LỜI CẢM ƠN Đề tài nghiên cứu: “Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý”, được hoà
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
TRẦN TRỌNG LONG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN LAO VÀ BỆNH PHỔI THÁI NGUYÊN,
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học Môi trường
Khóa học : 2014 – 2018
Thái Nguyên - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
TRẦN TRỌNG LONG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN LAO VÀ BỆNH PHỔI THÁI NGUYÊN,
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học Môi trường
Khoa : Môi Trường Khóa học : 2014 – 2018 Giảng viên hướng dẫn: ThS Hoàng Thị Lan Anh
Thái Nguyên - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Em xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Sinh viên
Trần Trọng Long
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Đề tài nghiên cứu: “Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải
rắn y tế tại bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý”, được hoàn thành với sự hướng dẫn và giúp đỡ
nhiệt tình của ThS.Hoàng Thị Lan Anh, cô đã theo sát, tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo trường Đại học Nông Các thầy,
cô giáo khoa Môi Trường, trường Đại học Nông Lâm đã tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập và hoàn thành khóa học
Xin chân thành cảm ơn ban Giám đốc, các phòng, khoa của Bệnh Lao
và Bệnh Phổi Thái Nguyên, đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu và hoàn thành luận văn
Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân và bạn bè đã quan tâm, chia sẻ khó khăn và động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Do thời gian và lượng kiến thức có hạn nên đề tài của em không tránh khỏi nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Người thực hiện
Trần Trọng Long
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Lượng chất thải y tế phát sinh theo giường bệnh trên thế giới 12 Bảng 2.2 Khối lượng CTRYT phát sinh ở một số nước Châu Á 13 Bảng 2.3 Sự biến động về khối lượng CTYTNH phát sinh tại các loại cơ sở y
tế khác nhau 15 Bảng 2.4 Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện 17 Bảng 2.5 Hiện trạng thu gom, phân loại chất thải rắn y tế tại các bệnh viện
trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2010 20 Bảng 4.2 Nguồn gốc phát sinh rác thải y tế Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái
Nguyên 30 Bảng 4.3 Thành phần CTRYT trong bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái
Nguyên 2017 30 Bảng 4.4 Khối lượng CTRYT phát sinh trong một ngày tại các khoa , phòng
của bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên 33 Bảng 4.5 Phân loại và thu gom chất thải tại bệnh viện Lao và Bênh Phổi Thái
Nguyên 36
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Biểu đồ gia tăng CTYT của 1 số địa phương giai đoạn2005-2009 17 Hình 2.2 Biểu đồ tình hình phát sinh CTYT của 19 bệnh viện tuyến TW 17 Hình 4.1 : Sơ đồ bệnh viện 28 Hình 4.2 : Phương tiện vận chuyển CTRYT tại bệnh viện 37
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC vi
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa đề tài 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.2 Tác động của chất thải rắn y tế tới môi trường và sức khỏe cộng đồng 9
2.3 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên Thế giới và Việt Nam 12
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 24
3.2 Nội dung nghiên cứu 24
3.3 Phương pháp nghiên cứu 24
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
4.1 Tổng quan về Bệnh Viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên 26
4.2.Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên 29
4.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn y tế của Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên 38
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42
Trang 95.1 Kết luận 42
5.2 Kiến nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 10
Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay, kinh tế nước ta đang ngày càng phát triển theo xu hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, từ đó đời sống người dân ngày càng được nâng cao Cùng với sự phát triển kinh tế không ngừng thì các vấn đề xã hội như y tế, văn hóa, giáo dục, … ngày càng được quan tâm và đầu tư, chất lượng cuộc sống của mọi người ngày càng được cải thiện
Chính vì vậy, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách y tế, dịch vụ chăm sóc sức khỏe được hình thành, cùng với đó các bệnh viện, trung tâm y tế được xây dựng mới nhằm phục vụ nhu cầu khám và chữa bệnh ngày càng tăng cao
Bên cạnh công tác khám chữa bệnh ngày càng được chú trọng, vấn đề sức khỏe con người được quan tâm và đặt lên hàng đầu Ngành y tế đã có những chuyển biến mạnh mẽ với trang bị máy móc kỹ thuật hiện đại phục vụ cho nhu cầu khám chữa bệnh của con người Nhưng song song với sự phát triển
đó có nhiều vấn đề phát sinh và cần được quan tâm Xu thế sử dụng các sản phẩm chỉ dùng một lần trong y tế càng khiến lượng chất thải rắn y tế phát sinh ngày càng tăng, trong đó có nhiều nhóm chất thải nguy hại đối với con người
và môi trường xung quanh
Do đó, vấn đề quản lý và xử lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện, trung tâm y tế hiện nay là vấn đề được toàn xã hội quan tâm Chất thải rắn y tế là một trong những chất thải nguy hại vào loại bậc nhất, việc quản lý và xử lý rất phức tạp và khó khăn
Từ tình hình thực tế và yêu cầu của việc đánh giá quản lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện Được sự đồng ý của Khoa Môi trường, dưới sự hướng dẫn
của ThS.Hoàng Thị Lan Anh, em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh thực
Trang 11trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý” Từ đó làm rõ
hơn về hiện trạng quản lý, xử lý chất thải rắn của bệnh viện, đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả trong thu gom, quản lý và xử lý chất thải rắn y tế , phù hợp với các tiêu chuẩn môi trường cho phép và hướng tới nền kinh tế phát triển bền vững về mặt môi trường
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý chất thải y tế, nâng cao chất lượng môi trường
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá công tác quản lý và xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Lao
và Bệnh Phổi Thái Nguyên
- Phân tích các nguyên nhân còn tồn tại của việc thu gom, phân loại, lưu trữ, vận chuyển, xử lý rác thải
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên
- Đánh giá hiểu biết của cán bộ nhân viên, bệnh nhân về tình hình quản
lý rác thải y tế của bệnh viện
1.3 Ý nghĩa đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Vận dụng, phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu áp dụng vào thực tế
- Rèn luyện về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu, tiếp thu, học hỏi những kinh nghiệm từ thực tế
Trang 12- Nâng cao kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá được các mặt tích cực, hạn chế trong công tác quản lý và xử
lý chất thải rắn y tế tại Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên
- Có những biện pháp đề xuất hiệu quả, khả thi trong công tác quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện
- Góp phần chung vào công tác bảo vệ môi trường của đất nước
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Một số khái niệm
Định nghĩa chất thải y tế
Theo thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT của Bộ Y Tế và
Bộ Tài Nguyên và Môi Trường ngày 31 tháng 12 năm 2015 Quy định về Quản lý chất thải y tế[18]:
- Chất thải y tế (CTYT): Theo quy định về quản lý chất thải y tế của Bộ
Y tế ban hành, chất thải y tế là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo, chất thải y
2.1.2 Phân loại chất thải rắn y tế
2.1.2.1.Nguyên tắc phân loại chất thải y tế:
- Chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế thông thường phải phân loại để quản lý ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát sinh
- Từng loại chất thải y tế phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải theo quy định Trường hợp các chất thải y tế nguy
Trang 14hại không có khả năng phản ứng, tương tác với nhau và áp dụng cùng một phương pháp xử lý có thể được phân loại chung vào cùng một bao bì, dụng
cụ, thiết bị lưu chứa
- Khi chất thải lây nhiễm để lẫn với chất thải khác hoặc ngược lại thì hỗn hợp chất thải đó phải thu gom, lưu giữ và xử lý như chất thải lây nhiễm
2.1.2.2.Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại chất thải:
- Mỗi khoa, phòng, bộ phận phải bố trí vị trí để đặt các bao bì, dụng
cụ phân loại chất thải y tế;
- Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại chất thải y tế phải có hướng dẫn cách phân loại và thu gom chất thải
2.1.2.3.Phân loại chất thải y tế:
Thông tư liên tịch số 58/2015 TTLT-BYT-BTNMT, ngày 31 tháng 12 năm 2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường sửa đổi, bổ sung một
số điều của Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của
Bộ Y tế về việc ban hành Quy định về quản lý chất thải y tế;- Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: Đựng trong thùng hoặc hộp có màu vàng;
- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn: Đựng trong túi hoặc trong thùng
Trang 15- Chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu xanh;
- Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu trắng
2.1.3 Nguồn gốc phát sinh và khối lượng chất thải rắn y tế
2.1.3.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế
Toàn bộ chất thải rắn trong bệnh viện phát sinh từ các hoạt động diễn ra trong bệnh viện, bao gồm:
- Các hoạt động khám chữa bệnh như: chuẩn đoán, chăm sóc, xét nghiệm, điều trị bệnh, phẫu thuật,…
- Các hoạt động nghiên cứu, thí nghiệm trong bệnh viện
- Các hoạt động hàng ngày của nhân viên, bệnh nhân, thân nhân
2.1.3.2 Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh
Nắm được số lượng chất thải phát sinh là điều quan trọng để đưa ra những cách xử lý khác nhau Tuy nhiên, trên thực tế việc ước tính khối lượng chất thải phát sinh từ hoạt động của các cơ sở y tế nói chung và từ hoạt động của các bệnh viện là công việc khó khăn Thông thường, khối lượng chất thải phát sinh phụ thuộc vào quy mô bệnh viện, cán bộ y tế và các phương pháp kĩ thuật áp dụng trong điều trị bệnh
2.1.4 Thành phần của chất thải rắn y tế
* Thành phần vật lý:
+ Đồ bông vải sợi: gồm bông gạc, băng, quần áo cũ, khăn lau, vải trải… + Đồ giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh…
+ Đồ thủy tinh: chai lọ, ống tiêm thủy tinh, ống nghiệm…
+ Đồ kim loại: kim tiêm, dao mổ, hộp đựng dụng cụ mổ…
+ Đồ nhựa: hộp đựng, bơm tiêm, dây truyền máu, túi đựng hàng…
* Thành phần hóa học:
Trang 16+ Những chất vô cơ: kim loại, bột bó, chai lọ thủy tinh, sỏi đá, hóa chất…
+ Những chất hữu cơ: đồ vải sợi, giấy, bộ phận cơ thể, đồ nhựa…
+ Thành phần gồm các nguyên tố: C, H, O, N, S, Cl và một số phân tro Trong đó:
- Thành phần hữu cơ: Phần vật chất có thể bay hơi sau khi được nung ở nhiệt độ 950oC
- Thành phần vô cơ (tro) là phần tro còn lại sau khi nung rác ở 950oC
2.1.5 Một số phương pháp xử lý chất thải rắn y tế
Theo quy định của Bộ Y tế về xử lý chất thải y tế, mỗi phân nhóm, mỗi loại chất thải đều phải có phương pháp xử lý riêng phù hợp cho từng đối tượng Mục đích của việc xử lý chất thải rắn y tế là loại bỏ những đặc tính nguy hiểm như lây nhiễm, truyền bệnh để biến chúng thành rác thải thông thường và có thể xử lý giống như các loại chất thải thông thường khác
* Phương pháp khử trùng
Phương pháp này được áp dụng để khử trùng đối với chất thải rắn y tế
có nguy cơ lây nhiễm cao nhằm hạn chế xảy ra tai nạn cho nhân viên thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn trong bệnh viện
- Khử trùng bằng hóa chất: Clo, Hypoclorite… là phương pháp rẻ tiền, đơn giản nhưng có nhược điểm là thời gian tiếp xúc ít không tiêu hủy hết vi khuẩn trong chất thải
- Khử trùng bằng nhiệt ở áp suất cao: là phương pháp đắt tiền, đòi hỏi chế độ vận hành, bảo dưỡng cao, xử lý kim tiêm khi nghiền nhỏ, làm biến dạng Nhược điểm của phương pháp là tạo mùi hôi nên với bệnh viện có lò đốt thì kim tiêm đốt trực tiếp
Trang 17- Khử trùng bằng siêu cao tần: có hiệu quả khử trùng tốt, năng suất cao Tuy nhiên, đòi hỏi kỹ thuật cao, thiết bị đắt tiền và yêu cầu có chuyên môn, là phương pháp chưa phổ biến
* Phương pháp chôn lấp
Có 2 phương pháp chôn lấp: chôn lấp hoàn toàn và chôn lấp có xử lý:
- Chôn lấp hoàn toàn: phương pháp đơn giản nhất, rẻ tiền nhưng không
vệ sinh, dễ gây ô nhiễm các nguồn nước ngầm và tốn diện tích đất chứa bãi rác Đối với chất thải nguy hại cần phải đảm bảo sao cho bãi chôn lấp cần tách biệt hoàn toàn với môi trường xung quanh
- Chôn lấp có xử lý: Rác thải thu gom về được phân ra làm 2 loại: rác vô
cơ và rác hữu cơ Đối với rác vô cơ được đem đi chôn lấp, còn rác hữu cơ được xử lý và ủ làm phân bón
* Thiêu đốt chất thải rắn y tế
- Phương pháp thiêu đốt chỉ sử dụng khi chất thải là chất độc sinh học, không bị phân hủy sinh học và bền vững trong môi trường Và một số chất thải không thể tái chế, tái sử dụng hay dự trữ an toàn trong bãi chôn lấp Phần tro sau khi đốt được chôn lấp
- Chất thải được đốt ở nhiệt độ cao, được sử dụng như một biện pháp xử lý
để giảm tính độc, thu hồi năng lượng và có thể xử lý một lượng lớn chất thải
Nhìn chung dung lò đốt là phương pháp sạch nhưng chi phí cao
2.1.6 Một số văn bản liên quan đến vấn đề chất thải rắn y tế
Ở nước ta chất thải y tế được quản lý bằng hệ thống văn bản pháp luật do Quốc hội, Chính phủ ban hành và các văn bản quản lý, hướng dẫn thực hiện của Bộ Y tế và Bộ tài nguyên môi trường như:
-Luật bảo vệ môi trường 2014, được Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua ngày 23/6/2014 Quy định về bảo vệ môi trường trong bệnh viện và các cơ sở y tế
Trang 18- Thông tư liên tịch số 58/2015 TTLT-BYT-BTNMT, ngày 31 tháng 12 năm 2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường sửa đổi, bổ sung một
số điều của Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của
Bộ Y tế về việc ban hành Quy định về quản lý chất thải y tế;
- Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 06 năm 2015 quản
lý chất thải rắn nguy hại
- Quyết định số 2038/QĐ-TTG của thủ tướng chính phủ ngày 15/11/2011: Phê duyệt đề án tổng thể xử lý chất thải y tế giai đoạn 2011-2015
và định hướng đến năm 2020
- QCVN02:2008/BTNMT- quy chuẩn quốc gia, yêu cầu kĩ thuật khí thải
lò đốt chất thải rắn y tế
- TC 3773/2002/QĐ-BYT: Tiêu chuẩn vệ sinh môi trường lao động
2.2 Tác động của chất thải rắn y tế tới môi trường và sức khỏe cộng đồng
2.2.1 Đối với môi trường
* Đối với môi trường đất
Khi chất thải y tế được xử lý giai đoạn trước khi thải bỏ vào môi trường không đúng cách thì các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại, các vi khuẩn
có thể ngấm vào môi trường đất gây nhiễm độc cho môi trường sinh thái, các tầng sâu trong đất, sinh vật kém phát triển… làm cho việc khắc phục hậu quả
về sau lại gặp khó khăn
* Đối với môi trường không khí
Chất thải bệnh viện từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều gây ra những tác động xấu đến môi trường không khí Khi phân loại tại nguồn thu gom, vận chuyển chúng phát tán bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất vào không khí Ở khâu xử lý (đốt, chôn lấp) phát sinh ra các khí độc hại, NOx, đioxin, furan HX… từ lò đốt và CH4, NH3, H2S… từ bãi chôn
Trang 19lấp Các khí này nếu không được thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của cộng đồng dân cư xung quanh
* Đối với môi trường nước
Khi chôn lấp chất thải y tế không đúng kỹ thuật và không hợp vệ sinh Đặc biệt là chất thải y tế được chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt có thể gây ô nhiễm nguồn nước ngầm Đặc trưng của chất thải bệnh viện là bị nhiễm BOD, COD, kim loại nặng và các vi khuẩn gây bệnh Do đó nếu không được quản lý nghiêm ngặt, khi mưa nước chảy tràn sẽ cuốn nước thải bệnh viện đi vào nguồn nước mặt như: ao, hồ, sông, ngòi Các chất này sẽ gây ô nhiễm nguồn nước mặt, một phần ngấm xuống đất mang theo các chất ô nhiễm, vi khuẩn gây bệnh vào nguồn nước ngầm gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguồn nước Gây ra các bệnh truyền nhiễm đường ruột như: thương hàn, tả, tulare, brucella (Bùi Thanh Tâm, 2002) [17]
2.2.2 Đối với sức khỏe cộng đồng
* Đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp chất thải rắn y tế
Tất cả các cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người có nguy cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những người ở ngoài các cơ sở y tế làm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do hậu quả của sự sai sót trong khâu quản lý chất thải Dưới đây là những nhóm chính có nguy
cơ cao:
- Bác sĩ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện
- Bệnh nhân điều trị nội trú hoặc ngoại trú
- Khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân
- Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ phục vụ cho các cơ
sở khám chữa bệnh và điều trị như: Giặt là, lao công, vận chuyển bệnh nhân…
Trang 20- Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải (tại các bãi đổ rác thải, các lò đốt rác) và những người bới rác, thu gom rác…
* Tác động từ chất thải rắn y tế
+ Từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn
Các vật thể trong thành phần của CTRYT có thể chứa đựng một lượng rất lớn bất kỳ tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm nào Một mối nguy
cơ rất lớn hiện nay đó là virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch (HIV) cũng như các virus lây qua đường máu như viêm gan B, C có thể lan truyền ra cộng đồng qua con đường rác thải y tế Các tác nhân này có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các cách thức:
- Qua da (qua một vết thủng, trầy xước hoặc vết cắt trên da)
- Qua các niêm mạc (màng nhầy)
- Qua đường hô hấp (do xông, hít phải)
- Qua đường tiêu hoá
+ Ảnh hưởng của hoá chất thải và dược phẩm
Nhiều loại hoá chất và dược phẩm được sử dụng trong các cơ sở y tế
là những mối nguy cơ đe dọa sức khoẻ con người (các độc dược, các chất gây độc gen, chất ăn mòn, chất dễ cháy, các chất gây phản ứng, gây nổ…) Các loại chất này thường chiếm số lượng nhỏ trong chất thải y tế, với số lượng lớn hơn có thể tìm thấy khi chúng quá hạn, dư thừa hoặc hết tác dụng cần vứt bỏ Những chất này có thể gây nhiễm độc khi tiếp xúc cấp tính và mãn tính, gây
ra các tổn thương như bỏng, ngộ độc Sự nhiễm độc này có thể là kết quả của quá trình hấp thụ hóa chất hoặc dược phẩm qua da, qua niêm mạc, qua đường
hô hấp hoặc đường tiêu hóa
+ Chất thải phóng xạ
Loại bệnh gây ra do chất thải phóng xạ được xác định bởi loại chất thải
