stephens và cs, 1992)[16] Các vùng chè có lượng mưa 150 mm/tháng, cây chè cho sản phẩm liên tục (Carr và Stephen, 1992) [7]

2.1.1.3 Độ ẩm không khí

Độ ẩm không khí có liên quan đến sinh trưởng của búp chè, nếu độ ẩm không khí thấp trong thời gian dài sẽ làm hàm lượng nước trong búp chè giảm, gây mất cân bằng nước, cây sinh trưởng kém và búp mọc chậm Khi nhiệt độ không khí cao, độ

ẩm không khí thấp sẽ làm cho chè mất nước nhanh Điều này sẽ ảnh hưởng đến cường độ quang hợp và khả năng sinh trưởng của búp chè (Hadfield, 1968) [14] Độ

ẩm tương đối của không khí thích hợp cho cây chè sinh trưởng và phát triển là khoảng từ 80 - 85% (Stephens và cs, 1992) [16]

2.1.1.4 Ánh sáng

Ánh sáng là yếu tố sinh thái ảnh hưởng lớn tới quá trình sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của cây trồng nói chung và cây chè nói riêng (Eden, 1958) [19] và (Nicholas, 1988) [20] Điều kiện chiếu sáng khác nhau ảnh hưởng tới hình thái giải phẫu, sự sinh trưởng và thành phần hóa học trong búp chè khác nhau Cây chè được che bóng lá có màu xanh đậm, to và mỏng, lóng dài, hàm lượng nước cao, búp non và thưa Hàm lượng các hợp chất có chứa N (cafein, protein,…) trong búp, lá non tăng lên và tích lũy nhiều hơn Các chất không có N (tanin, gluxit) có chiều hướng giảm xuống Điều này ở mức độ nào đó sẽ có lợi cho chế biến chè xanh mà không có lợi cho chế biến chè đen Che bóng quá dày sẽ làm cho khả năng quang hợp của cây chè kém, làm giảm năng suất và phẩm chất chè (Fong và Shyu, 1988) [20] Yêu cầu của cây chè đối với ánh sáng thay đổi theo giống, tuổi, điều kiện ngoại cảnh

và các biện pháp kỹ thuật tác động của con người (Owuor và cs, 1988) [22] Chè ở thời kỳ cây con ưa bóng mát và cần ánh sáng ít, cho nên ở vườn ươm phải che râm để cây sinh trưởng nhanh và đạt tỷ lệ sống cao Giống chè lá nhỏ ưa ánh sáng nhiều hơn giống chè lá to Trong điều kiện nhiệt độ cao, ẩm độ thấp và ánh sáng trực xạ sẽ không có lợi cho quá trình quang hợp, ảnh hưởng xấu tới sinh trưởng của cây chè Trong điều kiện ẩm độ cao, dinh dưỡng đầy đủ, cường độ ánh sáng tăng sẽ làm tăng năng suất và phẩm chất búp chè Với các vùng chè khác nhau thì việc điều tiết chế

độ ánh sáng sẽ khác nhau Kết quả nghiên cứu ở Ấn Độ cho thấy khi giảm cường độ chiếu sáng xuống 30% thì sản lượng búp tươi trong năm đầu tăng 34% so với để

Trang 14

chiếu sáng hoàn toàn Khi giảm cường độ chiếu sáng xuống 50% thì năng suất đạt cao nhất Nếu tiếp tục giảm cường độ chiếu sáng xuống dưới 50% thì năng suất bắt đầu giảm (dẫn theo Đỗ Ngọc Quỹ, 1980) [5] Ánh sáng tán xạ ở vùng núi cao có tác dụng tốt đến phẩm chất chè hơn ánh sáng trực xạ Sương mù nhiều, ẩm ướt, nhiệt độ thấp, biên độ nhiệt ngày đêm lớn ở vùng núi cao là điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất chè có chất lượng cao trên thế giới (Đỗ Ngọc Quỹ và Đỗ Thị Ngọc Oanh, 2008) [6]

2.1.2 Yêu cầu về địa hình, đất đai

2.1.2.1 Yêu cầu về địa hình

Địa hình (bao gồm độ cao và độ dốc) ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của cây chè Cây chè thường thích hợp với những sườn đất có độ dốc từ 8 đến 100, tối đa không quá 250 Độ cao so với mực nước biển của đất trồng chè có ảnh hưởng quyết định đến năng suất và phẩm chất chè Độ cao càng lớn thì phẩm chất chè càng tốt Nông dân Trung Quốc đã có những câu nói “vân lộ trà” và “cao sơn xuất hảo trà” rất nổi tiếng (Đỗ Ngọc Quỹ, 1980) [5] Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979) [7], phần lớn các vùng trồng chè có phẩm chất tốt ở các nước trên thế giới thường có độ cao so với mực nước biển từ 500 đến 800 m Vùng chè ngon nổi tiếng ở Ấn Độ được trồng ở độ cao2.000 m so với mực nước biển, vùng chè Mộc Châu và Lâm Đồng của nước ta ở độ cao trên 800 m đều cho sản phẩm chè có chất lượng tốt (hàm lượng tanin và dầu thơm cao)

Vĩ độ địa lý cũng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng chè, ở vùng có vĩ độ cao thì lượng mưa, nhiệt độ và ánh sáng thiếu làm cho hàm lượng tanin thấp, thời gian thu hoạch chè ngắn lại và năng suất chè không cao (Nguyễn Ngọc Kính, 1979) [7], (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs, 2006) [8] Theo Đỗ Ngọc Quỹ và Lê Tất Khương (2000) [11], địa hình có ảnh hưởng đến tiểu khí hậu vùng chè Trên đất dốc, không giữ được nước, dễ bị khô hạn, đồi chè có nguy cơ bị xói mòn, rửa trôi, độ phì giảm, làm trơ rễ, chè chóng tàn và cho năng suất thấp Độ dốc và địa hình bị chia cắt sẽ hạn chế cơ giới hóa canh tác, thu hoạch, vận chuyển trong vùng chè, làm tăng giá thành sản xuất Ngoài độ cao, độ dốc thì hướng dốc cũng ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng chè Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979) [7], ở hướng dốc phía Nam, hàm lượng tanin và chất hoà tan trong búp chè cao hơn chè trồng ở hướng dốc phía Bắc

Trang 15

2.1.2.2 Yêu cầu về tính chất vật lý của đất

Việc phân tích so sánh đặc điểm đất đai giữa các vùng trồng chè trên thế giới cho thấy lý tính của đất chiếm vị trí quan trọng trong việc lựa chọn đất trồng chè (Đỗ Ngọc Quỹ, 1980) [5] Các tính chất vật lý của đất gồm: kết cấu đất, ẩm độ, thành phần cơ giới, độ xốp, dung trọng, tỷ trọng, Trong đó, ẩm độ và độ xốp là yếu tố quan trọng bậc nhất đối với sự sinh trưởng, phát triển của cây chè

- Kết cấu đất: đất có kết cấu viên hạt, tơi xốp, giữ nước tốt, thấm nước nhanh

và dễ thoát nước rất có lợi cho sự phát triển bộ rễ chè và vi sinh vật trong đất Trên các loại đất này, bộ rễ chè phát triển tốt, hệ vi sinh vật hoạt động mạnh và cây chè có tuổi thọ cao Theo Nguyễn Nhật Tân (1991) [10], các vùng đất chè có năng suất cao thường có độ xốp cao, hệ số cấu trúc lớn và đất duy trì được kết cấu Ngược lại, đất chè có năng suất thấp thường có độ xốp nhỏ, hệ số cấu trúc nhỏ và không giữ được kết cấu tự nhiên của đất

- Thành phần cơ giới đất: chè phát triển tốt trên các loại đất từ cát pha đến thịt pha sét (phân loại Quốc tế) hay thịt nhẹ đến thịt nặng (phân loại theo Liên Xô - Kachinski) Những loại đất này có chế độ nước và không khí điều hoà nên thuận lợi cho các hoạt động của quá trình hóa học và sinh vật trong đất (Đỗ Ngọc Quỹ và Lê Tất Khương, 2000) [11] Chè được trồng trên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ cho sản phẩm chè xanh có màu nước đẹp, hương thơm tự nhiên và có vị đượm Ngược lại, chè được trồng trên đất thịt nặng cho sản phẩm chè xanh có màu nước vàng và vị đắng

2.1.2.3 Yêu cầu về tính chất hóa học của đất

Đối với cây trồng nói chung và cây chè nói riêng, các chỉ tiêu nông hóa rất quan trọng, ảnh hưởng tới sinh trưởng và năng suất của cây, trước hết là độ chua, hàm lượng chất hữu cơ và hàm lượng dinh dưỡng N, P, K trong đất

- Độ chua của đất: cây chè sinh trưởng và phát triển tốt nhất khi pHKCl trong khoảng từ 4,5 đến 5,5 (Nguyễn Ngọc Kính, 1979) [7] Ở đất trung tính hay kiềm, chè gieo mọc được nhưng có thể chết dần Thí nghiệm trồng chè trong chậu ở Trung Quốc cho thấy đối với cây chè con độ chua của đất tốt nhất là từ 4,5 đến 5,5; dưới 3,5 lá xanh thẫm và có cây chết; ở mức 4,5 lá chè xanh bóng láng; ở mức 7,5 lá ít và

Trang 16

vàng Một số nhà khoa học khác lại xác định giới hạn dưới về pHKCl của đất trồng chè

là 4,0 và giới hạn trên là 6,5 (Lê Tất Khương và cs, 1999) [11]

- Hàm lượng chất hữu cơ: là yếu tố rất quan trọng đối với cây trồng, nó tạo ra kết cấu đất tơi xốp, làm tăng khả năng hấp phụ, giữ được các chất dinh dưỡng và tăng tính đệm của đất Theo Nguyễn Nhật Tân (1991) [10], ở đất trồng chè cho năng suất cao sẽ khá giàu hàm lượng hữu cơ (4 - 4,5%), dung trọng được duy trì và cải thiện, độ xốp được giữ vững và tăng lên (57- 60%), cấu trúc đất ổn định Ngược lại, trong các loại đất có chứa hàm lượng hữu cơ thấp, cây chè sẽ cho năng suất không cao Để cây chè sinh trưởng và phát triển tốt, đất trồng chè cần phải có hàm lượng chất hữu cơ cao

- Các chất dinh dưỡng: hầu hết các kết quả nghiên cứu về nhu cầu phân bón cho chè đều khẳng định N, P, K là ba nguyên tố dinh dưỡng khoáng mà cây chè cần với liều lượng cao nhất Các nguyên tố này có quan hệ tới năng suất và chất lượng chè Ngoài ra, để cây chè phát triển cho năng suất cao, phẩm chất tốt thì trong đất cần phải có đầy đủ các nguyên tố trung, vi lượng cần thiết đối với cây chè, những nguyên

tố này có thể được bổ sung qua việc bón phân

2.1.3 Sử dụng phân bón cho cây chè

2.1.3.1 Sử dụng phân đạm cho cây chè

Đạm (N) là một thành phần quan trọng trong các bộ phận của cây, đóng vai trò quyết định trong sinh lý học của cây chè N chiếm từ 3,5-5,0% chất khô (Verma, 1997) [20] N tập trung vào các bộ phận còn non như búp chè và lá non, tham gia vào

sự hình thành các axit amin và protein Theo Đỗ Ngọc Quỹ và Lê Tất Khương (2000) [9], cây chè thiếu N khi hàm lượng N trong lá chè trong khoảng từ 2,3 đến 2,4% và cây chè đủ N khi hàm lượng N trong lá chè từ 2,9 đến 3,4%

Bón đủ đạm, lá chè có màu xanh, khả năng quang hợp tốt, cây chè sinh trưởng khoẻ cho nhiều búp và búp to Thiếu đạm, chồi lá ít, lá vàng, búp nhỏ và cho năng suất thấp (Đỗ Ngọc Quỹ và Đỗ Thị Ngọc Oanh, 2008) [6] Các kết quả nghiên cứu của Lê Văn Đức (1997) [1] [2] đều khẳng định bón đạm có ảnh hưởng đến sự phát triển của các bộ phận như lá, thân, cành và rễ của cây chè Nhiều kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về nhu cầu dinh dưỡng của cây chè cho thấy sự sinh trưởng và năng suất chè có tương quan rất chặt với lượng đạm bón Trong đó, năng suất búp có

Trang 17

tương quan chặt nhất với lượng đạm bón Bón đạm không những ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất của cây chè mà nó còn ảnh hưởng đến chất lượng chè Bón đạm với liều lượng thích hợp sẽ có lợi cho phẩm chất chè Sự tăng quá cao liều lượng hoặc mất cân đối sẽ dẫn đến làm giảm chất lượng chè Theo Hilton và cs (1973) [24], bón đạm ở mức 120 kg N/ha/năm làm tăng hàm lượng cafein trong chè, khi tăng lượng bón lên 300 kg N/ha/năm sẽ làm hàm lượng này giảm Nghiên cứu của cho thấy khi bón amon sunfat với tỷ lệ lớn làm tăng chất lượng chè xanh và hàm lượng axit amin trong lá Theo Malenga (1987) [25], tại mức bón 100 kg N/ha/năm, chè cho chất lượng cao nhất, ngược lại nếu bón đạm nhiều hơn mức này sẽ làm giảm chất lượng chè, độ sáng và màu nước pha kém, có vẩn đục màu sữa Theo Khando (1989) [26], bón đạm trên mức 50 kg N/ha/năm làm giảm chất lượng và giảm số điểm đánh giá cảm quan màu nước chè

Nhiều nghiên cứu ở Việt Nam cũng đưa ra kết luận bón đạm ảnh hưởng đến chất lượng chè Bón đạm đã làm tăng hàm lượng đạm tổng số trong đọt tươi Song bón đạm đến mức 200 kg N/ha/năm sẽ làm giảm hàm lượng tanin 1,8% và giảm hàm lượng chất hòa tan 1,7% Khi bón đạm ở mức 300 kg N/ha/năm làm giảm lượng tanin 8%, còn ở mức bón 100 kg N/ha/năm thì hàm lượng tanin và chất hòa tan giảm không đáng kể (Đỗ Ngọc Quỹ, 1980) [5].Một số Nghiên cứu ở Thái Nguyên cho thấy bón đạm cho chè ở mức 30 kg N/tấn búp tươi là phù hợp Tại mức bón 40 kg N/tấn búp tươi, cây chè cho năng suất cao nhưng hàm lượng tanin giảm so với mức bón 30 kg N/tấn búp tươi Tại mức bón 20 kg N/tấn búp tươi, chất lượng chè giảm hơn so với lượng bón 30 kg N/tấn búp tươi Kết quả này cũng tương tự với thí nghiệm thu được trên giống chè PH1 (dẫn theo Hoàng Thị Kim Hoa, 2002) [12], ở nương chè có năng suất 10 tấn/ha lượng phân bón từ 300- 400 kg N là thích hợp Khả năng hút đạm của cây chè còn phụ thuộc vào các yếu tố dinhdưỡng khác, bón quá nhiều đạm sẽ không mang lại hiệu quả kinh tế Tại các vùng khác nhau, ngưỡng bón đạm cũng rất khác nhau, nó phụ thuộc chặt chẽ vào đặc điểm khí hậu và tính chất đất đai của từng vùng Ở Đông Phi, lượng đạm bón cho chè khoảng 200 kg N/ha/năm, trong khi đó ở Srilanka và miền Nam Ấn Độ là từ 160 - 370 kg N/ha/năm, lượng bón này tùy thuộc vào năng suất lý thuyết của từng vùng Về số lần bón đạm việc bón đạm chia 2 - 3 lần không cho hiệu lực khác với bón 1 lần vào đầu vụ Điều này được

Trang 18

giải thích bởi bón nhiều lần tránh được rửa trôi, xói mòn nhưng lại tăng lượng đạm bị lấy đi

2.1.3.2 Sử dụng phân lân cho cây chè

Lân (P2O5) là yếu tố cần thiết cho sự sinh trưởng, phát triển của cây chè, nó đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành tán cây và bộ rễ Ngoài ra, lân còn rất cần thiết cho quá trình hô hấp và làm tăng hiệu quả sử dụng N Lân dễ di chuyển trong cây và thường có mặt ở các bộ phận thực hiện chức năng quang hợp mạnh nhất của cây như lá và búp non Cây chè chỉ có thể hấp thụ trực tiếp được 10% lượng lân bón, phần còn lại được giữ lại trong đất và cây chè sẽ sử dụng dần cho các thời kỳ tiếp theo Dey và Bhattacharya (1980) [27] cho rằng sử dụng phân lân liên tiếp trong thời gian quá dài sẽ làm tăng hàm lượng P2O5 trong lá Tuy nhiên, thiếu lân làm kìm hãm sự sinh trưởng và phát triển của cây, lá chè có màu xanh đục mờ, không sáng bóng Cây chè cần một lượng lân không lớn so với các yếu tố dinh dưỡng đa lượng khác (N và K2O) Ở miền Nam Ấn Độ, để sản xuất ra 100 kg chè thương phẩm cần 2,48 kg P2O5, trong đó búp ng ọn cần 0,50 kg, lá trên chồi cần 0,43 kg, lá rụng cần 0,29 kg, thân cành cần 0,83 kg và rễ cần 0,43 kg Cây chè đủ lân khi hàm lượng

P2O5 trong lá chè đạt từ 0,33 đến 0,39% và thiếu lân khi hàm lượng P2O5trong lá chè từ 0,27 đến 0,28% (Đỗ Ngọc Quỹ và Lê Tất Khương, 2000) [9] Theo các nghiên cứu cho thấy bón lân hợp lý sẽ làm tăng sinh trưởng cả phần trên và dưới mặt đất của cây chè Đối với cây chè ở vườn ươm, phân lân ảnh hưởng đến sinh trưởng và hấp thụ dinh dưỡng của cây Các dạng phân lân khác nhau có tác động khác nhau đến sự sinh trưởng của mầm và rễ cây chè Ở nước ta, chưa có nhiều nghiên cứu về hiệu quả của phân lân đối với năng suất và phẩm chất búp chè Kết quả thí nghiệm bón phân khoáng với lượng 100 kg N, 50 kg P2O5/ha/năm cho chè trong 10 năm tại Phú Hộ cho thấy năng suất chè tăng không đáng kể trong những năm đầu Từ năm thứ 7 trở đi, năng suất chè tăng rõ rệt (Đỗ Ngọc Quỹ và Lê Tất Khương, 2000) [9]

Bón lân ở mức 100 kg P2O5/ha/năm làm tăng năng suất chè búp khoảng 9-11% Tuy nhiên, nếu tăng mức bón lên 150 kg P2O5/ha/năm thì năng suất chè búp không tăng thêm, cây chè đạt được sản lượng cao nhất ở mức bón 90 kg P2O5/ha/năm, bón phân lân còn giúp nâng cao chất lượng chè Lân rất cần thiết để tạo hương vị chè Khi tăng liều lượng bón lân từ 60 - 120 - 180 kg P2O5/ha/năm đã làm tăng hàm lượng chất hòa tan tương ứng 1,00 - 2,29 - 3,00% và làm tăng hàm lượng tanin tương ứng

Trang 19

1,33 - 2,08 - 2,33% Các vùng trồng chè có đặc điểm đất đai, khí hậu khác nhau sẽ dẫn đến liều lượng và hiệu lực sử dụng các loại phân lân cũng khác nhau Hiệu lực phân lân ở vùng Á nhiệt đới rất cao, có thể tăng hơn hai lần sản lượng so với bón đạm cùng kali Lượng lân bón bình quân năm 120 kg P2O5/ha, song ưu thế cho sản lượng cao khi bón tập trung lượng 240 kg P2O5/ha hai năm một lần hoặc 480 kg P2O5/ha bốn năm một lần hoặc 960 kg P2O5/ha tám năm một lần Lượng bón ở mức 480 -960

kg P2O5/ha cho hiệu lực kéo dài 25 đến 30 năm Điều đó được giải thích bởi P tích lũy được phân giải dần trong đất ,muốn đạt 1.000 kg chè khô/ha/năm, cần bón 100

kg N, 50 kg K2O trên cơ sở bón phân lân đầy đủ ngay từ đầu (100 kg P2O5 khi gieo trồng) Trên những vùng đất chua, phần lớn lân bón vào đất đã chuyển thành dạngphốt phát khó tan Nếu được bón nhiều năm, lân chuyển thành dạng dễ tiêu cho cây trồng nhiều hơn và trở nên có hiệu lực Đối với đất nghèo lân thì ngược lại, lân bị giữ chặt trong đất, cây không hấp thụ được Như vậy, việc bón phân lân cho chè là có hiệu lực nhưng liều lượng bón lại tùy thuộc vào các loại đất khác nhau

2.1.3.3 Sử dụng phân kali cho cây chè

Kali có mặt trong tất cả các bộ phận của cây chè, nhất là ở thân, cành và các bộ phận đang sinh trưởng Kali tham gia vào quá trình trao đổi chất trong cây làm tăng khả năng hoạt động của các men Kali làm tăng tích luỹ gluxit, axit amin, khả năng giữ nước của tế bào, nâng cao năng suất, chất lượng búp và khả năng chống bệnh, chịu rét cho chè, cây chè thiếu kali khi hàm lượng K2O trong lá chè dưới 0,50% và cây chè đủ kali khi hàm lượng này lớn hơn 1% dẫn theo Đàm Lý Hoa, 2001 cho rằng kali có vai trò quan trọng trong việc sử dụng nước, đặc biệt là trong quá trình hấp thu

và vận chuyển nước Việc tăng một cách thích hợp lượng bón kali và đạm làm tăng khả năng chịu hạn cho các giống chè mẫn cảm với điều kiện khô hạn trong thời tiết hanh khô, khi tăng liều lượng bón kali đối với dòng chè TRI 2024 đã giúp cây chè giảm bớt sự bốc hơi nước, tăng sự phát triển của bộ rễ và khả năng chống hạn cho chè trong thời kỳ hanh khô Bón kali đơn độc sẽ hạn chế sự phát triển sinh khối cành và lá chè, điều này không có lợi cho sinh trưởng, phát triển của cây chè Một số nghiên cứu khác xác định vai trò của kali đối với sinh trưởng và năng suất búp còn là vấn đề chưa rõ ràng vì nó phụ thuộc vào hàm lượng kalicó trong đất và điều kiện khí hậu của từng vùng, tại các mức bón kali (0, 50, 100 và 250kg K2O /ha/năm) không làm tăng năng suất chè ở mức có ý nghĩa Trên các loại đất có hàm lượng kali tổng số

và dễ tiêu nghèo, việc bón kali sẽ làm tăng năng suất chè ở mức có ý nghĩa Nhu cầu kali bổ sung cho chè thay đổi tùy theo loại đất Vì vậy, việc định ra mức bón kali

Trang 20

chung là rất khó khi mà một trong các điều kiện như đất đai, địa hình, kỹ thuật canh tác và thời tiết khí hậu khác nhau Bón kali cho chè tại các mức 70, 140 và 200

kg K2O/ha/năm đã làm tăng năng suất so với đối chứng không bón kali tương ứng là

21, 24 và 30%

Ở Việt Nam, một số tác giả đã đưa ra dẫn liệu để chứng minh hiệu suất bón kali cho chè nhưng chưa có nghiên cứu nào công bố về liều lượng kali thích hợp đối với cây chè, bón kali làm tăng đáng kể năng suất chè khô, bội thu 156 - 336 kg/ha/năm và hiệu suất đạt 1,4 - 1,9 kg chè thương phẩm/kg K2O Tại mức bón 240

kg K2O /ha/năm, cây chè cho năng suất cao nhất Kali có tác dụng tăng sản lượng đều đặn từ mức thấp lên mức cao qua các lứa hái và tuổi vườn chè, với mức bón 100 kg

K2O /ha/năm có thể là giới hạn trên đối với phân kali trên đất thí nghiệm Tuy nhiên, trong thực tế, khó có thể đưa ra một con số cụ thể về hiệu lực của kali trong việc tăng năng suất chè Kali cũng ảnh hưởng rất rõ đến chất lượng chè Bón kali làm tăng hàm lượng chất hòa tan trong đọt chè từ 1,5 - 3,5%, tăng hàm lư ợng tanin từ 2,7 - 6,5% Bón kali cho chè trên nền đạm hoặc nền đạm và lân cũng làm cho hàm lượng tanin tăng từ 1,81 -1,85%, chất hòa tan tăng từ 1,0- 1,64% so với bón đạm đơn độc

Phương pháp bón kali tập trung 2 năm/lần với lượng 200 kg K2O hay 400 kg

K2O /ha với 4 năm/lần được áp dụng ở vùng Á nhiệt đới như Gruzia Ở đây, việc bón kali chỉ được áp dụng từ 10 đến 15 năm sau trồng, trước đó kali không có hiệu lực Tại các vùng trồng chè khác, kali được bón nhiều lần trong năm với phương pháp bón rải trên mặt đất để hạn chế sự rửa trôi theo chiều sâu và chiều ngang Nhiều nghiên cứu đều xác định khi bón kali cần coi trọng tỷ lệ N/K, vì cùng với việc bón đạm cần thiết bón kali đều đặn Có mối quan hệ một chiều là bón tăng kali làm tăng hiệu lực đạm nhưng tăng lượng đạm không làm tăng hiệu lực phân kali

2.2 Sự chuyển hóa đạm trong đất trồng chè và hệ quả

Từ bón phân đất và N, NH4+ được hấp thu nhanh hơn NO3- bởi cây chè Cả quá trình nitrat hóa và hấp thụ NH4 + của cây có thể dẫn đến sự axit hóa đất

Trong quá trình nitrat hóa, quá trình oxy hóa 1 mol NH4 + dẫn đến việc giải phóng 2 mol H + vào đất Trong đất chua, nhôm (Al) hòa tan dần dần từ khoáng chất đất gây độc cho cây trồng và làm giảm năng suất cây trồng Tuy nhiên, trà là một cây tích lũy Al được trồng trong đất chua đã phát triển khả năng chịu được nồng độ cao của mô Al3 + Nó cũng đã được báo cáo rằng cây chè chiếm Al trong quá trình sinh

Trang 21

trưởng và có hàm lượng Al cao hơn nhiều cây khác và nhôm là thành phần quan trọng trong khẩu phần ăn của trà

Hấp thụ quá nhiều Al qua đường uống có hại cho sức khỏe, có thể gây suy yếu thận Al có liên quan đến bệnh Alzheimer, bệnh Parkinson và bệnh não lọc máu Do

đó, hàm lượng Al trong lá trà là một chỉ số quan trọng về chất lượng chè PH đất là một yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc giải phóng và hình thành các nguyên tố khoáng chất đối với thực vật, nồng độ Al trong đất vườn chè và sự hấp thu của Al bởi cây chè nên được xem xét chặt chẽ với độ pH của đất Mặt khác, cây chè phát triển tốt nhất trong đất chua với pH dao động từ 4.0 đến 5.5 và cây chè có khả năng chống nhôm và có thể tự bảo vệ mình khỏi bị thương bằng cách bẫy một lượng lớn Al trong

lá già

Hơn nữa, Al dường như có lợi cho sự phát triển thích hợp của trà Kết luận rằng tổng chiều dài rễ gốc có liên quan tích cực đến nồng độ Al trong rễ; Các phương pháp điều trị bằng nhôm đã kích hoạt các enzym phòng thủ chống oxy hóa và tăng hàm lượng axit amin L-proline tự do

Để sản xuất chè năng suất cao, việc trồng chè đã được thực hiện với việc bón phân quá mức Để giảm hàm lượng Al trong lá trà hàm lượng nhôm trong lá trưởng thành của trà có thể được giảm bằng cách tăng tỷ lệ phân bón N Tuy nhiên, nhìn chung, sự hấp thụ N được coi là yếu tố chính của sự axit hoá đất ở đất trồng trọt Một trong những bằng chứng là bón phân N lượng lớn, chủ yếu là amoni sunfat trong các ruộng chè làm giảm độ pH của đất từ 3 đến 4 và mặc dù có điều kiện pH thấp, phân bón ammonium là nhanh chóng bị oxy hóa thành nitrate

Việc lọc trôi chất dinh dưỡng do bón phân quá mức trong trồng chè được ghi nhận là một vấn đề môi trường Có sự gia tăng nồng độ NO3 - trong nước ngầm xung quanh các khu vực trồng chè thâm canh do bón phân N nặng trong các cánh đồng chè Các thành phần hòa tan chính của nước suối và nước sông bắt nguồn từ một lưu vực trồng chè là Ca2 +, Mg2 +, NO3- và SO42- Điều này chỉ ra rằng một lượng lớn chất dinh dưỡng từ phân bón không được hấp thụ bởi cây chè Rõ ràng là bón nitơ với NH4 + (ure và (NH4) 2SO4) và axit hóa đất có thể dẫn đến sự tích tụ nhôm (Al), thiếu phốt pho (P), và giảm đáng kể các cation cơ sở dinh dưỡng (Ca2 +, Mg2 +, và

K +) trong đất ruộng

Trang 22

Do đó, một số yếu tố dinh dưỡng quan trọng sẽ thiếu trong khi hàm lượng kim loại nặng và flo (F) trong lá chè thu hoạch tăng dẫn đến suy giảm chất lượng chè Từ đầu thế kỷ 20, một số liệu lớn về mối quan hệ giữa quản lý đất và sự phát triển của cây chè cũng như giữa phân bón và chất lượng chè đã được báo cáo Tại Nhật Bản, lượng phân bón áp dụng cho các cánh đồng chè là khoảng 100 kg N/ha vào năm 1901

và tăng lên 250 kg N/ha vào năm 1933, 400 kg N/ha vào năm 1965, 600 kg N/ha vào năm 1975 và 1000 kg N/ha vào năm 1993 Tỷ lệ trung bình của phân bón N ứng dụng

ở Trung Quốc đã được báo cáo là 521 kg/ha, vượt xa số tiền cần thiết, 240 kg/ha Kết quả là, năng suất của trà thô tăng từ khoảng 0,5 Mg/ha trong những năm 1900 đến khoảng 20,5 Mg/ha vào những năm 1950 nhưng vẫn gần như không thay đổi kể từ cuối những năm 1960 trong khi pH đất giảm dần từ các giá trị axit trung tính hoặc nhẹ vào năm 1973 với giá trị axit mạnh vào năm 1993, giảm khoảng 2 đơn vị trở lên

Liên quan đến tác động của nitơ đối với chất lượng chè, hiện nay có nhiều bằng chứng cho thấy sự tăng trưởng của cây chè được cải thiện với NH4 + so với NO3- dinh dưỡng Cây cung cấp NO3- cho thấy lá vàng và tăng trưởng chậm hơn nhiều so với cây NH4 + và cây chè thích nghi tốt với môi trường giàu NH4 + Việc tăng nguồn cung cấp N làm tăng sự phân bổ các axit amin tự do và tổng số axit amin tự do đã tăng đáng kể trong các cây chè được cung cấp NH4 +

Mg cũng được biết đến là một thành phần quan trọng trong chất lượng trà với nguồn cung cấp đầy đủ và nồng độ axit amin tự do trong các chồi non của cây chè đã được tăng lên bởi ứng dụng phân bón Mg vì bón phân Mg tăng đáng kể sự hấp thụ và phục hồi phân bón N , trong khi thiếu Mg làm giảm hoạt tính của nitrate reductase và glutamine synthesta việc bón một lượng lớn phân bón N tăng đáng kể hàm lượng Al chiết được nhưng giảm pH và hàm lượng cation cơ sở trao đổi trong đất chè trong khi hàm lượng Al trong lá trưởng thành và chồi non giảm đáng kể

Trang 23

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hàm lượng đạm vô cơ trong đất trồng chè tại xã Tân Cương, thành phố Thái

Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Phạm vi không gian

Khu vực nghiên cứu nằm ở phía bên trái (phía Bắc) của sông Công (chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam) xã Tân Cương Hướng nghiên cứu được thiết lập ở trung tâm xã (theo vị trí địa lý) vuông góc với hướng chảy của sông Công, trên đó 4

vườn chè được xác định làm điểm nghiên cứu

3.2.2 Phạm vi thời gian

Từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 5 năm 2018

3.2.3 Địa điểm nghiên cứu

Tại 4 vườn chè của 4 gia đình:

- Nhà chú Trần Hữu Quân tại xóm Hồng Thái 2, xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

- Nhà Bác Lương Văn Nghìn tại xóm Hồng Thái 2, xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

- Nhà chú Nông Văn Quang tại xóm Hông Thái 1, xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

- Nhà Cô Trần Thị Tám tại xóm Soi Vàng, xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

- Đánh giá thực trạng sản xuất chè của xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

- Đánh giá hàm lượng đạm vô cơ và mối tương quan giữa hàm lượng đạm vô

cơ trong đất và trong dung dịch đất

- Đề xuất giải pháp thúc đẩy sản xuất chè bền vững

Trang 24

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp cấp

Thu thập số liệu thứ cấp liên quan tới nội dung gnhieen cứu gồm điều kiện khí hậu, đất đai( đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình, tình hình sử dụng đất), điều kiện kinh tế xã hội ( cơ sở kinh tế, hạ tầng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, dân số, tập quán canh tác) số lượng được thu thập tại UBND xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

3.4.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn

- Phỏng vấn người dân bằng phiếu câu hỏi điều tra

- Số hộ được phỏng vấn 40

- Phương pháp chọn đối tượng phỏng vấn: chọn ngẫu nhiên, có chọn lọc

- Phương pháp phỏng vấn: lựa chọn các câu trả lời có sẵn, trả lời các câu hỏi đóng và câu hỏi mở

3.4.3 Phương pháp lấy mẫu

3.4.3.1 Phương pháp lấy mẫu đất

Tại 4 vườn chè được chọn để nghiên cứu trong mỗi vườn chè mẫu đất được lấy

ở tầng mặt (0 - 30 cm) để xác định các tính chất vật lý, hóa học của đất nghiên cứu

Bảng 3.1 Tọa độ các điểm nghiên cứu

3.4.3.2 Phương pháp lấy mẫu dung dịch

Áp dụng công nghệ của Nhật Bản hút dung dịch đất nhờ bơm áp suất, sau đây là hình ảnh mô tả công nghệ hút dung dịch đất:

Trang 25

Hình 3.1 Mô tả công nghệ hút dung dịch đất bằng áp suất

Tại mỗi vườn đặt 1 điểm để cắm ông hút dung dịch tại sát chân cây chè Điểm đặt ông hút dung dịch sẽ nằm tại điểm giữa vườn chè Chu kì hút dung dịch đất là 5 đến 7 ngày, tính từ ngày đầu tiên đi bơm áp suất vào bình sau 24h đến 48h sau sẽ thu được dung dịch mang về phòng thì nghiệm để phân tích

3.4.4 Phương pháp phân tích mẫu

3.4.4.1 Phương pháp phân tích đất

Mẫu đất được phơi khô ngoài trời và sau đó đi qua sàng lưới 2,00 mm PH đất được đo bằng nước Độ dẫn điện (EC) được đo bằng cách sử dụng đồng hồ EC (CM-14P; TOA) ) Lượng T-C và T-N được phân tích bằng CN Corder (JM 1000; phòng thí nghiệm khoa học J) ) Nitơ vô cơ (NH4 + -N và NO3 - N) được chiết xuất bằng KCl 2M và được xác định bằng phương pháp chưng cất hơi nước bằng MgO và hợp kim của Devada

3.4.4.2 Phương pháp phân tích dung dịch

Các chỉ tiêu pH, NO3, và độ dẫn điện (EC) được phân tích bằng thiết bị kiểm tra nhanh

Trang 26

-NH4 pha 1ml dung dịch đất với 4 ml nước cất sau đó lắc đều rồi để trong vòng 8p đến 10p Sau đó sử dụng thuốc thử đo

3.4.5 Phương pháp thu thập dữ liệu

- Thu thập số liệu thống kê từ các cơ quan chuyên môn, các tài liệu nghiên cứu

về chè trong và ngoài nước

- Sử dụng phương pháp “Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của cộng đồng (PRA)” và điều tra theo bảng câu hỏi để thu thập các số liệu liên quan đến hiện trạng sử dụng đất tại các vườn chè về khả năng áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và nhu cầu áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới, sự tác động của việc áp dụng kỹ thuật tiến

bộ, cũng như để đánh giá sơ bộ về năng suất và chất lượng của các nương chè điều tra

-Từ kết quả phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm và kết hợp với khảo sát thực

tế để đưa ra kết luận về các thành phần môi trường

Ngày đăng: 29/07/2022, 16:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm