1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kỹ thuật gốm thủ công của người khmer nam bộ trong so sánh với kỹ thuật gốm của một số tộc người khác ở việt nam và khu vực hạ lưu sông mê kông

12 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 668,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến nay, có rất nhiều nghiên cứu kỹ thuật gốm thủ công của một số tộc người trong nước và ở Đông Nam Á đặc biệt là hạ lưu sông Mê Kông của các nhà dân tộc học nghiên cứu sản xuất gốm

Trang 1

KINH TẾ - XÃ HỘI ĐÀ NẴNG

2 Nghiên cứu tài nguyên du lịch nhân văn phục vụ phát triển du lịch ở

Đà Nẵng hiện nay

Lê Đức Thọ

7 Phát triển du lịch đường sông tại Đà Nẵng: Tiềm năng và thách thức

Nguyễn Thị Lê Dung

12 Phát triển đội ngũ hướng dẫn viên du lịch trong thời kỳ hội nhập tại thành phố Đà Nẵng

Nguyễn Thị Ái Vân

18 Văn hóa dân gian - Nét văn hóa du lịch đặc trưng của Đà Nẵng

Nguyễn Đoàn Anh Vũ MIỀN TRUNG - TÂY NGUYÊN

23 Định hướng và giải pháp đột phá đẩy mạnh phát triển du lịch vùng duyên hải miền Trung trong bối cảnh mới

Phạm Trung Lương NGHIÊN cứU - TRao ĐổI

29 Dòng Lâm Tế Chúc Thánh và các kiến trúc của Thiền phái này ở Hội An (Quảng Nam)

Đào Vĩnh Hợp - Võ Thị Ánh Tuyết

36 Pho tượng Dương Lệ và truyền thống tượng Lakshmi trong nghệ thuật Champa

Ngô Văn Doanh

42 Di tích Chăm ở thung lũng An Khê: Nhìn từ lịch sử và khảo cổ học cảnh quan

Trần Kỳ Phương

49 Tập tục cúng biển ở Việt Nam và Trung Quốc: Nghiên cứu trường hợp cúng biển của ngư dân đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi, Việt Nam) và ngư dân quần đảo Châu Sơn (Chiết Giang, Trung Quốc)

Nguyễn Thái Hòa

54 Vai trò của người Hoa trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội ở đô thị

Mỹ Tho

Trần Hồng Liên

58 Kỹ thuật gốm thủ công của người Khmer Nam Bộ trong so sánh với kỹ thuật gốm của một số tộc người khác ở Việt Nam và khu vực hạ lưu sông

Mê Kông

Nguyễn Thị Hoài Hương

Mục lục

Phát triển

Kinh tế - Xã hội

Đà nẵng

Tổng biên tập

TRẦN ĐỨC ANH SƠN

Phó Tổng biên tập kiêm Thư ký Tòa soạn

VÕ VĂN HOÀNG

HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP

TS Huỳnh Huy Hòa

TS Nguyễn Văn Hùng

TS Võ Duy Khương

TS Hồ Kỳ Minh

TS Trần Đức Anh Sơn

ThS Nguyễn Quang Trung Tiến

ThS Bùi Văn Tiếng

TS Nguyễn Phú Thái

ThS Nguyễn Hữu Thông

Số 110/02.2019

Tòa soạn

Tạp chí Phát triển Kinh tế - Xã hội

Đà Nẵng

Tầng 28, Trung tâm Hành chính

TP Đà Nẵng, 24 Trần Phú, Đà Nẵng

ĐT: 0236 3 840 019

E-mail: tcktxhdanang@yahoo.com;