và phạm vi tiếp xúc Nó có thể là đau đầu, hoa mắt chóng mặt, buồn nôn và
Trang 21nhiều bất thường khác Bởi chất thải phóng xạ, cũng như loại chất thải dược phẩm, là một loại độc hại gen, nó cũng có thể ảnh hưởng đến các yếu tố di truyền Tiếp xúc với các nguồn phóng xạ có hoạt tính cao, ví dụ như các nguồn phóng xạ của các phương tiện chẩn đoán (máy X_Quang, máy chụp cắt lớp…), có thể gây ra một loạt các tổn thương (chẳng hạn như phá huỷ các mô,
từ đó đòi hỏi phải dẫn đến việc xử lý loại bỏ hoặc cắt cụt các phần cơ thể).(Bộ
Y tế, 2007)[15]
2.3 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên Thế giới và Việt Nam
2.3.1 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên Thế giới
2.3.1.1 Hiện trạng phát sinh CTRYT trên thế giới
* Khối lượng phát sinh CTRYT trên thế giới
Khối lượng CTYT phát sinh phụ thuộc vào các yếu tố như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại, quy mô bệnh viện, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân và thải rác của bệnh nhân ở các khoa, phòng [6]
Bảng 2.1 Lượng chất thải y tế phát sinh theo giường bệnh trên thế giới
Tuyến bệnh viện Tổng lượng CTYT
(Nguồn: Giáo trình sau đại học môn Vệ sinh môi trường, 2007)[22]
Các bệnh viện (BV) tuyến trung ương (TW) lượng chất thải rắn phát sinh lớn hơn rất nhiều so với các bệnh viện tuyến tỉnh, huyện Nguyên nhân là
do các bệnh viện tuyến trên có quy mô lớn hơn các bệnh viện tuyến dưới Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh giữa các nước cũng khác nhau
Trang 22Bảng 2.2 Khối lượng CTRYT phát sinh ở một số nước Châu Á
Nước
Chất thải phát sinh (kg/giường/ngày)
Tổng chất thải phát sinh (tấn/năm)
Nguồn: Medical Waste Management Issues in Asia,2006)[23]
Tình hình quản lý CTRYT
Tất cả các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến việc quản lý chất thải đặc biệt là CTYT bởi những đặc tính nguy hại của chúng có thể gây ra cho cộng đồng và môi trường Sự quan tâm của các quốc gia phát triển, nước có tiềm lực về kinh tế về CTYT cao hơn nhiều so với các quốc gia đang phát triển Một điều dễ nhận thấy trên thực tế những nước có thu nhập cao thường tạo ra nhiều chất thải hơn nước có thu nhập trung bình và nước có thu nhập thấp, lượng chất thải tạo ra từ bệnh viện cấp trên cao hơn so với bệnh viện cấp dưới Theo kết quả điều tra tại 15 bệnh viện tư nhân tại tỉnh Fars (Iran) trong
số 50 bệnh viện, mỗi ngày có khoảng 4,45 kg/giường/ngày thải ra 1830 kg rác thải sinh hoạt (RTSH) (chiếm 71,44%), 721 kg rác lây nhiễm (chiếm 27,8%)
và 19,6 kg các vật sắc nhọn (chiếm 0,76%) Rác thải chưa được phân loại theo đúng quy định Hai trong số các bệnh viện này sử dụng xe chuyên chở rác không có nắp đậy, 9 bệnh viện đã được trang bị lò đốt nhưng 6 trong số chúng gặp khó khăn trong quá trình vận hành lò đốt Ở các bệnh viện này, các nhân viên không được đào tạo về quản lý chất thải y tế cũng như các mối nguy hại
Trang 23mà rác thải y tế đem đến [30]
Nghiên cứu về CTRYT đã được tiến hành tại nhiều nước, đặc biệt là các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Canada… Các nghiên cứu đã quan tâm đến nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh; phân loại CTRYT; quản lý CTRYT (biện pháp làm giảm thiểu chất thải, tái sử dụng chất thải, xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải…); tác hại của CTRYT đối với môi trường sức khỏe; biện pháp làm giảm tác hại của CTRYT đối với sức khỏe cộng đồng, sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng đồng; những vấn đề liên quan của y tế công cộng với CTRYT; tổn thương nhiễm khuẩn ở y tá, hộ lý và người thu gom rác; nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu nhặt rác, vệ sinh viên và cộng đồng; người phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhân viên y tế [26][29]
Ở hầu hết các quốc gia phát triển biện pháp xử lý thường được sử dụng
là các lò đốt ở nhiệt độ cao, tùy từng loại chất thải nhiệt độ đốt có thể từ 1000
- 4000oC Tuy nhiên hiện nay phương pháp này vẫn còn đang tranh cãi về việc xử lý khí và bụi sau khi đốt Ngoài ra, còn có phương pháp khác để giải quyết vấn đề này là phương pháp nghiền nát chất thải rắn y tế và xử lý dưới nhiệt độ, áp suất cao để tránh việc phát sinh khí thải trong khi xử lý Sau khi được xử lý, chất thải rắn y tế được chuyển đến bãi rác thông thường vì đã đạt tiêu chuẩn tiệt trùng
Tại Trung Quốc, Cục Bảo vệ môi trường đã ban hành các quy định về
kỹ thuật xây dựng các nhà máy thiêu đốt và xử lý tập trung chất thải y tế, kỹ thuật chế tạo các thiết bị thiêu đốt và xử lý tập trung chất thải y tế, quy định
về kỹ thuật xây dựng bãi chôn lấp và xử lý an toàn hóa chất nguy hại năm
