1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BIẾN ĐỘNG dân số THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH GIAI đoạn 2009 2019 THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT dân số

16 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biến động dân số Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2009-2019 - Thực trạng và Giải pháp kiểm soát dân số
Tác giả Ts. Nguyễn Thị Hơi Hương
Trường học Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh Tế - Quản Lý Nhà Nước
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 770,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình này bao gồm sự gia tăng dân số tự nhiên và gia tăng cơ học, trong đó gia tăng cơ học do dân di cư từ các địa phương khác đến Thành phố thường có tỷ lệ cao hơn mặc dù số lượng

Trang 1

TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC - SỐ 02 (02) 2021 23

Kinh Tế họC - QuẢn LÝ nhÀ nƯỚC

BIẾN ĐỘNG DÂN SỐ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2009-2019

- THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT DÂN SỐ

TS NGUYỄN THỊ HOÀI HƯơNG (*)

TÓM TẮT

Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh là vùng đất được nhiều ưu đãi về tự nhiên, cũng như có nhiều thuận lợi về chính trị - xã hội, ngay từ khi được thành lập đã sớm trở thành trung tâm kinh tế - thương mại - dịch vụ của vùng và của cả khu vực Được mệnh danh là Hòn ngọc Viễn Đông, Thành phố có sức thu hút khá lớn nhiều thành phần cư dân từ các địa phương khác đến

cư trú, làm ăn sinh sống Vì vậy, dân số của Thành phố không ngừng tăng nhanh Quá trình này bao gồm sự gia tăng dân số tự nhiên và gia tăng cơ học, trong đó gia tăng cơ học (do dân

di cư từ các địa phương khác đến Thành phố) thường có tỷ lệ cao hơn mặc dù số lượng có biến động tùy thuộc vào từng giai đoạn lịch sử gắn liền với định hướng quy hoạch, phát triển kinh

tế - xã hội của Thành phố Bài viết đã tổng kết, phân tích thực trạng biến động dân số Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2009-2019 và đưa ra các đề xuất về giải pháp nhằm phục vụ cho công tác quy hoạch đô thị, kiểm soát dân số, quản lý xã hội tại Thành phố.

Từ khóa: gia tăng dân số, dân số cơ học, biến động dân số, di cư, kiểm soát dân số, Thành

phố Hồ Chí Minh.

ABSTRACT

Saigon - Ho Chi Minh City is a land with many naturally favourable conditions, as well as many socio-political advantages Right from its inception, it soon became an economic center of trade and service in the region Dubbed as the Pearl of the Far East, the city attracts a large number

of residents from other localities to live and work As a result, the city’s population has been constantly growing This process includes natural population growth and mechanical growth,

in which mechanical growth (due to migration from other localities to the city), is often higher though fluctuations depend on each historical period associated with the planning orientation, socio-economic development of the city The article has summarized and analyzed the current situation of population fluctuations in Ho Chi Minh City in the period 2009-2019 and proposed solutions to serve urban planning, population control, and social management in the city.

Key words: population growth, mechanical growth, population fluctuations, migration,

population control, Ho Chi Minh City.

(*) NCVC Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

1 BỐI CẢNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

MINH GIAI ĐOẠN 2009-2019

Vấn đề gia tăng dân số cơ học tại Thành

phố liên tục gia tăng, đặc biệt trong giai đoạn

(2009-2019) dân nhập cư tiếp tục đến Thành

phố với tốc độ cao Họ đã đóng góp sức người,

sức của, đa dạng văn hóa cũng tạo nên diện

mạo mới cho Thành phố và tạo sự chuyển

biến mới cho đô thị Thành phố Hồ Chí Minh

(TP.HCM) Đồng thời gia tăng dân số cơ học

cũng có những ảnh hưởng, tác động lên hạ

tầng đô thị và các mặt của đời sống xã hội đô

thị, từ nhà ở, giao thông, kinh tế thương mại

dịch vụ đến giáo dục, y tế…

Trong 10 năm qua, Thành phố có nhiều

biến đổi nhờ một loạt chính sách đổi mới từ

đầu những năm 1990 của Chính phủ đã có

hiệu lực mạnh mẽ Cùng với bối cảnh hội

nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam là thành viên

của cộng đồng kinh tế ASEAN, tham gia Hiệp

định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái

Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại

tự do (FTA) thế hệ mới năm 2017…; cùng

với sự thay đổi Bộ luật Lao động năm 2012,

quyền làm việc của người lao động không liên

quan đến vấn đề hộ khẩu, không phụ thuộc

vào nơi cư trú của người lao động(1); Luật Cư

trú năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2013)

