BÀI KIỂM TRA TỰ LUẬN MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM, Phân tích nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự và đề xuất các kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc này tại các Tòa án Việt Nam. Trình bày hậu quả pháp lý và thủ tục áp dụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đối với trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện vụ án dân sự tại tòa án cấp sơ thẩm.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO ELEARNING
-BÀI KIỂM TRA TỰ LUẬN MÔN: LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
Đề số 2
Họ và tên: ĐINH THỊ TỊNH Ngày, tháng, năm sinh: 11/9/1991 Lớp: HBP513C
Ngành: Luật
Hà Nội, 04/4/2022
Trang 2Đề số 02:
Câu 1: (5 điểm)
Phân tích nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự và đề xuất các kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc này tại các Tòa án Việt Nam
Câu 2: (5 điểm)
Trình bày hậu quả pháp lý và thủ tục áp dụng theo quy định của Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2015 đối với trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện vụ án dân sự tại tòa án cấp sơ thẩm
Bài làm Câu 1: Phân tích nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự và đề xuất các kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc này tại các Tòa
án Việt Nam.
Tòa án là cơ quan xét xử của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp, giải quyết, xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự; trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ việc dân sự
Hòa giải là một chế định quan trọng trong tố tụng dân sự Là hoạt động
do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự Việc hòa giải có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó vừa đảm bảo tiết kiệm chi phí cho Nhà nước và công dân, giảm bớt giai đoạn tố tụng kéo dài, vừa giải quyết triệt để các mâu thuẩn giữa các đương sự… Do
đó, nếu chế định hòa giải không được quan tâm trong việc giải quyết vụ án dân sự thì quyền và lợi ích của các bên đương sự sẽ không được bảo đảm
Trang 3Mở phiên hòa giải là trách nhiệm của Tòa án trong quá trình giải quyết
vụ án dân sự nhằm giúp đương sự có thể thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết quan hệ tranh chấp
Thời điểm tiến hành hòa giải (hay thời điểm mở phiên hòa giải) được quy định tại Khoản 1 Điều 205 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: “1 Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn”
Theo đó, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có trách nhiệm tổ chức phiên hòa giải theo quy định trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn; vụ án không được tiến hành hòa giải (Điều 206 BLTTDS) và những vụ án không tiến hành hòa giải được (Điều 207 BLTTDS) Tùy từng trường hợp khi xét thấy việc xây dựng
hồ sơ, thu thập chứng cứ đã đầy đủ, các tình tiết của vụ án đã được làm rõ Thẩm phán sẽ linh hoạt ấn định thời điểm mở phiên hòa giải trong thời hạn chuẩn bị xét xử sao cho phù hợp
Nguyên tắc tiến hành hòa giải
Việc hòa giải được tiến hành theo các nguyên tắc quy định tại Khoản 2 Điều 205 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, theo đó:
Thứ nhất, Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không
được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình; hòa giải phải tôn trọng sự tự nguyện của các bên, không bắt buộc, áp đặt các bên tranh chấp phải tiến hành hòa giải Khi các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận tức là các đương sự tự lựa chọn quyết định các vấn đề tranh chấp bằng hòa giải và thương lượng, thỏa thuận với nhau giải quyết các vấn đề của vụ án
Trang 4Cơ sở pháp lý của hòa giải xuất phát từ nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự tại Điều 5 BLTTDS Do đó hòa giải không chỉ là trách nhiệm của Tòa mà còn là quyền của đương sự Trong quá trình hòa giải, các bên đương sự tự bàn bạc với nhau về nội dung thỏa thuận nếu đương sự chấp nhận thỏa thuận đó chỉ vì bị hành vi dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực tác động đến ý chí thì không được xem là tự nguyện Ngoài ra để đảm bảo nguyên tắc này thì Tòa án chỉ hướng dẫn các đương sự tự thỏa thuận bằng việc phân tích quy định pháp luật có liên quan đến tranh chấp để các bên tự liên hệ đến quyền và nghĩa vụ của mình chứ không đưa ra đường lối giải quyết vụ án
Thứ hai, hòa giải phải được tiến hành theo đúng quy định của pháp
luật, nội dung thỏa thuận không trái với pháp luật, đạo đức xã hội Tức
là ngoài yếu tố tự nguyện thỏa thuận của các đương sự thì việc tòa án hòa giải còn phải thỏa mãn các điều kiện: tuân thủ đúng trình tự, thủ tục hòa giải; phạm vi hòa giải theo pháp luật quy định; nội dung thỏa thuận giữa các đương
sự không được trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng
Ngoài ra, việc hòa giải phải tích cực, kiên trì nhằm đạt được kết quả hòa giải Tích cực để có thể giải quyết được nhanh chóng vụ án, không để việc hòa giải kéo dài vô ích khi không có khả năng hòa giải nhưng lại phải kiên trì giải thích cho đương sự hiểu rõ pháp luật áp dụng giải quyết vụ án và đi sâu giải quyết các mắc mớ trong tâm tư tình cảm của họ
Phạm vi hòa giải trong vụ án dân sự
Hòa giải được tiến hành với hầu hết các vụ án dân sự, trừ những trường hợp không hòa giải được, pháp luật quy định không được hòa giải và những
vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn
Trang 5Những vụ án dân sự không được hòa giải (Điều 206 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015)
– Yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản Nhà nước Theo đó, mọi hành vi gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước đều là trái pháp luật và buộc phải bồi thường Người gây thiệt hại không có quyền điều chỉnh, thương lượng với Nhà nước về mức độ bồi thường và bồi thường như thế nào Mặt khác, pháp luật cũng phòng ngừa trường hợp những cá nhân đại diện cho Nhà nước, lợi dụng quyền đó để tùy tiện thương lượng với bên gây thiệt hại hoặc móc ngoặc với bên gây thiệt hại làm thất thoát tài sản của Nhà nước
– Những vụ án dân sự phát sinh từ giao dich trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội Đây chính là các giao dịch dân sự vô hiệu nên khi giải quyết vụ án
ày tòa án sẽ giải quyết theo hướng tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu vì khi giao dịch dân sự vô hiệu thì
về mặt pháp lý quyền và nghĩa vụ của các bên không được nhà nước thừa nhận và bảo vệ nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được
Những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được (Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015)
Những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều
liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt; Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng; Đương sự
là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự; Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải
Kết quả của việc tiến hành hòa giải sẽ xảy ra hai trường hợp là hòa giải thành và hòa giải không thành Tùy thuộc vào kết quả đó, Thẩm phán sẽ ban hành các quyết định cụ thể liên quan đến việc giải quyết vụ án dân sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự; đặc biệt là đảm bảo các quy định của pháp luật được tuân thủ
Trang 6Để phiên hòa giải được tiến hành thuận lợi và đạt kết quả tốt đòi hỏi phải tuân thủ các nguyên tắc hòa giải, vì mục đích sau cùng của hòa giải chính là mong muốn hai bên chấm dứt tranh chấp, xung đột thông qua thỏa thuận Để đạt được điều đó, hai bên phải cùng thống nhất ý chí, do đó nếu một trong hai bên không muốn tiến hành hòa giải, hoặc không đủ khả năng, điều kiện thể hiện ý chí thì không phải tiến hành hòa giải
+ Đề xuất các kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc này tại các Tòa án Việt Nam.
Trong BLTTDS 2015, chế định hòa giải đã được hoàn thiện trên cơ sở
kế thừa các quy định về hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự trước đây, pháp điển hóa thành chuẩn mực chung điều chỉnh các quan hệ pháp luật tố tụng phát sinh trong quá trình hòa giải các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Việc hoàn thiện chế định về hòa giải trong BLTTDS tiếp tục khẳng định ý nghĩa quan trọng của hòa giải trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, đánh dấu bước phát triển mới của chế định này trong giai đoạn hiện nay
- Khoản 2 Điều 205 quy định hòa giải được tiến hành theo nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của các đương sự, nội dung thỏa thuận không trái pháp luật, đạo đức xã hội Quy định này cần bổ sung thêm nguyên tắc bình đẳng và trung thực Vì: Trong đời sống xã hội, thỏa thuận về giải quyết tranh chấp trong hòa giải không phải lúc nào cũng được phân định một cách rõ ràng như luật định mà còn có sự nhường nhịn, bao dung, có lý, có tình Sự khác nhau về địa vị kinh tế, chính trị, xã hội của các đương sự có thể dẫn đến trường hợp tự nguyện thỏa thuận nhưng ở tình thế “kẻ hèn phải nhường nhịn
kẻ sang” Do đó cần có sự bình đẳng
Mặt khác, sự trung thực trong quá trình hòa giải cũng hết sức cần thiết
để bảo đảm mọi thỏa thuận đúng bản chất của tranh chấp, chống sự thông đồng, lừa dối của các đương sự khi thỏa thuận
Trang 7Liên quan đến nguyên tắc tự do thỏa thuận, Điều 4 BLDS cũng đã
khẳng định: Quyền tự do cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa
vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội Tuy nhiên, như thế nào là không vi phạm điều cấm thì chưa được làm rõ trong BLDS Từ đó cho
thấy, việc các bên có thể có thỏa thuận khác với quy định của BLDS nên được xác lập như một nguyên tắc của quan hệ dân sự, với điều kiện thỏa thuận đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của BLDS; đồng thời không nên quy định lặp đi lặp lại trong nhiều điều luật, có trường hợp thừa (sai), có trường hợp lại bỏ sót
Để nâng cao chất lượng hòa giải trong tố tụng dân sự thì phải nâng cao chất lượng và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong quá trình áp dụng pháp luật; Phát triển hệ thống đào tạo, bồi dưỡng nhân lực làm công tác pháp luật; bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng hòa giải cho thẩm phán; Tăng cường công tác lãnh đạo, kiểm tra đối với công tác hòa giải của thẩm phán
Tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc Chỉ thị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về tăng cường công tác hòa giải tại Tòa án nhân dân
Tiếp tục triển khai mạnh mẽ và thường xuyên công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao nhận thức về công tác hòa giải, tặng cường năng lực tiếp cận của nhân dân đối với hệ thống pháp luật: Xây dựng nguồn nhân lực vững mạnh cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp luật trong tình hình mới; Sử dụng
có hiệu quả và sáng tạo các hình thức, biện pháp là phương tiện phổ biến, giáo dục pháp luật; Cần có sự đầu tư về cơ sở vật chất cho công tác phổ biến
và giáo dục pháp luật
Trang 8Tăng cường công tác theo dõi thi hành pháp luật; đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện và áp dụng pháp luật, xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật
Tiếp tục duy trì việc phát động phong trào thi đua khen thưởng về công tác hòa giải cho thẩm phán, thư ký và thẩm tra viên
Đầu tư thêm cơ sở vật chất tạo điều kiện cho thẩm phán làm tốt công tác hòa giải
Củng cố các công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội khác để hỗ trợ cho pháp luật
Câu 2: Trình bày hậu quả pháp lý và thủ tục áp dụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đối với trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện vụ án dân sự tại tòa án cấp sơ thẩm.
Trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án theo đó, khi Tòa án tiếp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn sẽ tiến hành xử lý đơn khởi kiện theo đúng quy trình luật định trong thời hạn nhất định thì Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện Trong quá trình xét đơn khởi kiện có yêu cầu rút đơn của nguyên đơn ở phiên tòa sở thẩm thì thẩm phán sẽ trả lại đơn khởi kiện và ra quyết định đình chỉ vụ án
Theo bộ Luật tố tụng dân sự 2015, nguyên đơn được hiểu là “Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ
án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm” Từ khái niệm trên, chúng ta có thể rút ra 2 đặc trưng tiêu biểu của nguyên đơn, đó là:
– Nguyên đơn là người khởi kiện hoặc người được người khác khởi kiện thay
Trang 9– Nguyên đơn là người cho rằng quyền và hợp pháp của mình bị xâm phạm
Việc rút yêu cầu khởi kiện được quy định trong các giai đoạn như sau: – Giai đoạn trước khi thụ lý vụ án, được qui định: Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện khi xét thấy yêu cầu rút đơn của người khởi kiện tại điểm g, khoản
1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Như vậy, trước khi thụ lý vụ kiện mà người khởi kiện rút đơn thì được trả lại đơn và trong trường hợp này do Thẩm phán được phân công thực hiện
– Giai đoạn sau khi Tòa án đã thụ lý vụ án, thì việc người khởi kiện rút toàn bộ đơn khởi kiện của đương sự sẽ được Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ
án theo Điểm c, khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
– Giai đoạn đang xét xử sơ thẩm thì Bộ luật tố tụng dân sự qui định cụ thể như sau: “Trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận
và đình chỉ xét xử đối phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút ( khoản 2 Điều 244 BLTTDS)
– Giai đoạn trước khi mở phiên tòa phúc thẩm hoặc tại phiên tòa phúc thẩm thì khi nguyên đơn rút đơn khởi kiện, Hội đồng xét xử phải hỏi bị đơn
và nếu bị đơn đồng ý thì Hội đồng xét xử ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án (điểm b, khoản 1 Điều 299 BLTTDS) Trong trường hợp này, tại khoản 2 Điều 299 BLTTDS có qui định là nguyên đơn có quyền khởi kiện lại vụ án (theo thủ tục chung do BLTTDS quy định)
Như vậy, qua các trường hợp nêu trên, có thể thấy chỉ một hành vi rút đơn khởi kiện, nhưng ở mỗi giai đoạn khác nhau của vụ án thì BLTTDS cũng
có qui định khác nhau cho từng trường hợp cụ thể
Về hậu quả pháp lý của rút đơn khởi kiện:
Trang 10Hậu quả của việc rút đơn khởi kiện xét theo tùy theo từng giai đoạn mà Tòa án có thể ra những quyết định phù hợp khi rút đơn khởi kiện, cụ thể: Khi chưa thụ lý thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện; sau khi thụ lý rồi thì Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án; khi vụ án đang được xét xử sơ thẩm, nếu rút một phần hay toàn bộ yêu cầu khởi kiện thì Tòa án đình chỉ một phần hay toàn bộ yêu cầu của đương sự; giai đoạn xét xử phúc thẩm thì Tòa án hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án
Trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện trước phiên tòa sơ thẩm dân sự:
– Nếu không có yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập thi Tòa án chấp nhận việc rút đơn khởi kiện, ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự – Người khởi kiện rút đơn khởi kiện nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án dân sự đối với yêu cầu của người khởi kiện đã rút
– Người khởi kiện rút đơn khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, nhưng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án dân sự đối với yêu cầu của người khởi kiện và yêu cầu phản tố của bị đơn đã rút
– Người khởi kiện rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố thì Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đối với yêu cầu của người khởi kiện và yêu cầu độc lập của người có quyền và lợi ích liên quan đã rút
– Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết toàn bộ vụ án dân sự