tcktxhdanang@gmail.com

Website: www.dised.danang.gov.vn

Phát hành và quảng cáo

ĐT: 0236 3 840 019

Giấy phép xuất bản

Số 371/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền

thông cấp ngày 07/8/2015 In tại Trung tâm In

Thông tấn Đà Nẵng

Bìa và trình bày

HOÀI AN

ISSN 1859 - 3437

Trang 2

1 Về kỹ thuật chế tạo đồ gốm thủ công ở Đông

Nam Á

Các tài liệu khảo cổ cho biết rằng, đồ gốm đã được

phát minh từ thời tiền sử và được sử dụng trong một

thời gian dài cho đến tận ngày nay Các loại hình và

kỹ thuật chế tạo đồ gốm cũng thay đổi nhiều theo

những tiêu chí về: các chỉ số văn hóa, nhu cầu sử

dụng của từng vùng, từng tộc người, từng điều kiện

kinh tế và thẩm mỹ

Cho đến nay, có rất nhiều nghiên cứu kỹ thuật

gốm thủ công của một số tộc người trong nước và

ở Đông Nam Á đặc biệt là hạ lưu sông Mê Kông của

các nhà dân tộc học nghiên cứu sản xuất gốm thô

(earthenware, pottery) ở quy mô hộ gia đình cung

cấp đồ gốm sử dụng trong sinh hoạt ở các vùng nông

thôn Trong đó, Willhelm Solheim là người đã bắt đầu

các cuộc điều tra sản phẩm đất nung của các cư dân

bản địa Đông Nam Á từ những năm 80 của thế kỷ XX,

và sau đó là Donn Bayard, ông tiếp tục làm việc trong

các địa điểm sản xuất đồ gốm bản địa quan trọng ở

Đông Bắc Thái Lan

Sau này có Lefferts, Leedom và Louise A.Cort, đã

có hơn 15 năm nghiên cứu về vấn đề gốm thủ công

truyền thống của các dân tộc Đông Nam Á Đến tháng

11.2009, họ đã thống kê và lập bản đồ các địa điểm

sản xuất gốm thô thủ công ở Đông Nam Á có tất cả

144 địa điểm Trong đó Việt Nam có 23; Campuchia có

8; Lào 19; Yunnan có 9; Malaysia 1; Thái Lan 84: vùng

đông bắc có 65, miền bắc có 14, miền trung có 2, và

miền nam có 3 địa điểm (Lefferts, Leedom và Louise

A.Cort, 2009) và đưa ra một bảng phân loại theo kỹ

KỸ THUẬT GỐM THỦ CÔNG CỦA NGƯỜI KHMER NAM BỘ

TRONG SO SÁNH VỚI KỸ THUẬT GỐM CỦA MỘT SỐ TỘC NGƯỜI KHÁC

Ở VIỆT NAM VÀ KHU VỰC HẠ LƯU SÔNG MÊKÔNG

? NGUYỄN THỊ HoÀI HươNG *

* TS., Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh

thuật đồ đất nung ở khu vực này từ loại A đến loại E (type A - E) cho tất cả các kỹ thuật làm gốm thủ công của các tộc người ở các vùng miền trong khu vực Đông Nam Á

2 Kỹ thuật gốm thủ công của người Khmer ở Nam Bộ

Trong bài viết này, tôi giới thiệu về quy trình kỹ thuật gốm Khmer qua khảo sát ở tỉnh An Giang và Kiên Giang các năm 2000, 2008 - 2009, 2012 và 2014 tại 2 làng gốm có truyền thống lâu đời nhất là làng gốm Phnom Pi, ấp An Thuận, xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang và làng Hòn Quéo, xã Thổ Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang

Đến năm 2014, các làng gốm nói trên vẫn còn sản xuất nhưng ở cấp độ hộ gia đình Làng gốm Phnom

Pi ấp An Thuận, xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang có 21 hộ gia đình, làng gốm ấp Hòn Quéo, xã

Làm gốm của người Khmer ở An Giang

Trang 3

Bản vẽ 1 Kỹ thuật tạo dáng loại A Bản vẽ 2 Kỹ thuật tạo dáng loại B

Bản vẽ 3 Kỹ thuật tạo dáng loại C Bản vẽ 4 Kỹ thuật tạo dáng loại D

Bản vẽ 05 loại kỹ thuật tạo dáng đồ gốm thủ công cổ ở Đông Nam Á

Bản vẽ 5 Kỹ thuật tạo dáng loại E

[Nguồn: Lefferts, Leedom and Louise A.Cort, "A Preliminary Cultural Geography of Contemporary Village-based Earthenware Production in Mainland Southeast Asia", in, Premodern Earthenware of Southeast Asia, ed by John Miksic Singapore: Singapore University Press, 2003, 300-310

Trang 4

Thổ Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang còn 4 hộ gia

đình làm gốm

2.1 Về thời điểm ra đời nghề gốm

Nghề gốm của người Khmer Nam Bộ Việt Nam có

một bề dày về truyền thống và lịch sử phát triển Có

khá nhiều tài liệu ghi nhận về nghề gốm của người

Khmer ở An Giang và Kiên Giang.1 Trải qua nhiều đời,

đến nay không ai còn nhớ là nghề gốm có từ bao giờ

Người thợ gốm chỉ biết họ học nghề từ mẹ, mẹ họ

học từ bà ngoại, bà ngoại học từ bà cố Có người bắt

đầu làm gốm từ khi lên 12 - 15 tuổi Đến nay những

người thợ này đã ở độ tuổi trung bình 50 - 60 tuổi,

người già nhất khoảng 80 tuổi Nghề làm gốm là

nghề mang lại thu nhập chính của người dân nơi

đây Họ không có đất nông nghiệp hoặc có rất ít diện

tích đất trồng lúa Vì vậy, công việc làm gốm hầu như

được thực hiện quanh năm suốt tháng (ngoại trừ các

ngày lễ, ngày tết và ngày mùa) Hiện nay, các hộ gia

đình làm gốm đều thực hiện theo đơn đặt hàng của

một số chủ vựa, tập trung chủ yếu vào các loại sản

phẩm mà thị trường cần, đơn giản chỉ là các nồi gốm,

bếp lò, trã kho cá, giò phong lan

Nghiên cứu độ tuổi các thợ gốm Khmer tại thời

điểm khảo sát vào tháng 10.2012, người thợ cao tuổi nhất là Néang Hoi, sinh năm 1923 (89 tuổi), gia đình có

ba thế hệ làm gốm Điều này phần nào cho thấy nghề gốm tại đây phát triển ít nhất cách nay (2014) khoảng