đã tạo ra bước ngoặc lớn, quyền tự do cư trú

của công dân theo Hiến pháp; chính sách thu

hút nguồn nhân lực, trọng dụng nhân tài, và

bỏ điều kiện “có hộ khẩu tại Thành phố Hồ

Chí Minh” trong tuyển dụng công chức, viên

chức, kể cả cán bộ, công chức khối Đảng,

(1) Quốc hội (2012) Bộ Luật lao động năm 2012, Điều 10,

Quyền làm việc của người lao động, Khoản 1 có ghi: “được

làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và ở bất kỳ nơi

nào mà pháp luật không cấm”.

đoàn thể của TP.HCM từ năm 2017(2) càng tạo điều kiện thuận lợi, thu hút nhiều luồng cư dân đến TP.HCM làm ăn sinh sống

Thêm vào đó, không gian đô thị TP.HCM được quy hoạch mở rộng, các khu cư dân mới hình thành và sự phát triển sôi động của thị trường bất động sản đã tạo nên sự chuyển cư nội thị rất lớn Quá trình này làm thay đổi phân bố dân cư và mật độ dân số tại các quận huyện Theo đó, nhiều vấn đề về chất lượng nguồn nhân lực, dân cư trong từng quận huyện cũng có nhiều thay đổi so với trước đây Bài viết dựa vào số liệu Tổng điều tra Thống kê dân số và nhà ở quốc gia 2009,

2019 và số liệu cư trú thực tế để phân tích so sánh một cách toàn diện hơn về biến động dân

số trên địa bàn Thành phố, từ đó đề xuất một

số giải pháp về quản lý, kiểm soát dân số trên địa bàn Thành phố

2 BIẾN ĐỘNG DÂN SỐ THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2009-2019 2.1 Quy mô và tốc độ tăng dân số

- Quy mô dân số đông nhất cả nước

Theo Điều tra dân số và nhà ở (ĐTDS&NO) ngày 01/4/2019, toàn Thành phố Hồ Chí Minh

có 8.993.082 người, tăng 1.830.218 triệu người so với năm 2009 (7.162.864 người), tỷ

lệ tăng dân số bình quân 2009-2019 là 2,56%/ năm, giảm so với 10 năm trước đó (giai đoạn 1999-2009) là 1,79% Đến 2019, Thành phố

Hồ Chí Minh trở thành đô thị đông dân nhất

cả nước, chiếm tỷ trọng 9,35% dân số cả nước

và chiếm 50,44% dân số vùng Đông Nam Bộ Dân số Thành phố tăng 78,64% trong vòng 20

(2) Theo Quyết định số 43/2017/QĐ-UBND ngày 24 tháng

8 năm 2017, quyết định về việc bãi bỏ văn bản, kể từ ngày 1/11/2017 trở đi, thi tuyển công chức hay xét tuyển viên chức

sẽ không đặt vấn đề hộ khẩu.

Trang 3

TS NGuyễN THị HOàI HươNG - BIếN ĐỘNG DÂN SỐ 25

năm (1999-2019) Trong giai đoạn này, dân

số Thành phố tăng bình quân gần một triệu

người sau mỗi 05 năm Đây là một mức tăng

dân số rất cao, đạt bình quân 3,93%/năm

- Tốc độ tăng dân số giảm, tỉ lệ tăng cơ

học vẫn ở mức cao

Theo số liệu ĐTDS&NO 2019, tốc độ tăng dân số bình quân toàn Thành phố so với năm

2009 là 2,28% Trong đó tốc độ tăng dân số tự nhiên chỉ chiếm 0,9%, tốc độ gia tăng cơ học

là 1,4% (Bảng 2) Các số liệu thống kê cũng cho thấy xu hướng giảm đáng kể đối với tốc

Quận, huyện

1999-2009

Giai đoạn 2009-2019

giảm

% biến động

Tăng/

giảm

% biến động

Quận 1 226.151 180.225 142.625 -45.926 -20,31 -37.600 -20,86 Quận 2 102.094 147.490 180.275 45.396 44,46 32.785 22,23 Quận 3 222.448 190.553 190.375 -31.895 -14,34 -178 -0,09 Quận 4 192.149 180.980 175.329 -11.169 -5,81 -5.651 -3,12 Quận 5 209.528 171.452 159.073 -38.076 -18,17 -12.379 -7,22 Quận 6 252.527 249.329 233.561 -3.198 -1,27 -15.768 -6,32 Quận 7 111.911 244.276 360.155 132.365 118,28 115.879 47,44 Quận 8 328.538 408.772 424.667 80.234 24,42 15.895 3,89 Quận 9 148.804 256.257 397.006 107.453 72,21 140.749 54,92 Quận 10 240.122 230.345 234.819 -9.777 -4,07 4.474 1,94 Quận 11 238.494 226.854 209.867 -11.640 -4,88 -16.987 -7,49 Quận 12 168.639 405.360 620.146 236.721 140,37 214.786 52,99 Tân Bình 352.345 421.724 474.792 69.379 19,69 53.068 12,58 Bình Thạnh 403.065 457.362 499.164 54.297 13,47 41.802 9,14 Phú Nhuận 183.837 174.535 163.961 -9.302 -5,06 -10.574 -6,06

Gò Vấp 309.586 522.690 676.899 213.104 68,84 154.209 29,50 Thủ Đức 209.806 442.177 592.686 232.371 110,76 150.509 34,04 Tân Phú 227.214 398.102 485.348 170.888 75,21 87.246 21,92 Bình Tân 143.444 572.132 784.173 428.688 298,85 212.041 37,06 Bình Chánh 185.888 420.109 705.508 234.221 126,00 285.399 67,93 Hóc Môn 203.393 349.065 542.243 145.672 71,62 193.178 55,34 Nhà Bè 62.805 101.074 206.837 38.269 60,93 105.763 104,64

Củ Chi 253.116 343.155 462.047 90.039 35,57 118.892 34,65

Nguồn: Điều tra dân số và nhà ở quốc gia giai đoạn 1999-2009, 2009-2019.

Bảng 1: Biến động dân số Thành phố Hồ Chí Minh qua các kỳ điều tra

Trang 4

độ tăng dân số tự nhiên và tăng dân số cơ học.

So với giai đoạn 10 năm trước (1999-2009),

dân số Thành phố có xu hướng giảm 1,22%,

giảm cả về tốc độ tăng dân số tự nhiên và tăng

dân số cơ học, lần lượt là 0,37%; 0,83% Tuy

nhiên, dân số cư trú thực tế và số liệu Điều tra

dân số và nhà ở có một độ chênh nhất định,

nhất là số liệu dân cư tạm trú trên địa bàn

Thành phố

- Dân cư ở các quận huyện biến động

mạnh về số lượng và chênh lệch nhiều giữa

số liệu điều tra thống kê và cư trú thực tế.

+ Chênh lệch cao hơn 1.069.078 người

giữa dân số cư trú thực tế và số liệu thống

kê: Theo thu thập số liệu từ 2 nguồn chính

là ĐTDS&NO 01/4/2019 và cư trú thực

tế của Công an Thành phố Hồ Chí Minh(3)

Chúng tôi nhận thấy có một độ chênh đáng

kể giữa các nguồn số liệu Điều này có thể lý

giải do thời điểm thống kê các nguồn số liệu

ĐTDS&NO thực hiện ngày 01/4/2019, Thành

phố có 8.993.082 người đến ngày 15/11/2019

ngành Công an thống kê có 9.226.495 người,

tăng 233.413 người/7 tháng; so với tổng kết của ngành Công an năm 2019, dân số thực tế

cư trú trên địa bàn Thành phố là 10.062.160 người, tăng 1.069.078 người/8 tháng; Như vậy, so với ĐTDS&NO1.4.2019, trung bình mỗi tháng Thành phố tăng 133.635 người Kết quả đó cho thấy số lượng dân số đến Thành phố biến động không ngừng theo hướng gia tăng rất nhanh

+ Giai đoạn 2009-2019, vấn đề hộ khẩu thường trú không phải là vấn đề cơ bản đối với người dân sống tại TP.HCM.

