Tài liệu tham khảo để nâng cao vốn từ cũng như kiến thức nền tảng để tăng điểm trong bài viết nghị luận văn học về các tác phẩm truyện văn xuôi trong ngữ văn 12 để bức phá số điểm trong kì thi THPTQG. Thân gửi tặng các bạn, mong rằng tài liệu này sẽ hữu ích với các bạn.
Trang 1TÀI LIỆU: HƯỚNG DẪN VIẾT CÁC PHẦN YÊU CẦU NÂNG CAO TRONG BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
(Phần 1: Các tác phẩm văn xuôi)
NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ - NGUYỄN TUÂN
1 Nhận xét về vẻ đẹp ngôn
ngữ/ cách sử dụng từ ngữ
của Nguyễn Tuân
Trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, Nguyễn Tuân luôn giữ quan niệm:
“Ở đâu có lao động thì ở đó có sáng tạo ra ngôn ngữ Nhà văn không chỉ học tập ngôn ngữ của nhân dân mà còn là người phát triển ra ngôn ngữ sáng tạo, không nên ăn bám vào người khác Giàu ngôn ngữ thì văn sẽ hay Cũng cùng
1 vốn ngôn ngữ ấy nhưng sử dụng có sáng tạo thì văn sẽ có bề thế và kích thước Có vốn mà không biết sử dụng chỉ như nhà giàu giữ của Dùng chữ như đánh cờ tướng, chữ nào để chỗ nào phải đúng vị trí của nó Văn phải linh hoạt Văn không linh hoạt gọi là văn cứng đơ thấp khớp.” Có thể thấy, với
quan niệm sáng tạo này, Nguyễn Tuân đã tinh tế sử dụng những từ ngữ chính xác, vừa có giá trị gợi hình vừa mang giá trị biểu cảm cao Đó là thứ ngôn ngữ gợi lên những liên tưởng, tưởng tượng thú vị, độc đáo, gợi lên những rung cảm thẩm mĩ, đập mạnh vào mọi giác quan của bạn đọc Ông dùng những từ ngữ miêu
tả hình ảnh sống động: dựng vách thành, cái yết hầu, cuồn cuộn luồng gió gùn
Trang 2ghè, cái hút nước,… bên cạnh đó là những động từ đòi nợ xuýt, thở, kêu, sặc, ặc
ặc lên, rót dầu vào, giúp người đọc hình dung ra được rõ ràng về sự hùng vĩ,
hung bạo của dòng sông này Với “Người lái đò sông Đà”, Nguyễn Tuân dường như mang đến một màu vị mới cho ngôn từ, khiến cho người đọc cảm thấy rất hứng thú, muốn dành nhiều thời gian hơn để nghiền ngẫm về những từ ngữ độc đáo ấy Có thể thấy, mỗi chữ Nguyễn Tuân đặt lên trang văn của mình là cả một quá trình sáng tạo công phu, cẩn trọng và thiêng liêng Ông lựa chọn ngôn từ một cách trau chuốt, tỉ mỉ để làm nên những trang viết ấn tượng với độc giả, chính điều đó đã làm nên sự tài hoa của người nghệ sĩ trong việc sử dụng từ ngữ của mình, đúng như nhà thơ người Nga Maia - cốp – xki có viết:
“Phải phí tốn nghìn cân quặng chữ Mới thu về một chữ mà thôi
Nhưng chữ ấy làm cho rung động Triệu trái tim trong hàng triệu năm dài.”