141 năm (tức là tại ấp Phnom Pi vào năm 1873 đã có người làm gốm) Chắc chắn mốc thời gian cần được

so chiếu thêm, nhưng đây là một mốc thời gian đáng tin cậy phù hợp với thời gian cư trú của người Khmer tại vùng này Theo các thợ làm gốm ở Kiên Giang, thì mốc khởi điểm người lớn tuổi nhất bắt đầu làm gốm

từ khoảng năm 1953 - 1954 và tiếp tục sản xuất cho đến hiện nay với quy mô sản xuất nhỏ hộ gia đình và sức tiêu thụ ít, số lượng các hộ làm gốm không gia tăng đáng kể, dao động trên dưới 10 hộ

2.2 Tổ chức sản xuất

Nghề làm gốm của người Khmer mang tính chất bán chuyên nghiệp, sử dụng lao động lúc nông nhàn, với quy mô sản xuất theo hộ gia đình, chỉ một số ít

hộ lấy nghề làm gốm là nghề chính Trong các hộ gia đình Khmer làm gốm, phân chia lao động về giới khá rõ: người phụ nữ có thể đảm đương từ khâu lấy nguyên liệu đến khâu nung và tiêu thụ sản phẩm Đàn ông tham gia vào những việc nặng nhọc như

Hình 1 Bản đồ phân bố các điểm làm gốm của người Khmer ở Nam Bộ

A Ấp Phnom Pi, xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang

B Ấp Tri Tôn, thị trấn Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang

C Ấp Hòn Quéo, xã Thổ Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang

Trang 5

vận chuyển đất, xử lý nguyên liệu, nhồi đất, xếp gốm,

nung gốm

Thông thường, mỗi gia đình Khmer làm gốm là

một đơn vị sản xuất nhỏ và khá hoàn chỉnh, bao gồm

cả ông bà, cha mẹ và con cái Vào những ngày sản

xuất bận rộn, các thành viên trong gia đình đều hỗ

trợ nhau trong công việc Người thợ gốm Khmer chủ

yếu “lấy công làm lời” không có trường hợp nào thuê

thêm người phụ giúp Đặc biệt, các gia đình còn làm

gốm này có quan hệ họ hàng mật thiết và học hỏi

lẫn nhau Các hộ gia đình ở cùng xóm có thể góp củi,

rơm và công sức để phụ giúp nhau trong việc nung

đốt sản phẩm

Hiện nay, tại thị trấn Hòn Đất và ấp Hòn Quéo

người Khmer vẫn còn sản xuất gốm theo phương

thức truyền thống Tuy nhiên, tại đây ít nhiều mang

tính chất chuyên môn hóa hơn so với ấp Phnom Pi ở

việc sản xuất gốm số lượng nhiều hơn và đã sử dụng

khuôn nắp Do đó, tính chất sản xuất ở Hòn Đất nói

chung mang tính chất “tiền công nghiệp” hơn ở An

Giang

2.3 quy trình kỹ thuật chế tác gốm Khmer

Qua khảo sát thực tế tại 2 địa bàn trên, chúng tôi

được biết kỹ thuật và các quy trình chế tác đồ gốm của

người Khmer từ xưa đến nay hầu như không thay đổi

2.3.1 Công cụ làm gốm

Công cụ chính dùng để làm gốm của người Khmer

ở Nam Bộ là bàn đập và hòn kê (bàn xoa)

- Bàn đập (paddle trong tiếng Anh; Sờ đâm trong tiếng Khmer): chất liệu bằng gỗ có hai loại, loại có hoa văn và không có hoa văn Hoa văn khắc sẵn trên bàn đập cũng đơn giản, hình cánh sen dẹt Loại bàn đập bằng tre (paddle trong tiếng Anh; Sờ co trong tiếng Khmer) chỉ dùng để tạo dáng cổ vì tận dụng độ cong hình cung của thân tre

- Bàn xoa (Anvil trong tiếng Anh, Kalen trong tiếng Khmer): hình nấm bằng gốm

- Cây tạo dáng hoặc bàn xây (wooden post trong tiếng Anh; Sơbàxoa trong tiếng Khmer) làm từ thân cây dừa hoặc cây thốt nốt

Ngoài ra còn có các dụng cụ khác để lấy đất như cuốc nhỏ, chày giã đất, lá thốt nốt hoặc lá rừng gọi tiếng Khmer gọi là lớtchá để vuốt miệng

Người Khmer ở Phnom Pi vẫn còn sử dụng cả loại hòn kê bằng gốm lẫn hòn kê bằng gỗ Họ bảo quản các dụng cụ này bằng cách bôi một lớp hắc ín lên bề mặt hòn kê (phần nấm) giữ cho chúng không bị ăn mòn và cầm nhẹ tay trong khi sử dụng Trong khi ở Hòn Đất, người ta dùng hòn kê làm bằng đất nung ở giữa, bọc thêm bên ngoài một lớp xi măng cho chắc chắn