2014 [25]
Nhiều nước trên thế giới đang áp dụng những phương pháp để giảm
Trang 24thiểu rác thải như không sử dụng bao tay, áo choàng, khăn trải trong bệnh viện bằng chất dẻo nhân tạo mà được thay thế bằng cao su tự nhiên; tái chế sử dụng thủy ngân trong các hỗn hợp kim loại dùng trong bệnh viện; tiệt trùng và
sử dụng lại một số trang phục; sử dụng lại qua chưng cất các dung môi thông thường trong bệnh viện như benzen, toluene, xylen [26]
2.3.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam
2.3.2.1.Hiện trạng phát sinh CTRYT tại Việt Nam
Theo nghiên cứu điều tra mới nhất của Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế
và Viện Kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng, năm 2009-2010, tổng lượng CTRYT trong toàn quốc khoảng 100-140 tấn/ngày, trong đó có 16-30 tấn/ngày là CTRYT nguy hại Lượng CTR trung bình là 0,86 kg/giường/ngày, trong đó CTR y tế nguy hại tính trung bình là 0,14-0,2 kg/giường/ngày CTRYT phát sinh ngày càng gia tăng ở hầu hết các địa phương, xuất phát từ một số nguyên nhân như: gia tăng số lượng cơ sở y tế và tăng số giường bệnh; tăng cường sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y tế; dân số gia tăng, người dân ngày càng được tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ
Trang 25Ngoài ra, lượng CTRYT phát sinh trong ngày khác nhau giữa các bệnh viện tùy thuộc số giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa hay đa khoa, các thủ thuật chuyên môn được thực hiện tại bệnh viện, số lượng vật tư tiêu hao được
sử dụng…
Bảng 2.4 Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện
Khoa
Tổng lượng CTR phát sinh (kg/giường/ngày)
Tổng lượng CTYTNH (kg/giường/ngày) BVT
W
BV Tỉnh
BV Huyện TB
BV
TW
BV Tỉnh
BV Huyện TB
(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia 2011- chương 5-chất thải rắn y tế)[13]
Chất thải y tế không ngừng phát sinh và có chiều hướng tăng khá nhanh Nếu không có biện pháp thu gom, xử lý và quản lý chất thải không hiệu quả thì các chất thải này sẽ là nguồn gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu tới sức khỏe cộng đồng
Trang 26Hình 2.1 Biểu đồ gia tăng CTYT của 1 số địa phương giai đoạn
Hình 2.2 Biểu đồ tình hình phát sinh CTYT của 19 bệnh viện tuyến TW
(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia năm 2010-chương 6- quản lý chất thải rắn)[12]
Trang 27Thống kê của Cục quản lý Môi trường y tế (2009), cho thấy, đối với 79 bệnh viện trên toàn quốc nằm trong quyết định 64/2003/QĐ - TTg thì tính trung bình, các cơ sở này phát sinh lượng chất thải y tế nguy hại lên đến 7,7 tấn/ngày (con số này chưa tính đến lượng chất thải y tế thông thường)[12]
Trên 13.400 cơ sở khám chữa bệnh do địa phương (cụ thể là Sở Y tế)
và các ngành khác quản lý, là nguồn phát sinh CTRYT rất lớn Với 373 cơ sở
y tế ở tuyến tỉnh, lượng chất thải y tế phát sinh vào khoảng 24 tấn/ ngày; tuyến y tế cấp huyện với 686 cơ sở, lượng chất thải y tế phát sinh khoảng 16,3 tấn/ngày Lượng chất thải này được phân tán tại nhiều điểm nên cần sự quan tâm chỉ đạo và đầu tư hiệu quả để quản lý chặt các nguồn gây ô nhiễm này [12]
Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế
Phần lớn các bệnh viện ở Việt Nam được xây dựng trong giai đoạn đất nước còn chưa phát triển, nhận thức về vấn đề môi trường chưa cao nên các bệnh viện đều không có hệ thống xử lý chất thải nghiêm túc, đúng quy trình
kỹ thuật Cơ sở vật chất kỹ thuật để xử lý triệt để các loại chất thải độc hại còn bị thiếu thốn Bên cạnh đó, công tác quản lý còn lỏng lẻo và chưa có quy trình xử lý triệt để
Trong những năm qua các cơ quan quản lý môi trường đã tổ chức nhiều đợt tuyên truyền, vận động cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, nhân viên y
tế, bệnh nhân và thân nhân để thấy rõ trách nhiệm trong vấn đề thu gom, phân loại và xử lý sơ bộ, giảm thiểu độc hại gây ra do chất thải y tế Tuy nhiên, nhận thức của cộng đồng về những nguy cơ tiềm ẩn trong chất thải y tế vẫn còn yếu
Chất thải y tế được các Công ty Môi trường Đô thị thu gom, xử lý hoặc được xử lý bằng các lò đốt thô sơ, không đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường hoặc được ngâm trong Formandehyt rồi tập trung chôn lấp tại các nghĩa trang,
Trang 28trong các khuôn viên bệnh viện Rất nhiều loại chất thải lây nhiễm, độc hại được xả trực tiếp ra bãi rác mà không qua bất kỳ một khâu xử lý cần thiết nào Hầu hết chất thải rắn ở các bệnh viện không được xử lý trước khi chôn lấp hoặc đốt Một số ít bệnh viện có lò đốt rác y tế song quá cũ, hoặc đốt lộ thiên gây ô nhiễm môi trường
Phân loại chất thải y tế