Số hộ của thành phố ngày 01/04/2019 là 2.558.914 hộ, chiếm 9,52% cả nước Trong

đó, số hộ thành thị là 2.026.763 hộ, chiếm 79,20%; số hộ nông thôn là 532.151 hộ, chiếm 20,80% So sánh giữa hai kỳ Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, 2019, sau 10 năm số hộ của thành phố tăng 734.092 hộ chiếm gần 1/2 số hộ tăng của cả vùng Đông Nam Bộ và chiếm gần 1/6 số hộ tăng của

cả nước Quy mô hộ gia đình phổ biến có từ

2 - 4 người (chiếm 66,40%) theo xu hướng

Bình quân (1999 - 2009) Bình quân (2009 - 2019)

Bảng 2: Tốc độ gia tăng dân số TP.HCM giai đoạn 1999 - 2019

Nguồn: Tổng ĐTDS&NO 1999, 2009, 2019

ĐTDS&NO

01/4/2019

Dân số cư trú thực tế theo quận huyện 15/11/2019

Dân số cư trú thực tế theo

năm 2019

Bảng 3: Chênh lệch giữa số liệu tổng thể dân cư TP.HCM năm 2019

(3) Tại thời điểm 15/11/2019 và đầu năm 2020.

Trang 5

TS NGuyễN THị HOàI HươNG - BIếN ĐỘNG DÂN SỐ 27

gia đình hạt nhân

Theo số liệu thống kê thực tế cư trú, mô

hình gia đình hạt nhân càng thể hiện rõ hơn,

khẳng định thêm về xu hướng biến động dân

số do gia tăng cơ học cao hơn tăng tự nhiên

trong thực tế

Đối với hộ thường trú: Ngược lại với gia

tăng số lượng dân cư, số hộ thường trú có tăng

nhưng không nhiều, chỉ tăng 86.865 hộ/10

năm, số người trong hộ thường trú 2019 trung

bình 4,08 người/hộ; số nhân khẩu thường trú

có sự tụt giảm đến 1.005.423 người/10 năm

Cũng theo số liệu ngành Công an, trong

số nhân khẩu thường trú di chuyển nội thị

TP.HCM trong vòng 10 năm qua là 72.321

người, thì tổng số nhân khẩu thường trú giảm

933.102 người/10 năm Điều này cũng góp

phần phản ánh tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của

Thành phố rất thấp trong 10 năm qua

Đối với hộ tạm trú: Có sự gia tăng về dân

cư tạm trú khá lớn do nguyên nhân nhập cư và

di chuyển nội thị cao; số lượng hộ tạm trú và nhân khẩu tạm trú thực tế tăng cao hơn theo

số liệu ĐTDS&NO lần lượt số hộ tạm trú tăng 1.083.495/10 năm; số nhân khẩu tạm trú tăng 3.150.664/10 năm Như vậy, trung bình mỗi năm Thành phố tăng 315.067 người (Biểu đồ 1) Đặc biệt số nhân khẩu/hộ tạm trú trung bình chỉ 1,74 người/hộ

Số hộ tạm trú tăng 926.495 hộ với 3.150.664 nhân khẩu/10 năm Trong đó, có 105.439 người được đăng ký thường trú trong

10 năm qua, chỉ chiếm 5,3% trong tổng số người đăng ký hộ khẩu thường trú toàn Thành phố là 1.990.640 người Trung bình mỗi năm

có 10.544 người từ quận/huyện khác ngoài TP.HCM được nhập hộ khẩu, chính thức là công dân TP.HCM

+ Dân số phân bố không đồng đều giữa các khu vực: Với diện tích 2.095 km2, sau 10 năm (2009-2019), mật độ dân số thành phố đã tăng từ 3.400 người/km2 lên 4.292 người/km2,

8.000.000

6.000.000

4.000.000

2.000.000

0

Số hộ thường trú 2009

Số nhân khẩu thường trú

1.479.786 174.941 7.395.641 521.278 1.566.651 1.101.436

Số hộ tạm trú 2009

Số nhân khẩu tạm trú

Biểu đồ 1: So sánh dân số Thành phố chia theo cư trú giai đoạn 2009-2019

Nguồn: Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội, 2020.