2 - Nhận xét về cái nhìn
của nhà văn Nguyễn Tuân đối với người lao động trong cuộc sống mới
Trên hành trình khám phá thẩm mỹ, Nguyễn Tuân đã gặp những sự trái khoáy, nghịch lý – cái đẹp thì không thật, và cái thật thì không đẹp Nguyễn Đình
Thi đã nhận xét như sau: “Cách mạng là sự đổi đời đối với Nguyễn Tuân, vì ông thấy cái có thật bây giờ đẹp và cái đẹp bây giờ có thật trong cuộc đời” Sau cách
mạng, Nguyễn Tuân hướng con mắt của mình về những vẻ đẹp trong cuộc sống
Trang 3- Nhận xét về vẻ đẹp người lao động trong thời kỳ mới/thời kì xây dựng chủ nghĩa
xã hội
mà đối tượng trước hết là con người – ông tìm thấy vẻ đẹp trong chính những con người lao động bình dị Cái nhìn của ông về người lao động trong cuộc sống mới luôn là cái nhìn phát hiện, ngợi ca, trân trọng Ông đi sâu tìm hiểu rõ không chỉ là về ngoại hình, công việc mà còn về phẩm chất con người hình thành, phát triển về nghề nghiệp của mình Họ có thể là những con người nhỏ bé, vô danh nhưng họ luôn nỗ lực hết sức mình để góp công vào quá trình kiến thiết đất nước Cảnh vượt thác sông Đà có lẽ chính là một trong những kiệt tác nghệ thuật trong cuộc đời sáng tác của Nguyễn Tuân Khi chăm chú theo dõi hành trình vượt thác của ông lái đò, ta sẽ thấy ngay sự tương đồng đặc biệt trong vẻ đẹp những người lao động trong các tác phẩm của Nguyễn Tuân luôn điêu luyện, tinh vi, thuần thục như thế Nếu ông lái đò là “nghệ nhân” vượt thác thì ông Líu trong “Giò lụa” cũng là người “nghệ sĩ” giã giò Ông Líu nghe tiếng giã giò là biết mẻ giò
có ngon hay không cũng giống như người lái đò nhìn thác, nhìn đá mà đoán biết được những chiêu thức tiếp theo của sông Đà Quả thật phải am hiểu và nhiều kinh nghiệm lắm, những người lao động mới đạt được đến trình độ trở thành
“người nghệ sĩ trong chính nghề của mình” Cũng phải khẳng định một điều, chính Nguyễn Tuân đã trở thành “môn đệ trung thành của nghệ thuật”, là “người sinh ra để tôn thờ Nghệ Thuật với hai chữ viết hoa” để làm chủ những tài hoa uyên bác, cả những ngông nghênh và kinh bạc của mình
Trang 43 Nhận xét về nét tài hoa của
người nghệ sĩ Nguyễn Tuân
Dọc theo chiều dài hành trình sáng tác của Nguyễn Tuân, bạn đọc dễ dàng nhận ra sự tài hoa, uyên bác có vẻ hơn đời của nhà văn này Ông có thói quen nhìn sự vật ở mặt mỹ thuật của nó, cố tìm cho ra ở đấy những gì nên hoạ, nên thơ Đồng thời mỗi điểm quan sát của ông phải là một đối tượng khảo cứu đến kì cùng Trước cách mạng, Nguyễn Tuân bế tắc trong thực tại, tầm mắt không vượt khỏi được môi trường quẩn đọng, xám xịt của cuộc sống tư sản, tiểu tư sản, ông thường đi tìm cái đẹp ở thiên nhiên hay ở quá khứ tách rời hiện thực Hồi ấy dùng tài hoa, uyên bác để chơi ngông với thiên hạ, ông khó lòng tránh khỏi “chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa duy mĩ và lối suy nghĩ phù phiếm chẻ sợi tóc làm tư.” Khi Cách mạng tháng Tám thành công, ông đi tìm cái đẹp, chất thơ trong thực tại và thiên hướng khảo cứu giúp ông tìm hiểu nghiêm túc và sâu sắc cuộc sống chiến đấu của nhân dân, lòng yêu nước không lúc nào thôi âm ỉ bỗng trào sôi bằng ngòi bút tự do, phóng khoáng khi viết về vẻ đẹp thiên nhiên đất nước, vẻ đẹp người lao động trong cuộc sống đời thường Sông Đà đi vào trang viết của Nguyễn Tuân trong giai đoạn này Cái uyên bác, tài hoa của Nguyễn Tuân ngày càng được phát huy trên quan điểm nghệ thuật cách mạng, đã đem đến cho tác phẩm của ông một giá trị thẩm mĩ riêng, một giá trị thông tin riêng Thể hiện nét phong cách này, lối viết của Nguyễn Tuân thường tập trung vào một điểm và vận dụng một cách tổng hợp cách khảo sát của nhiều ngành văn hoá khác nhau để đào sâu cho đến
“sơn cùng thuỷ tận” Vì thế, có những hiện tượng, đối với những cây bút khác
Trang 5tưởng chừng chẳng có gì đáng nói, nhưng Nguyễn Tuân thì có thể viết mãi, bàn mãi hiết trang này đến trang khác ; ông lật mặt này, ông trở mặt khác, xoay ngang, xoay dọc, nhìn xa, nhìn gần, khi thì bằng cặp mắt văn học, khi thì bằng con mắt hội hoạ, điêu khắc, âm nhạc, vũ đạo hay điện ảnh, khi lại soi bằng cặp kính nhà
sử học, nhà địa lí học,… điều này được thể hiện rất rõ khi ông viết về sông Đà nói chung và vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của sông Đà nói riêng
4 Nhận xét về những chuyển
biến trong phong cách của
Nguyễn Tuân sau cách
mạng
Có thể thấy, vào những ngày cuối cùng của chế độc thuộc địa Pháp Nhật lúc bấy giờ, cũng giống như nhiều nghệ sĩ khác, Nguyễn Tuân rơi vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về quan niệm nghệ thuật Thời điểm trước cách mạng, ông tập trung viết về các đề tài chính: chủ nghĩa xê dịch, vẻ đẹp của một thời vang bóng
và đời sống truỵ lạc Người nghệ sĩ ấy đã tìm đến với “chủ nghĩa xê dịch” trong tâm trạng bất mãn với thời cuộc Thế nhưng, khi cách mạng tháng Tám thành công, cuộc cách mạng ấy đã trở thành “trục bản lề” để Nguyễn Tuân có được sự lột xác kỳ diệu, giúp ông vượt qua được những bế tắc trong cuộc sống và sáng tác nghệ thuật đem đến nguồn cảm hứng sáng tạo mới cho người nghệ sĩ này Ngòi bút của Nguyễn đã thực sự hồi sinh Ông hăng hái đến với cách mạng và kháng chiến, hăng hái đi thực tế, dùng ngòi bút của mình say mê viết về vẻ đẹp của đất nước, con người Việt Nam trong chiến đấu và lao động sản xuất Nếu như nhân vật trung tâm trong các tác phẩm trước cách mạng là ông Nghè, ông
Cử, ông Tú,…những con người tài hoa bất đắc chí, thì giờ đây, hình tượng chính
Trang 6trong sáng tác của người nghệ sĩ này là nhân dân lao động trên mặt trận vũ trang, trong lao động sản xuất cụ thể với hình ảnh của người lái đò sông Đà Điều đó đánh dấu chặng đường mới của cây viết tài hoa trên con đường nghệ thuật gắn
bó với dân tộc, với nhân dân và đất nước Nguyễn Tuân ở thời điểm này, đặc biệt
là giai đoạn khi viết sông Đà đã đường đường chính chính quay trở về hiện tại, say mê khám phá vẻ đẹp phi thường nơi những con người bình thường, hăng say lao động, góp sức lực của mình xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao Đó là những cán bộ địa chất đi tìm quặng mỏ, là ông lái đò dùng cảm vượt tác dữ để vận tài hàng mậu dịch, những anh bộ đội từng chiến đấu dũng cảm để giải phóng Điện Biên nay lại nguyện đêm cả gia đình mình lên mảnh đất nơi đây lập nghiệp, những con người đi mở đường suốt ngày đêm, dẫu cho mưa nắng vẫn không quản ngại,…Và có biết bao nhiêu những con người bình thường, đã đi vào trang văn của Nguyễn Tuân với vẻ đẹp phi thường xuất phát từ lòng yêu tha thiết đất nước, con người của nhà văn Bên cạnh những chuyển biến ấy, Nguyễn Tuân vẫn có sự thống nhất trong phong cách nghệ thuật trước và sau cách mạng: Cái đẹp là điểm đến, “xê dịch” là nơi đi, bây giờ xê dịch để hoà nhập với cuộc đời, dùng vốn từ ngữ rộng mở, hiểu biết phong phú, những liên tưởng so sánh độc đáo để phác hoạ lên hình tượng trong từng tác phẩm Sự chuyển biến trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân là sự chuyển biến phù hợp với thời cuộc, giúp Nguyễn Tuân