2.3.2 Nguyên liệu Nguồn nguyên liệu đất sét tại địa phương được khai thác và sử dụng vào việc chế tác gốm ở các khu vực nói trên là loại đất sét nằm ven chân núi, do trầm tích núi lắng đọng hình thành một loại đất sét dẻo pha cát mịn có màu vàng nâu nhạt Nhìn chung, thợ gốm Khmer ở An Giang hầu như không pha trộn thêm cát, chỉ trộn thêm cát cho loại hình lu gốm hay

cà ràng Ở Kiên Giang có trộn thêm đất sét ruộng vào đất sét khai thác tại khu vực sườn núi

Theo khảo sát năm 2008, các gia đình mua hoặc khai thác đất ruộng gần chân núi Hòn Đất và Hòn

Me, Hòn Sóc… (Kiên Giang); núi Nam Quy, khu vực khai thác đá Latina hoặc ở những “hầm mối” trên núi Cấm… (An Giang), cách chân núi khoảng 1 km Người

ta bỏ lớp đất mặt khoảng 20 - 30 cm và bắt đầu lấy đất Nơi lấy đất cách khu nhà ở khoảng 500 m Người

ta vò đất thành khối (viên) tròn, đường kính khoảng

30 cm rồi mang vác về nhà Những hộ lớn tuổi thường mua đất do thương lái chở đến bằng thuyền và giao tận nhà, giá 1 viên đất là 3.000 đồng Những năm gần đây (2010 - 2013), đất sét khai thác dần khan hiếm,

Kỹ thuật tạo dáng sản phẩm của người Khmer ở An Giang

Trang 6

người thợ làm gốm ít khai thác đất ở những nơi trước

đây vì những khu vực trên được khai thác, sử dụng

cho các công trình khai thác đá và công trình nhà ở…

mà họ mua đất từ những vùng lân cận chở đến

Đất mua về người thợ gốm chỉ cần che đậy kỹ

không cho bốc hơi nước, giữ độ dẻo cần thiết cho

việc tạo dáng Họ chỉ cần nhặt những viên sỏi và các

tạp chất là có thể nhồi đất sử dụng cho việc chế tác

ngay Đối với đất sét làm bếp lò (người Khmer gọi là

Cà ràng) thì có trộn thêm đất sét ruộng và đất sét khai

thác ở chân núi với tỷ lệ 1/1

2.3.3 Kỹ thuật tạo gốm

Về quy trình tạo phôi gốm cho tất cả các loại hình

đều bắt đầu từ thỏi đất, sau đó đập bẹt ra để tạo ống

hình trụ rồi mới tiếp tục tạo hình theo sản phẩm định

tạo, lần lượt theo các bước sau đây:

Bước 1: Ra khuôn hay se dây

Bước 2: Bắt khuôn tạo hình trụ tròn

Bước 3: Lên miệng, bê cổ (với các loại nồi, lu,

trách…) hoặc gắn các phần phụ (như quai, đầu rau

cà ràng…)

Bước 4: Hoàn chỉnh dáng sản phẩm

Để hoàn tất một sản phẩm cần một khoảng thời

gian khá dài, có khi mất nửa ngày vì phải chờ cho

đất se khô qua các công đoạn Do đó khi thực hiện,

thường người thợ tạo theo từng bước cho một loạt

sản phẩm, sau đó tiếp tục tạo dáng bước tiếp theo

cho đến hết loạt sản phẩm dự kiến thực hiện trong

một buổi hoặc một ngày, thậm chí kéo dài 3 ngày (đối

với các đồ gốm lớn, làm số lượng nhiều) Sản phẩm

mộc được phơi khô tập trung ở một góc nhà đợi đến

khi làm đủ một số lượng nhất định thì đem nung Kỹ thuật nung cơ bản giống nhau ở hai địa bàn nghiên cứu Cụ thể đơn cử quy trình tạo dáng nồi gốm như sau:

a/ Tạo dáng: Kỹ thuật tạo dáng nồi gốm với công

cụ hỗ trợ là bàn đập và hòn kê (paddle and anvil) gồm bốn bước Mỗi bước chỉ mất 3 - 5 phút Sau mỗi bước, người ta chờ cho đồ gốm se khô khoảng 2 - 2h30 phút mới làm tiếp bước tiếp theo

- Bước 1: Nhồi đất, se dây, ra khuôn hình ống tròn: người thợ lấy đất vừa đủ làm đồ gốm muốn tạo dáng, ngồi trên ghế thấp, đặt đất sét bên trên mảnh ván Người thợ vừa nhồi đất cho đều, vừa lăn đất thành thỏi dài Ngắt bỏ hai đầu làm cho thỏi đất cân đối, kích cỡ tương đương với đồ gốm định tạo dáng Sau

đó đặt thỏi đất lên trên mảnh bao tải đã trải trên tấm ván, người thợ đập dẹt miếng đất bằng gang lòng bàn tay phải, rồi dùng mép ngón tay cái của bàn tay phải ấn đều lên thành hàng ngang Tiếp đến, dùng

cả ngón tay cái và mép bàn tay phải miết từ trái sang phải và nghiêng bàn tay phải miết từ phải sang trái làm cho miếng đất được cán đều Trong khi miết đất,

có thể lựa bỏ các viên sỏi nhỏ hoặc tạp chất ra khỏi miếng đất

Sau khi đất đã được cán đều thành hình chữ nhật dẹt, người thợ dựng đứng miếng đất theo chiều ngang và cuốn lại thành hình tròn, thêm một chút đất vào để làm kín vết nối, kết thúc bước 1 của quy trình tạo dáng