Đa số các bệnh viện thực hiện phân loại chất thải ngay từ nguồn nhưng việc phân loại còn phiến diện và kém hiệu quả do nhân viên chưa được đào tạo Việc phân loại chất thải, tất cả bệnh viện đều làm theo quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT Tuy nhiên còn nhiều bệnh viện chưa tách riêng các vật sắc nhọn ra khỏi chất thải rắn y tế làm tăng nguy cơ rủi ro cho những người trực tiếp vận chuyển và tiêu hủy chất thải Trong số các bệnh viện đã tách riêng vật sắc nhọn nhưng chưa thu gom vật sắc nhọn theo đúng tiêu chuẩn quy định, đa số các bệnh viện thường đựng vào các vật tự tạo như chai truyền dịch, chai nhựa đựng nước khoáng, [6]
Theo kết quả khảo sát 834 bệnh viện của Viện Y học Lao động và Vệ sinh Môi trường năm 2006 và báo cáo của các Sở Y tế từ các địa phương từ 2007-2009 có 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải trong đó 91,1% đã sử dụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn; còn có hiện tượng phân loại nhầm chất thải, một số loại chất thải thông thường được đưa vào chất thải
y tế nguy hại gây tốn kém trong việc xử lý [13]
Thu gom chất thải y tế
Theo quy định, chất thải y tế và chất thải sinh hoạt đều được các hộ lý và
y công thu gom hàng ngày ngay tại khoa phòng Các đối tượng khác như bác
sĩ, y tá còn chưa được huấn luyện để tham gia vào hoạt động quản lý chất thải
y tế Tình trạng chung là các bệnh viện không có đủ áo bảo hộ và các phương
Trang 29tiện bảo hộ khác cho nhân viên trực tiếp tham gia vào thu gom, vận chuyển và tiêu hủy chất thải
90,9% các bệnh viện tiến hành thu gom CTR hàng ngày Tuy nhiên, phương tiện thu gom chất thải còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn Có 63,6% sử dụng túi nhựa làm bằng nhựa PE, PP Chỉ có 29,3%
sử dụng túi có thành dày theo đúng quy định Chất thải y tế được chứa trong các thùng đựng chất thải Tuy nhiên chỉ có một số ít bệnh viện có thùng đựng chất thải theo đúng quy chế (bệnh viện TW và bệnh viện tỉnh)[13]
Bảng 2.5 Hiện trạng thu gom, phân loại chất thải rắn y tế tại các bệnh
viện trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2010 Các yêu cầu theo quy chế quản lý CTYT Tỷ lệ tuân thủ (%)
Túi đựng chất thải đúng quy cách về bề dày và dung tích 66,67
Túi đựng chất thải đúng quy cách về màu sắc 30,67
Túi đựng chất thải đúng quy cách về buộc đóng gói 81,33
Đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do các Sở y tế quản lý công tác lưu giữ CTRYT tại nguồn chưa được chú trọng Kết quả khảo sát 834 bệnh viện của Viện Y học Lao động và Vệ sinh Môi trường năm 2006 và báo
Trang 30cáo của các Sở Y tế từ các địa phương từ 2007-2009 cho thấy có 53,4% bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải có mái che, trong đó 45,3% đạt yêu cầu theo quy chế quản lý chất thải y tế [13]
Vận chuyển chất thải ngoài cơ sở y tế
Hiện nay, hầu hết lượng rác thải ở Việt Nam đều được thu gom bởi công
ty Môi trường Đô thị Chất thải bệnh viện sau khi được thu gom tới khu tập trung sẽ được công ty Môi trường đô thị thu gom tiếp trong khoảng thời gian một đến hai ngày một lần và được vận chuyển đến bãi rác của thành phố để
xử lý Tại đây, rác thải sinh hoạt được chôn lấp, CTRYT sẽ được thiêu đốt tại
lò đốt đặt ở bãi rác [13]
Xử lý chất thải rắn y tế
Đối với chất thải y tế, hiện có 612 bệnh viện (73,3%) đã có biện pháp
xử lý chất thải y tế nguy hại bằng lò đốt tại chỗ của bệnh viện, hoặc lò đốt tập trung cho toàn thành phố (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh) hoặc lò đốt cho cụm bệnh viện hay cơ sở tiêu hủy chất thải trên địa bàn Tổng số lò đốt hiện
có là 130 chiếc với công suất khác nhau (khoảng 300-450 kg/ngày), chủ yếu
là lò đốt công suất nhỏ và trung bình, phục vụ xử lý chất thải tại chỗ hoặc cho cụm bệnh viện Các lò đốt hiện tại, đạt tiêu chuẩn môi trường hiện chỉ mới xử
lý chất thải y tế cho khoảng 40% số bệnh viện, khoảng 30% bệnh viện sử dụng lò đốt thủ công (thiêu đốt chất thải y tế nguy hại ngoài trời) Tuy nhiên, một số lò đốt không được vận hành hoặc vận hành không hết công suất, nhiều
lò đốt không đáp ứng các yêu cầu đảm bảo về tiêu chuẩn môi trường, đặc biệt gây phát thải dioxin/furan Hơn thế nữa, còn khoảng 30% bệnh viện tự chôn lấp chất thải y tế nguy hại trong khuôn viên bệnh viện (chủ yếu là bệnh viện huyện và một số bệnh viện tỉnh) hoặc chuyển chất thải y tế nguy hại đến nơi chôn lấp ở bãi rác chôn lấp chất thải chung của địa phương [12]
Trang 312.3.3 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Thái Nguyên
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi nằm ở phía Bắc của thủ đô
Hà Nội, cách Hà Nội 80 km, có diện tích tự nhiên là 3.562,82 km2, dân số trên 1,2 triệu người (năm 2017), có 9 đơn vị hành chính với 180 xã phường, thị trấn[32]