Trang 7tìm thấy chính mình chân thực nhất Điều đó góp phần làm cho độc giả thêm yêu thương, trân trọng, nể phục người nghệ sĩ tài hoa này
5 Nhận xét tình cảm đối với
quê hương đất nước của tác
giả Nguyễn Tuân được thể
hiện
Đoạn trích miêu tả vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của dòng sông Đà từ góc độ trên cao nhìn xuống đã thêm một lần nữa cho ta thấy rõ tình cảm đối với quê hương đất nước của tác giả Nguyễn Tuân Đó là một thứ tình cảm tha thiết, trìu mến
Nó được thể hiện rất rõ qua góc nhìn tài hoa, tinh tế khi cảm nhận về hình dáng
và sắc nước con sông Đồng thời cũng là cảm xúc trân trọng, mến yêu, sự nâng
niu mà nhà văn Nguyễn Tuân dành cho con sông của vùng đất Tây Bắc Nguyễn
Tuân luôn là như vậy – một người nghệ sĩ yêu tha thiết quê hương, đất nước với những cảnh sắc thiên nhiên tuyệt mỹ, ông đã dùng tình yêu ấy để đi, để viết và
để lại cho thế hệ bạn đọc những phong cảnh ấn tượng, trong đó có sông Đà Sau khi trải qua giai đoạn trước cách mạng, yêu nước nhưng bất mãn với thời cuộc chỉ biết đi tìm về những vẻ đẹp trong quá khứ của một thời vang bóng, Nguyễn Tuân của sau cách mạng tháng Tám vẫn là người nghệ sĩ yêu dân tộc, tôn thờ cái đẹp, nhưng đã có cơ hội để thể hiện nó một cách rõ nét, cởi mở Ông tìm thấy và thể hiện lòng yêu ấy của chính mình trong những trang viết miêu tả cánh sắc quê hương đất nước vẫn ngời chói sự tinh tế trong cách viết của cây bút tài hoa
Trang 8AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG – HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
Nó được biểu hiện ở tâm trạng, cảm nhận riêng của tác giả trước hiện thực khách quan Xuôi dòng theo những trang viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường đặc biệt là trong bút ký “Ai đã đặt tên cho dòng sông” mỗi bạn đọc đều có thể nhận ra tác phẩm này có trong mình chất trữ tình đậm đà Trước tiên, nó được thể hiện qua cái “tôi” mê đắm, tài hoa Người nghệ sĩ ấy không miêu tả sông Hương như một dòng chảy thông thường mà đặt sông Hương trong dòng chảy văn hóa, lịch sử của Huế, mỗi lần sông Hương uốn mình chuyển dòng là một lần sông Hương mang vẻ đẹp riêng Bên cạnh đó còn là một cái “tôi” lịch lãm, uyên bác Hoàng Phủ Ngọc Tường đã khám phá những đặc điểm độc đáo của sông Hương trên phương diện địa lí, văn hóa, hội họa Chính từ những góc nhìn đa dạng ấy, mỗi người đọc không chỉ được cung cấp một lượng tri thức lớn mà còn cảm nhận được những vẻ đẹp đa chiều trên từng góc độ rất riêng về dòng sông đầy thơ và mộng này Từ việc cảm nhận về sông Hương bằng góc nhìn trữ tình, nhà văn
Trang 9không chỉ giúp tái hiện sinh động con sông xứ Huế mà bên cạnh đó còn thể hiện sâu sắc niềm tự hào, tình yêu quê hương đất nước nồng nàn, thiết tha, sâu lắng
Trang 10đời người của Hoàng Phủ Ngọc Tường là dòng sông Hương, nhưng ngược lại nếu không có những trang viết của ông Hương giang đã không long lanh như thế trong lòng bao nhiêu người đọc dù đã đến hay chưa đến Huế Phải yêu Huế lắm, gắn bó với Huế lắm tác giả mới dẫn người đọc vào không gian đó cùng với mình, để thấy lòng lắng lại, đánh thức người đọc hoài niệm về những tình cảm dành cho mảnh đất cố đô yêu
dấu và đặc biệt là dòng sông Hương “Có người từng cho rằng nếu mai kia Hoàng Cầm từ giã cuộc chơi thì sau lưng ông vẫn có dòng sông Đuống đưa tiễn và cũng nói theo cách của Hoàng Phủ Ngọc Tường, rằng “Mai kia tôi về ngủ trên đồi…”, hẳn ông sẽ có dòng sông Hương đưa tiễn với tất cả tấm tình hào hoa đam mê mà ông đã dành cả đời văn của mình dâng hiến cho linh giang xứ Huế.” Sông Hương và Huế,
đã đến với bạn đọc qua những trang văn – trang hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường và bút ký “Ai đã đặt tên cho dòng sông” để bạn đọc cũng
từ đó cảm nhận được sâu sắc về mối tình sâu nặng giữa Hoàng Phủ và Huế thương Lời “tạ từ” của nhà văn này dường như thêm một lần nữa
khắc sâu hơn vào trái tim độc giả về mối tình nặng sâu này: “Như một người đã chiêm nghiệm trong im lặng và trong sương khói chỉ để giữ lại những nét đẹp sâu thẳm của thiên nhiên, từ dưới đáy kinh nghiệm của một đời cầm bút, tôi đã không ngần ngại gửi tâm hồn mình vào tác
Trang 11phẩm, vẽ lại đời mình bằng màu nước của dòng sông, nó xanh biếc và yên tĩnh như một lẽ vĩnh hằng trong cảnh vật cố đô”
Trang 12kiến nơi vùng cao, đồng thời lên án mạnh mẽ, phơi bày bộ mặt tàn bạo và các thế lực đen tối đã tồn tại và chèn ép con người đến bước đường cùng Qua tác phẩm,
Tô Hoài cũng gửi gắm sự nâng niu, trân trọng đến nhân vật của mình hay chính
là những người dân vùng núi phía Bắc, tìm kiếm sự lay động trong lòng độc giả khi chứng kiến những khó khăn, gian khổ mà nhân vật phải trải qua
Giá trị nhân đạo
M.Gorki đã từng khẳng định: “Văn học là nhân học” Sê-khốp lại cho rằng: “Một nghệ sĩ chân chính phải là một nhà văn nhân đạo từ trong cốt tủy” Như vậy đủ khẳng định nhân văn, nhân đạo hay giá trị nhân đạo trong tác phẩm văn học là một trụ cột giá trị của tác phẩm, làm nên một tác phẩm văn học có sức sống lâu bền với thời gian Trong “Vợ chồng A Phủ”, nhất là trong đoạn trích trên, thông qua việc thể hiện sức sống của con người lao động vùng núi cao Tây Bắc, Tô Hoài đã thể hiện tư tưởng nhân đạo của mình Trước hết Tô Hoài đồng cảm với số phận của Mị, A Phủ khi phải chịu sự giam hãm trong những nỗi sợ hãi về cường quyền, thần quyền, đồng thời phát hiện và nâng niu, trân trọng vẻ đẹp trong tâm hồn của những con người lao động miền núi, đó là sức sống tiềm tàng không gì có thể dập tắt Bên cạnh đó, Tô Hoài cũng ngầm phê phán, tố cáo thế lực phong kiến chúa đất tàn bạo chà đạp lên con người Và điều quan trọng nhất là Tô Hoài mở ra cho những con người chịu áp bức con đường để đi đến tương lai tươi sáng hơn, một tương lai có thể vẫn còn nhiều khó khăn nhưng con
Trang 13người được sống là tự do và tự quyết đời mình đó chính là đến với ánh sáng của cách mạng bởi với những gì Tô Hoài trải qua, ông hiểu rõ ràng chân lý: “Mọi con người nô lệ đều sẽ có một con đường tất yếu đó là đến với ánh sáng của cách mạng.”
có cùng quan điểm đó với Nguyễn Minh Châu thế nên trong tác phẩm “Vợ chồng
A Phủ” của mình Trong truyện ngắn, Tô Hoài chỉ yếu hướng đến cái nỗi khổ đau của những con người miền núi vẫn đang hàng ngày tiếp diễn ở nơi đây, số kiếp nô lệ khiến họ không thể ngóc đầu lên được, cứ suốt kiếp phải làm trâu làm ngựa để phục vụ cường quyền và chỉ có cách mạng mới có thể soi sáng cuộc đời
họ, mới đưa họ ra khỏi vũng lầy tăm tối Ông viết bằng ngòi bút đậm tính nhân văn, khai sáng và chân thực, những chỗ tuy buồn tuy tuyệt vọng thế nhưng tác giả vẫn luôn để lại một tia hi vọng một tia sáng xuất phát từ chính nội tâm con người, đó là cái vẻ đẹp khó ai có thể nắm bắt được, điều đó được thể hiện rõ qua việc nhà văn viết về Mị, về A Phủ Tô Hoài trân trọng Mị, cũng như trân trọng tất cả những người phụ nữ ở Hồng Ngài và cả núi rừng Tây Bắc, ông miêu tả
Trang 14những thay đổi tinh tế trong tâm lý, trong nỗi đau khổ mà Mị phải gánh chịu Tô Hoài diễn tả nỗi khổ của Mị bằng những câu văn thật xúc động và với tấm lòng thương xót Bên cạnh việc thông cảm xót thương cho những kiếp người khốn khổ, thì tấm lòng của Tô Hoài đối với đồng bào miền núi thể hiện qua việc ông tinh tế nhận ra và trân trọng những vẻ đẹp đáng quý của họ thông qua hai nhân vật Mị và A Phủ Tô Hoài trân trọng và yêu thương cái sức sống mãnh liệt trong tâm hồn Mị, mà có những khi tưởng nó đã hoàn toàn bị cái khổ cái tuyệt vọng tăm tối dập tắt, thế nhưng với sức sống tiềm tằng mạnh mẽ dù chỉ là một tàn than còn hơi đỏ thôi nhưng nó đã lập tức bùng cháy khi gặp gió xuân về Và tất cả những điều đẹp đẽ ấy có lẽ xuất phát từ một trái tim yêu thiết tha mảnh đất, yêu con người nơi đây Chính những năm tháng thâm nhập thực tế vùng núi cao Tây Bắc đã giúp Tô Hoài có một vốn sống phong phú và sâu sắc về cuộc sống và con người đồng bào các dân tộc vùng đất này và dành một tình cảm đặc biệt cho họ Chính tình cảm tốt đẹp Tô Hoài dành cho con người lao động miền núi đã giúp
ta hiểu thêm về điều mà Nguyễn Minh Châu chia sẻ: “Tôi không thể nào tưởng tượng nổi một nhà văn mà lại không mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống
và nhất là tình yêu thương con người Tình yêu này của người nghệ sĩ vừa là một niềm hân hoan say mê, vừa là một nỗi đau đớn, khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của những người chung quanh mình Cầm giữ cái tình yêu ấy trong mình, nhà văn mới có khả năng cảm thông sâu sắc với những