- Bước 2: Làm miệng: Sau khi ống đất se khô, người

ta đặt ống đất trên bàn xây Dùng bàn xoa hình nấm thấm nước xoa vào đáy hình nấm, xoa đều với lòng bàn đập cho trơn, đặt bàn xoa để nống, giữ bên

Tạo dáng gốm ở ấp Hòn Quéo (Kiên Giang, Việt Nam)

Trang 7

trong, dùng bàn đập ở ngoài đập xung quanh ống

đất Người thợ đi vòng ngược chiều kim đồng hồ, vừa

đi vừa tạo dáng, với một tay cầm bàn xoa bên trong,

một tay cầm bàn đập bên ngoài, điều chỉnh độ rộng

của miệng Dùng bàn đập bằng tre, có độ cong ½ hình

tròn đập ngang để tạo dáng cổ Tiếp đến, người ta lấy

một mẩu lá thốt nốt thấm nước, một tay dùng ngón

tay cái và ngón trỏ giữ chặt miệng đồ gốm, ngón tay

cái của bàn tay phải ấn giữa bên trong đi xung quanh,

vuốt và tạo miệng Để vuốt miệng cân đối và đẹp cần

phải giữ chặt mảnh lá thốt nốt bám vào thành miệng

đồ gốm, đi nhanh, vuốt đều Lá thốt nốt phải thấm

nước để tạo độ bóng mịn cho miệng

- Bước 3: Lên hông: Làm miệng xong, đợi cho đồ

gốm se khô trong vòng 2h - 2h30 phút, người ta tiếp

tục tạo hông đồ gốm trên bàn xây Cũng với bàn xoa

bên trong và bàn đập không có hoa văn bên ngoài,

tiếp tục điều chỉnh dáng tròn cho đồ gốm, bắt đầu

là nống vai, nống bụng Sau đó dùng bàn đập có hoa

văn đập ấn xung quanh cổ bằng hoa văn cánh sen

bầu Tiếp đến đập dọc theo dáng đồ gốm bằng hoa

văn lượn sóng

- Bước 4: Đập đít (làm khít đáy): là khâu cuối cùng

hoàn chỉnh đồ gốm Người thợ ngồi trên ghế thấp,

chân trái gập tiếp mông, chân phải xếp bằng, lòng bàn chân giáp đầu gối chân trái Đặt chiếc nồi gốm

úp xuống cẳng chân phải Sau khi xoa ướt dụng cụ, tay trái cầm bàn xoa đặt bên trong, tay phải dùng bàn đập có hoa văn đập kéo giãn đất xung quanh để khép kín đáy đồ gốm Khi đồ gốm gần kín, chuyển tay trái lồng vào bên trong xuyên qua miệng đồ gốm, giữ bàn xoa và đập sao cho đáy đồ gốm kín và đất sét dàn đều là được Hoa văn được đập đi đập lại nhiều lần nên tạo ra đường nét đan chéo nhau không đều

b/ Nung đồ gốm: Sau khi tạo hình xong, gốm được

phơi khô và tập trung đủ số lượng cần thiết sẽ tiến hành nung

Các gia đình nung gốm ở sân phẳng xung quanh nhà Nhiên liệu để nung là rơm và củi tre, bạch đàn hoặc củi rừng Khoảng 10 ngày mỗi gia đình tổ chức nung một lần Mỗi lần nung khoảng 500 chiếc nồi Trước khi đem nung, đồ gốm đã được phơi khô và hong bằng lửa cho hết sạch hơi nước trong đất sét Người ta trải tro bên dưới nền đất rồi sắp xếp một lớp củi theo hình chữ nhật, sau đó xếp đồ gốm lên theo hàng, chèn củi giữa các đồ gốm, bên trên và xung quanh Cuối cùng phủ rơm lên toàn bộ khối đồ gốm Trong quá trình đốt, liên tục tiếp rơm vào trong

Trang 8

đống lửa cho đến khi gốm chín đỏ rực như than rồi

mới ngưng đốt Thời gian nung khoảng 2h - 3h Sau

khi tàn lửa khoảng vài giờ cho hết nóng, họ lấy đồ

gốm ra Sản phẩm hỏng trong mỗi lần nung từ 2 đến

3 chiếc nồi (chiếm 10 - 15%)

c/ Sản phẩm và tiêu thụ

Các sản phẩm sản xuất thường xuyên là các loại

nồi dùng rang hoặc nấu nước; trã kho cá, khuôn bánh

khọt, cà om đựng nước, chậu rửa, chậu (thalang)

dùng đốt vàng mã; cà ràng (bếp lò), nòng chắn khói

(chảo chắn khói), ống khói lò đường thốt nốt, giò

trồng phong lan, bình bát (chỉ làm khi có khách đặt

hàng cúng dường cho các nhà chùa) Các loại như

lu đựng nước, đựng gạo dùng trong gia đình, trách

to dùng nấu bánh, tráng bánh thì chỉ làm khi có nhu

cầu sử dụng trong gia đình hoặc người quen yêu cầu

Riêng một số hộ gia đình người Khmer ở Phnom Pi

(An Giang) thì được khách sạn Châu Đốc đặt hàng loại

sản phẩm đồ gốm nhỏ dùng bán cho khách du lịch

làm quà lưu niệm như bộ bếp cà ràng, nồi gốm nhỏ…

Đặc biệt, mặt hàng lưu niệm này có ghi “thương hiệu”

là tên của khách sạn Victory ở Châu Đốc

Đồ gốm Khmer ở Kiên Giang do có pha lượng cát nên có độ dày hơn ở An Giang Về kiểu dáng sản phẩm gốm Khmer khá đơn giản, loại hình chủ đạo là hình cầu có dáng thấp, miệng loe xiên, vành miệng trung bình, bụng phình to, tròn, đáy lồi Tất cả các loại này được trang trí văn đập Kỹ thuật tạo hoa văn bằng tay với những công cụ phụ trợ chủ yếu là bàn đập và hòn

kê, do đó hoa văn trên đồ gốm chủ yếu vẫn là hoa văn đập hình zíc zắc, hình lá dừa, văn cánh sen cách điệu, hoặc những hoa văn khung khắc những vạch song song, hay những đường dún hình sóng nước

Hoa văn đập thể hiện trong kỹ thuật tạo hình cho sản phẩm gốm Khmer ở Nam Bộ có ý nghĩa về

kỹ thuật hơn là mỹ thuật Vì khi người thợ làm liền phần đáy bằng thao tác một tay đỡ hòn kê bên trong tạo độ nống cho việc đập ấn hoa văn vào được dễ dàng Người thợ vừa đập mạnh nhằm ấn hoa văn tạo cho sản phẩm có độ cứng nhất định đồng thời vừa có tác dụng kéo khối đất mỏng ra làm kín đáy đồ gốm ở khâu cuối cùng

Tại hai làng gốm Khmer ở Nam Bộ nói trên, mỗi

hộ gia đình làm một vài loại sản phẩm cố định, mỗi

Trang 9

ngày tùy từng loại sản phẩm lớn nhỏ mà người thợ

làm được nhiều hay ít sản phẩm Một người thợ có

thể làm 25 - 30 chiếc nồi trong 1 ngày, thu nhập mỗi

người khoảng từ 30 - 35.000 đồng/người/ngày (năm

2012)

Thông thường, thương lái đặt hàng và có ghe vào

tận nhà để nhận sản phẩm Ở Phnom Pi (An Giang)

người ta vận chuyển bằng xe đạp hoặc gánh bộ ra

chợ Xà Tón Ở Hòn Quéo (Kiên Giang) người ta gánh

hoặc mang đồ gốm ra bến sông cách làng khoảng vài

trăm mét để thương lái xếp lên ghe tập trung về thị

trấn Hòn Đất Từ đây, thương lái chở ghe đi các tỉnh

đồng bằng sông Cửu Long để bán

d/ Về quy mô tổ chức sản xuất và tiêu thụ: ở ấp

Phnom Pi vẫn còn mang tính chất sản xuất nhỏ lẻ hộ

gia đình, trong khi ở Hòn Quéo và thị trấn Hòn Đất sản

xuất với quy mô “tiền công nghiệp” số lượng đồ gốm

cho một lần nung nhiều hơn, có sự chuyên môn hóa

trong loại hình sản phẩm đối với từng hộ gia đình

Điều này cũng là quy luật tất yếu trong kinh tế “nhất

cận thị, nhị cận giang” Các làng gốm Khmer ở Hòn Đất

hội đủ cả hai yếu tố trên là gần đường quốc lộ, giao

thương phát triển mạnh, nơi tiếp giáp với khu vực Hà

Tiên và đồng bằng sông Cửu Long bằng đường thủy

lẫn đường bộ thuận lợi cho việc vận chuyển nguồn

nguyên liệu và buôn bán đồ gốm Trong khi làng

gốm ở ấp Phnom Pi, huyện Tri Tôn là khu vực miền

núi gần biên giới, trước đây từng xuất khẩu đồ gốm

sang Campuchia và tiêu thụ tại một số tỉnh thuộc khu

vực đồng bằng sông Cửu Long nhưng hiện nay, về

mặt giao thương và nhu cầu sử dụng đồ gốm không

có nhiều lợi thế như các làng gốm ở huyện Hòn Đất

Do đó, làng gốm ở ấp Phnom Pi vẫn sản xuất đồ gốm

nhưng chỉ ở quy mô nhỏ

Đặc điểm kỹ thuật giữa hai vùng gốm hoàn toàn

giống nhau về quy trình, công cụ, cách tạo dáng và

tổ chức sản xuất Nguồn nguyên liệu sét ở hai vùng

và cách xử lý nguyên liệu có khác nhau Đất sét làm

gốm ở An Giang hầu như không pha trộn thêm đất

sét ruộng như ở Kiên Giang Vì thế màu sắc bên ngoài

của sản phẩm ở hai địa phương có phần khác biệt

Tóm lại, với lịch sử ra đời của nghề gốm, kết quả

nghiên cứu cho thấy, ở tỉnh An Giang nghề gốm

ra đời sớm hơn, ít nhất là từ năm 1873, đến nay có

khoảng 150 năm tồn tại Trong khi đó, nghề gốm ở

tỉnh Kiên Giang thời điểm xuất hiện nghề cách nay

khoảng trên 60 năm

Nghề gốm thủ công ở cả hai tỉnh An Giang và Kiên Giang đều hoạt động mang tính ổn định, cầm chừng, vẫn còn mang yếu tố của một nền sản xuất nhỏ, kỹ thuật lạc hậu, hiệu quả kinh tế thấp Tuy nhiên, xu hướng mỗi hộ gia đình chuyên sản xuất vài loại sản phẩm gốm khác nhau và làm theo đơn đặt hàng nhiều hơn là tự cung, tự cấp Sự phân công lao động dần dần trở nên hợp lý với vai trò giới trong gia đình Các khâu chế tác đồ gốm cũng theo kiểu tiền công nghiệp hơn trước

3 Kỹ thuật gốm của người Khmer trong đối sánh với các tộc người khác ở Việt Nam và vùng hạ lưu sông Mê Kông

3.1 Kỹ thuật chế tác gốm của người Khmer ở hạ lưu sông Mê Kông

Ở Đông Nam Á lục địa và hạ lưu sông Mê Kông, khó nhận ra việc sản xuất gốm truyền thống theo địa phương hay gia đình vì chúng ta có thể thấy rõ họ đã triển khai các kỹ thuật khá giống nhau Về tạo hình, đều dùng các công cụ chính là bàn đập và hòn kê (paddle and anvil) Tư thế tạo dáng là đi vòng quanh một trụ gỗ, trụ này có thể làm bằng các loại cây cọ, dừa có sẵn tại địa phương Phôi gốm ban đầu đều xuất phát từ một vòng đất sét (coils), sau đó dùng tay

ấn, cán đều thành tấm đất sét mỏng rồi cuộn thành hình trụ tròn (loại A theo phân loại của Lefferts Cort, 2009) Với kỹ thuật này, người thợ gốm Khmer ở Việt Nam, Thái - Khorat (Thái Lan) và Campuchia là hoàn toàn giống nhau Về kỹ thuật nung gốm, người thợ gốm Khmer ở các nước nói trên đều nung gốm ngoài trời phù hợp với chất liệu đồ gốm đất nung chỉ cần nhiệt độ nung vừa phải khoảng 700 - 8000C

Mặc dù có sự giống nhau trong kỹ thuật sản xuất

đồ gốm giữa người Khmer Nam Bộ và vùng hạ lưu sông Mê Kông, nhưng kiểu dáng sản phẩm có thể nói mang đặc trưng của từng vùng miền và từng quốc gia riêng biệt Kiểu dáng đồ gốm do người thợ định hình trong quá trình chế tác và phụ thuộc vào bàn tay khéo léo của người phụ nữ

Sự khác biệt về nguyên liệu, xử lý nguyên liệu, các chi tiết trong thao tác tạo hình và yếu tố môi trường tác động đến hoạt động của nghề gốm đất nung của người Khmer vùng hạ lưu sông Mê Kông Việc xử lý nguyên liệu cũng có sự khác nhau ở các nơi, ở Việt Nam đất sét khai thác về sau khi loại các tạp chất là có thể sử dụng được ngay Riêng Campuchia có sự sàng lọc đất sét kỹ lưỡng hơn… Sự khác nhau mang tính

Trang 10

quá trình chuyển đổi của kỹ thuật như thế được các

nghiên cứu đi trước cho rằng phương thức kỹ thuật

mang truyền thống gia đình là do kết quả thay đổi

về thời gian và việc di dân (H Leedom Lefferts Jr and

Lefferts Cort, 1997, Tokusawa Keiichi, Yuko Hirano,

Nguyen Thi Hoai Huong, 2010) Sự phối hợp giữa các

công đoạn là kết quả của sự tối ưu hóa, kết hợp với

sản xuất đồ gốm xưa, sự khác nhau giữa môi trường

của các vùng miền, nguyên liệu hay khả năng kết

dính của đất sét

Tuy cần thiết phải xem xét kỹ hơn nhưng qua kết

quả nghiên cứu, chúng tôi cho rằng sản xuất gốm

Khmer ở một số nước Đông Nam Á như Việt Nam,

Thái Lan, Campuchia thuộc loại A thuộc Phả hệ truyền

thống gốm Khmer ở lưu vực hạ lưu sông Mê Kông

3.2 Kỹ thuật chế tác gốm thủ công của các tộc

người (Chăm, bana, Giẻ-Triêng, Cơ Tu và người Chu

Ru) ở Việt Nam

Qua tham khảo và thực tế quan sát làm gốm ở các

tộc người Chăm, Bana, Giẻ-Triêng, Cơ Tu và người Chu

Ru ở Việt Nam, có thể đưa ra một số nhận xét như sau:

- Xử lý nguyên liệu

Về quy trình làm gốm khá tương đồng nhau giữa

các tộc người trong xử lý và nguyên liệu đến tạo

dáng, gồm các khâu: Khai thác - xử lý tạp chất - nhồi

đất (có hoặc không có pha trộn) - tạo dáng từng phần

- hoàn thiện sản phẩm - nung Tuy nhiên, nguyên liệu

ở từng địa phương có những đặc thù riêng nên việc

xử lý đất có những khác biệt nhất định Song với từng

sản phẩm gốm của mỗi làng nghề cho thấy sản phẩm

biểu hiện tính chất độc đáo riêng về cách tạo dáng và

mẫu mã sản phẩm

- Kỹ thuật tạo dáng đồ gốm: Theo cách phân loại

kỹ thuật tạo dáng đồ gốm thủ công cổ ở Đông Nam

Á của Lefferts, Leedom và Louise A.Cort (2003), (Bản

vẽ 05), đặc điểm kỹ thuật của các tộc người phần nào

cho thấy có những nét tương đồng trong kỹ thuật

theo khu vực cư trú Ở đây, có thể phân ra ba nhóm kỹ

thuật tạo dáng khác nhau:

Loại 1: (A) cho kỹ thuật của tộc người Khmer Từ

nguyên thể là cuộn đất sét con chạch, người Khmer

đập bẹt ra và cuộn lại thành hình trụ tròn, từ đó bắt

đầu tạo dáng đồ gốm

Loại 2: (B+C) cho kỹ thuật của người Giẻ-Triêng và

người Chu Ru với dải đất con chạch ban đầu, bằng

động tác quấn tròn chồng lên nhau để tạo hình trụ tròn và bắt đầu tạo dáng đồ gốm

Loại 3: (C+D) cho kỹ thuật của người Chăm, Ba Na,

Cơ Tu với kỹ thuật nặn nguyên khối kết hợp với kỹ thuật dải cuộn và vòng nạo đất Kỹ thuật tạo dáng đồ gốm này khá tương đồng với người Khmer ở Attapeu, (Lào)

Tuy cách thức tạo dáng từ bước đầu tiên đến bước thứ 2 có khác nhau giữa các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và Nam Bộ nhưng đến bước thứ ba trở đi kỹ thuật tạo dáng khá giống nhau Công

cụ hỗ trợ là bàn đập và hòn kê Hòn kê có thể sử dụng tùy theo địa phương như người Khmer dùng hòn kê bằng gốm hình nấm, người Ba Na dùng hòn cuội, người Giẻ-Triêng, người Cơ Tu dùng quả tràm… tạo dáng đi vòng quanh trụ hoặc bàn tạo dáng

Với kỹ thuật nặn khối nhưng kết hợp với kỹ thuật dải cuộn (loại C+D) luôn cần có sự hỗ trợ của công

cụ vòng nạo đất Có lẽ đây là kỹ thuật xưa nhất trong tiến trình phát triển kỹ thuật Vì cơ bản thời gian nạo, tạo dáng và tu sửa mất nhiều thời gian so với tạo hình dạng phiến rồi cuộn lại Theo lập luận này thì kỹ thuật gốm của người Chăm, Cơ Tu và Ba Na có thể khẳng định là thuộc loại kỹ thuật cổ nhất so với kỹ thuật gốm của các tộc người còn lại nói trên

- Kỹ thuật nung gốm: Thông thường đặc điểm kỹ

thuật nung gốm cũng chịu ảnh hưởng từ kỹ thuật chế tác và nguyên liệu Loại gốm chế tác hoàn toàn bằng tay, không có men thường được nung ngoài trời, độ nung thấp khoảng từ 700 - 8000C; Các đồ gốm nhỏ của các dân tộc thiểu số thường nung gốm ngoài trời bởi tính tiện dụng, độ nung của gốm không cần đến nhiệt độ nung quá cao so với các loại đồ gốm cần độ nung cao hơn như đồ gốm có kích thước lớn, chất liệu cứng gần như sành hoặc đồ gốm có men thì yếu

tố kỹ thuật đòi hỏi nhiệt độ phải đạt ở mức cao hơn

để làm chín đồ gốm

Người Khmer chưa sử dụng lò nung, họ nung gốm ngoài trời, địa điểm nung gốm trên nền đất phẳng, khá rộng nằm trong khuôn viên gia đình, hoặc mảnh đất bờ kênh, hay có thể là khoảng đường trong phum sóc… Sau khi nung gốm xong, người ta thu dọn sạch

sẽ, trả lại khoảng sân phơi hoặc mảnh vườn, khoảng đất bằng phẳng Do thời gian nung gốm nhanh, nhiên liệu đốt bằng củi và rơm rạ nên độ nóng không

đủ lâu để nền đất bị cháy nhiều mà chỉ có màu xám đen nhẹ

Ngày đăng: 29/07/2022, 11:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w