Trang 6

tăng 25,55% so với mật độ dân số thành phố

năm 2009 (3.418 người/km2) là Thành phố có

mật độ dân số cao nhất cả nước Mật độ dân

số của Quận 4 cao nhất thành phố là 41.945

người/km2 và mật độ dân số huyện Cần Giờ

thấp nhất là 102 người/km2

Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà

ở 2019,

Dân số các quận nội thành cơ bản không

tăng và có xu hướng giảm, như: Quận 1, Quận

3, Quận 4, Quận 5, Quận 6, Quận 11, quận

Phú Nhuận Nguyên nhân giảm là do việc

di dời dân nhằm thực hiện các chính sách

nâng cấp đô thị; do nhu cầu thuê nhà làm văn

phòng, cửa hàng ở các quận trung tâm; do giá

nhà ở các quận này tăng cao nên người dân có

xu hướng chuyên ra các quận vùng ven, các

huyện nơi có giá nhà đất rẻ hơn để sinh sống

Dân số có xu hướng giảm nhưng các quận này

vẫn có mật độ dân số lớn nhất thành phố, trên

30.000 người/km2 (trừ Quận 1)

Các quận ven trung tâm có xu hướng tăng

nhẹ Tân Bình, Bình Thạnh; Quận Gò Vấp có

mức tăng cao nhất ở khu vực này, và quận

Phú Nhuận có dân số giảm hơn 10.000 dân/10

năm qua Sự gia tăng dân số này không có

khác biệt lớn so với giai đoạn 1999-2009

Các quận tách năm 1997, 2003 có quy mô

dân số tăng rất nhanh, đều tăng ở mức cao,

xếp theo thứ tự, đứng đầu là Bình Tân, Tân

Phú, Thủ Đức; Quận 2 tăng ở mức thấp

Các huyện ngoại thành nhìn chung đều

tăng cao, ngoại trừ Cần Giờ có mức tăng dân

số thấp nhất Nhìn chung tăng trưởng dân số

ở khu vực ngoại thành tăng mạnh hơn so với

giai đoạn (1999-2009) (Bảng 1) Thứ tự là

Nhà Bè, Bình Chánh, Hóc Môn, Củ Chi

Theo số liệu quản lý cư trú thực tế năm

2019,

Số liệu cư trú thực tế có độ chênh so với ĐTDS&NO năm 2019, cơ bản cũng phản ánh mức độ tương đồng sự tăng giảm theo khu vực Tỷ lệ tăng bình quân toàn Thành phố là 29%/10 năm, song ở từng địa bàn quận huyện

có thay đổi chút ít Theo đó, có thể thấy một số quận có tỉ lệ dân số tăng cao 10 năm qua như: Nhà Bè (109%), Bình Chánh (71%); Quận 9 (62%), Quận 12 (58%); Quận 7 (54%); Hóc Môn (46%); Một số quận có tỉ lệ dân số tăng trung bình đến khá cao (từ 25-35%) trong 10 năm qua như: Củ Chi (35%); Quận 2, Bình Tân (33%); Quận 1(31%); Gò Vấp (30%); Thủ Đức (29%); Tân Phú (25%)

+ Tốc độ tăng dân số không đồng đều và

có sự khác biệt theo khu vực, 15/19 quận, huyện vượt khỏi vòng an toàn về an ninh dân

số (trên 8.000 người/km2) Tốc độ tăng dân số cao đều thuộc về các huyện, dẫn đầu là huyện Nhà Bè với 7,16%/năm, sau đó là huyện Bình Chánh với 5,18%/năm, thứ ba là huyện Hóc Môn với 4,40%/năm

+ Biến động về phân bố dân cư theo tốc độ

đô thị hóa và quy hoạch đô thị

Quá trình gia tăng dân số giai đoạn

2009-2019 khá trùng khớp với Quy hoạch phát triển chung của TP.HCM theo Quyết định 24/QĐ-TTg ngày 06/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung TP.HCM đến năm 2025 Qua rà soát đồ án quy hoạch, cho thấy sự dự báo khá chính xác

về mức tăng dân số của TP.HCM đạt mức từ 10,18 triệu đến 10,53 triệu người vào năm

2025 Số liệu này không chênh nhiều so với

dự báo dân số của đồ án Quy hoạch là 10 triệu

Trang 7

TS NGuyễN THị HOàI HươNG - BIếN ĐỘNG DÂN SỐ 29

người

Giai đoạn 2009-2019, đặc biệt là 15 năm

gần đây (2004-2019), tác động của quá trình

đô thị hóa, sự phát triển dân số và sự mở rộng

các khu vực xây dựng đã diễn ra đồng thời

trên các quận huyện, phản ánh tốc độ đô thị

hóa nhanh tương ứng diễn ra tại quận khu vực

lân cận khu nội thành hiện hữu và dần mở

rộng ra các huyện ngoại thành phía Nam, phía

Đông và Tây Bắc của Thành phố

Như vậy, so sánh chuỗi số liệu của Tổng

ĐTDS&NO và mật độ cư trú thực tế giai đoạn

(2009-2019) có mức độ chênh khá nhiều cả

về số lượng (Bản đồ và Bảng 4).

2.2 Cơ cấu dân số

+ Giới tính: Theo số liệu từ cuộc tổng

điều tra dân số và nhà ở 2019, tỷ lệ nam có

4.381.242 người, chiếm 48,7%; nữ 4.611840

người chiếm 51,3% So với cuộc tổng điều tra

dân số và nhà ở trước đó (2009) thì tỷ số giới

tính không thay đổi nhiều (nam: 48,00%; nữ:

52%).Về tổng thể, tỷ lệ nữ có xu hướng tăng

và tỷ lệ nam giảm hơn trước một ít, nhưng tỷ

lệ này cũng có sự khác biệt theo từng độ tuổi

Biểu hiện rõ nét là độ tuổi từ 0-19 tuổi, có tỷ lệ

nam cao hơn so với nữ theo xu hướng độ tuổi

càng thấp thì tỷ lệ nam càng chiếm ưu thế

Đặc biệt, độ tuổi từ 5-9 tuổi, nam cao hơn nữ

đến 29.015 người (chênh lệch 9%) Nguyên

nhân của tình trạng chênh lệch giới tính này

là do ảnh hưởng thì việc thực thi chính sách

mỗi gia đình chỉ sinh 2 con diễn ra từ những

năm 1985-1999 Sang thập niên 2000-2019: tỉ

lệ dân số nam luôn cao hơn nữ từ hơn

10.000-25.000 người Đây là giai đoạn hội nhập của

đất nước, phụ nữ tham gia vào nhiều hơn trong

lĩnh vực đời sống xã hội Phụ nữ TP.HCM có

tỉ lệ sinh con thấp trung bình chỉ 1,39 con/ phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ Vì các gia đình sinh ít con nên việc lựa chọn giới tính nam và quan niệm năm sinh (năm đẹp, hợp tuổi) khá phổ biến trong thực tế Thêm vào đó, với sự can thiệp của khoa học công nghệ, thời gian qua dù ngành y tế đã có nhiều quy định hạn chế cho biết giới tính thai nhi nhưng việc thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm đã

có thể đáp ứng yêu cầu của các gia đình mong muốn sinh con theo nguyện vọng Góp phần

lý giải cho tỉ lệ nam luôn cao hơn nữ trong 20 năm qua Kết quả này một phần do chọn lọc

tự nhiên nhưng phần còn lại là do sự lựa chọn giới tính, đã làm cho tỷ lệ nam cao hơn nữ

+ Độ tuổi: Dân số Thành phố vẫn thuộc

cơ cấu dân số trẻ, tháp tuổi phình ra và đạt cực đại ở độ tuổi từ 20 - 29 Tổng số người trong độ tuổi lao động chiếm 71,26% Số người ngoài độ tuổi lao động chiếm 8,48% Đây là “cơ cấu dân số vàng” do có lực lượng lao động dồi dào, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội

+ Thành phần dân tộc: Đến năm 2019,

Thành phố là nơi hội tụ đầy đủ 54 dân tộc, dân tộc Kinh 8.523.173 người (chiếm 94,8%)

và các dân tộc khác là 469.909 người (chiếm 5,2% tổng dân số thành phố) Dân số các dân tộc thiểu số gia tăng là do di cư của các dân tộc thiểu số từ vùng Tây Nam Bộ, các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên đến Thành phố Nhiều nhất là dân tộc Khmer ở vùng Tây Nam Bộ

+ Dân số theo khu vực nông thôn - đô thị:

Giai đoạn 2009-2019, tỷ lệ dân số khu vực nông thôn tăng nhanh từ 16,68% (2009) lên 20,77% (2019); Tốc độ tăng dân số bình quân

Trang 8

Thực hiện bản đồ: ThS Văn Ngọc Trúc Phương, Khoa Trắc địa bản đồ và Thông tin địa lý, Đại học Tài Nguyên và Môi trường TP.HCM; CN Ngô Xuân Trường, Trung tâm Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý TP.HCM (GIS), Sở Khoa học & Công nghệ TP.HCM.

Trang 9

Khu

với 2009 % biến động 2019 (2) Tăng/ giảm so với 2009 % tăng dân số Các

quận

trung

tâm

Các

quận

ven

trung

tâm

Các

quận

tách

năm

1997,

2003

Các

huyện

ngoại

thành

Bảng 4: So sánh số liệu dân số TP.HCM giai đoạn 2009-2019 theo khu vực

Ghi chú: Số liệu ĐTDS&NO tại thời điểm 01/4/2009 và số liệu cư trú thực tế 15/11/2019.

Trang 10

năm khu vực nông thôn là 4,47%/năm, thành

thị là 1,77%/năm, cho thấy tốc độ đô thị hóa ở

khu vực nông thôn diễn ra mạnh mẽ

+ Trình độ dân trí: ngày càng được cải

thiện, thành phố hiện có 92,9% dân số trong

độ tuổi đi học phổ thông đang đi học và tỷ lệ

biết đọc biết viết từ 15 tuổi trở lên là 99%

2.3 Nguyên nhân của biến động dân số

giai đoạn 2009-2019

Theo kết quả hai cuộc Tổng ĐTDS&NO

năm 2009 và 2019, nguyên nhân biến động

dân số chủ yếu của Thành phố là do tăng cơ

học số lượng người nhập cư vào TP.HCM

Cư dân của các vùng miền trong cả nước,

với nhiều thành phần tộc người đều có mặt

tại Thành phố Nếu như năm 2009, cư dân

vùng Bắc Trung Bộ và đồng bằng Sông Hồng

đã chiếm đến 39,3%, vùng đồng bằng sông

Cửu Long chiếm 29,7%, trong khi vùng Đông Nam Bộ chỉ chiếm 13,3% tổng số người di

cư(4), thì năm 2019, người nhập cư đến Đông Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu

là từ Đồng bằng sông Cửu Long (710 nghìn người, chiếm 53,2%(5)) Chủ yếu người di cư đến thành phố xuất thân từ nông thôn, một số

ít đến từ các đô thị trong cả nước

3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP

Đến nay, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp

lý thuận lợi cho công tác quản lý hành chính, đảm bảo về quyền công dân theo Hiến pháp

và pháp luật Việt Nam“Mọi người dân đều có quyền tự do cư trú”, làm việc và sinh sống Nguồn: Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009; 2019

Biểu 2: Tháp tuổi dân số TP.HCM năm 2009-2019

(4) Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương (2010) Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 - Kết quả điều tra toàn

bộ Hà Nội: Nhà xuất bản Thống kê.

Ngày đăng: 29/07/2022, 11:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w