Để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng của nhân dân trong tỉnh và các tỉnh miền núi khu vực Đông Bắc, các cơ sở y tế của tỉnh Thái Nguyên trong những năm qua cũng đã tăng cả về số lượng và quy mô giường bệnh
Thái Nguyên có một trung tâm y tế với 1 Bệnh viện Đa khoa Trung ương, 9 bệnh viện cấp tỉnh và 14 trung tâm y tế cấp huyện Theo báo cáo của
Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên, trong 9 tháng năm 2016, công suất sử dụng giường bệnh bình quân toàn tỉnh tính theo giường kế hoạch đạt 146,1%, cao hơn cùng
kỳ năm 2015, trong đó tuyến huyện giường kế hoạch 161,8%, tăng cao hơn 19,8%, giường thực kê đạt 91,6% Nhìn vào con số gia tăng số giường ở tuyến huyện khẳng định nhu cầu khám, chữa bệnh trên địa bàn này ngày càng phát triển, kèm theo đó là lượng phát sinh chất thải y tế nhiều, đòi hỏi các đơn
vị y tế đặc biệt chú trọng đến việc xử lý chất thải[32]
Thực tế, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, các đơn vị y tế chưa được trang
bị đồng bộ về hệ thống xử lý chất thải Một số đơn vị được trang bị hệ thống
xử lý chất thải rắn ngoài 5 năm đã xuống cấp, thậm chí không sử dụng được Đại diện các bệnh viện tuyến huyện như: Bệnh viện Đa khoa huyện Phú Lương, Phú Bình,… cho biết, hệ thống xử lý chất thải y tế tiêu hao nhanh, trong đó có hệ thống xử lý chất thải lỏng, chất thải rắn và tủ bảo ôn… Riêng
lò đốt rác gặp vướng mắc trong việc nâng cấp, bởi đặc thù của lò đốt công nghệ nước ngoài khi thay thế các phụ kiện sẽ rất khó khăn Đơn cử như một
số ống khói thấp, hoặc gãy, khi thay thế trong nước không phù hợp với lò đốt
Trang 32kéo, theo sự thiếu đồng bộ của một số phụ kiện bên trong Mặc dù đã được nâng cấp nhưng trong quá trình xử lý rác thải chưa mang tính triệt để và xảy
ra tình trạng bốc mùi và khói nhiều, làm ảnh hưởng không nhỏ đến khu dân
cư, khiến các đơn vị thường phải xử lý vào ban đêm Đại diện Bệnh viện Đa khoa huyện Đồng Hỷ cho biết, tính trung bình tiêu tốn khoảng 15 - 18 lít dầu cho mỗi lần vận hành lò đốt, nhưng chất thải rắn như chai lọ thủy tinh và một
số rác thải khác chưa triệt để, nên rất khó khăn trong việc thải ra môi trường
Các đơn vị y tế tỉnh Thái Nguyên đang gặp không ít trở ngại trong việc
xử lý chất thải y tế, để bảo đảm công tác bảo vệ môi trường, các đơn vị này luôn nỗ lực thực hiện đúng theo quy định Thông tư liên tịch 58/TTLT-BTNMT-BYT Tuy nhiên những vấn đề bất cập đang trở thành mối lo, bởi các đơn vị cho rằng, coi việc xử lý rác thải như công tác chuyên môn, không những phải đầu tư kinh phí mà rất cần cán bộ chuyên trách hiểu biết sâu về cách quản lý và xử lý chất thải mới mang lại hiệu quả Đại diện các đơn vị y
tế phân tích, trung bình mỗi năm các đơn vị y tế phải dành khoản chi phí đến hàng trăm triệu đồng phục vụ công tác bảo vệ môi trường, trong đó quan trắc môi trường khoảng một trăm triệu đồng, hợp đồng với công ty môi trường về
xử lý rác thải sinh hoạt khoảng 60 - 80 triệu đồng, chưa tính đến việc nâng cấp và duy trì cho hệ thống xử lý chất thải lỏng, lò đốt rác, tủ bảo ôn…
Để việc xử lý chất thải y tế mang tính bền vững và hiệu quả, các đơn vị
y tế tỉnh Thái Nguyên cho rằng, thay vì đầu tư mỗi đơn vị một hệ thống xử lý chất thải với mức kinh phí lớn, mà hiệu quả chưa cao, nên chăng, Thái Nguyên có công trình xử lý quy mô, trong đó bao gồm, khu xử lý rác y tế cho các bệnh viện, khu xử lý rác thải sinh hoạt cho nhân dân và có khu tái chế riêng Như vậy, mới có thể góp phần giảm gánh nặng cho các đơn vị y tế, giúp họ tập trung vào công tác chuyên môn[32]
Trang 33Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Chất thải rắn y tế tại Bệnh Viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Bệnh Viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên
3.1.3 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên
- Địa chỉ : phường Tân Thịnh, thành phố Thái Nguyên
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 1/2018 đến tháng 5/2018
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Tổng quan về Bệnh Viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên
- Thực trạng công tác quản lý ,xử lý CTRYT tại Bệnh Viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên
+ Nguồn phát sinh chất thải của bệnh viện
+ Thành phần CTRYT của bệnh viện
+Khối lượng CTRYT tại các khoa, phòng ban, bộ phận của bệnh viện
- Đề xuất các giải pháp trong quản lý và xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh Viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp
- Thu thập các số liệu vể tổ chức hoạt động (quy mô, diện tích, cơ cấu
tổ chức) của Bệnh Viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên