Sáng kiến kinh nghiệm về phòng chống xâm hại trẻ em Sáng kiến kinh nghiệm về phòng chống xâm hại trẻ em Sáng kiến kinh nghiệm về phòng chống xâm hại trẻ em tại Hà Nội MỤC LỤC TRANG MỤC LỤC 1 A PHẦN MỞ. LỤC TRANG MỤC LỤC....................................................................................................1 A. PHẦN MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI............... ........................................................1 II. MỤC ĐÍCH VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............................1 III. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI............................................................... .....2 IV. CÁC GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU.................................................. .....2 V. CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN.............................................2 VI. KẾ HOẠCH THỰC HIỆN....................................................................6 B. PHẦN NỘI DUNG I. THỰC TRẠNG ....................................................................................7 II. CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ........................................13 1. Trang bị cho các em các kỹ năng sống.................................................13 2. Kết quả nghiên cứu...............................................................................15 3. Hiệu quả áp dụng..................................................................................19 C. PHẦN KẾT LUẬN I. Ý nghĩa của đề tài ................................................................................22 II. Bài học kinh nghiệm.............................................................................22 D. TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................25 SKKN VỀ PHÒNG CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM A. PHẦN MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Có thể nói tình trạng trẻ em bị xâm hại hiện nay đang ở mức báo động cấp thiết, đang là mối lo ngại, trăn trở của ngành giáo dục, cha mẹ học sinh và toàn xã hội. Xâm hại trẻ em ở Việt Nam diễn ra không chỉ ở các thành phố lớn mà còn có ở các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa và xẩy ra với các em học sinh ở mọi lứa tuổi. Trên các phƣơng tiện thông tin về học sinh bị xâm hại gây hậu quả nghiêm trọng và bức xúc trong dƣ luận xã hội. Xâm hại trẻ em diễn ra với nhiều hình thức, nhiều mức độ, xuất phát do nhiều nguyên nhân. Vì vậy để bảo vệ trẻ em không bị xâm hại là một trong những vấn đề cần thiết trong xã hội hiện nay. Đây không phải việc làm dành riêng cho những ngƣời làm công tác giáo dục hay của những ngƣời làm công tác xã hội mà đó là trách nhiệm của cả cộng đồng. Bản thân là một ngƣời làm công tác giáo dục, hàng ngày đƣợc chứng kiến sự ngây thơ, hồn nhiên, trong sáng của tuổi học trò, hàng ngày cắp sách đến trƣờng để lĩnh hội tri thức, chuẩn bị hành trang bƣớc vào đời. Vậy mà các em có nguy cơ gặp phải những trƣờng hợp đau lòng nhƣ bị xâm hại sẽ làm tổn thƣơng đến tâm lý của các em. Rất có thể các em sẽ trở thành những đứa trẻ hoàn toàn khác nhƣ: thụ động, thờ ơ, lo sợ, tự kỷ...thậm chí cả cái chết. Đó là điều mà không ai trong chúng ta mong muốn. Vì vậy, với mong muốn tìm ra những giải pháp tốt nhất, tối ƣu nhất để có thể giúp các em phòng ngừa xâm hại, tôi đã lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp giúp học sinh phòng chống bị xâm hại”, để góp phần đào tạo một thế hệ trẻ thực sự năng động, tự tin và giàu bản lĩnh để có thể ứng phó với bất kỳ tình huống nào trong cuộc sống. II. MỤC ĐÍCH VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. MỤC ĐÍCH: Đề tài nhằm giúp các em học sinh hiểu rõ mối nguy hiểm của xâm hại, cách bảo vệ bản thân trƣớc những mối nguy hiểm đó, để không có những vấn đề đáng tiếc xảy ra, để các em khôn lớn trƣởng thành mạnh mẽ, lành mạnh và trở thành ngƣời có ích cho đất nƣớc. 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Phƣơng pháp khảo sát, thống kê Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, khái quát qua các con số, số liệu đã thống kê. Phƣơng pháp gặp gỡ, trao đổi, xin ý kiến giáo viên hƣớng dẫn về nhận định thực trạng, chỉ ra nguyên nhân, hậu quả và đƣa ra giải pháp với từng vấn đề cụ thể. III. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI: 1. ĐỐI TƢỢNG Các em học sinh từ 11 tuổi đến 14 tuổi ( Học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 – Khối THCS tại Hà Nội) GVCN các khối lớp 2. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Nghiên cứu ở lứa tuổi học sinh THCS, đồng thời nghiên cứu các giá trị kỹ năng sống cho học sinh. Cụ thể là lớp 7A2 và 6A3, lớp 8A5, 9A1 (180 học sinh). Khảo sát, đánh giá, tổng hợp, khái quát dựa trên số liệu thống kê từ 4 khối lớp về khả năng nhận thức và bảo vệ bản thân của học sinh. IV. CÁC GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU Tìm ra các giải pháp hữu hiệu nhất có thể giúp các em học sinh có những kỹ năng, biện pháp cần thiết trong việc phòng chống khi kẻ xấu xâm hại. Góp phần giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ năng động, tự tin, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. V. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN: Chúng ta có thể hiểu xâm hại trẻ em nói chung là một vấn đề rất đƣợc quan tâm và đặc biệt hơn cả là vấn đề xâm hại tình dục trẻ em. Theo UNICEF: “ Xâm hại tình dục trẻ em là mọi hành vi lôi kéo trẻ vào các hoạt động liên quan đến tình dục, mà trẻ không đủ khả năng (Hoặc không hiểu), hoặc không đủ tâm thế để đưa ra quyết định đối với các hành vi này, hoặc các hành vi đó vi phạm đến pháp luật hay các giá trị văn hoá sở tại”. Thực tế hiện nay, tình trạng trẻ bị xâm hại xảy ra ở mọi quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam và cả trẻ em gái và trẻ em trai đều có thể là nạn nhân. Vậy làm thế nào để chúng ta có thể bảo vệ đƣợc các em, bảo đảm cho các em có một cuộc sống an toàn, không có nguy cơ tiềm ẩn bị xâm hại? Đó là một vấn đề cần đƣợc quan tâm, cần đƣợc các cấp trong xã hội chung tay giải quyết. Trẻ em là thế hệ tƣơng lai, là chủ nhân chính xây dựng đất nƣớc.Vì vậy, chúng ta phải dành cho các em những điều tốt đẹp nhất. Thế nhƣng trong thời gian qua tình hình tội phạm xâm hại trẻ em xảy ra nhiều nơi và luôn tiềm ẩn yếu tố gia tăng. Tình trạng trẻ em bị xâm hại đang là hồi chuông báo động cho sự suy thoái, đồi truỵ về đạo đức xã hội, gây bức xúc trong dƣ luận, gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đã và đang hội nhập với các nƣớc trên thế giới và từng bƣớc phát triển vƣơn lên, những mặt tích cực của xã hội đƣợc phát triển mạnh song những mặt trái của xã hội cũng xuất hiện nhiều gây ảnh hƣởng đến sự tồn tại, phát triển của mỗi tập thể, cá nhân trong đó có một bộ phận không nhỏ là trẻ em. Theo xu thế phát triển của xã hội, một số gia đình bố mẹ chỉ quan tâm, mải lo đến việc làm kinh tế mà quên mất gia đình là chiếc nôi của trẻ, quan tâm dạy dỗ trẻ; không những thế còn có những gia đình cha mẹ nghiện ngập, cờ bạc, rƣợu chè... ảnh hƣởng vô cùng lớn đến tâm hồn trẻ, tới sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. Một số gia đình hoàn toàn phó mặc việc dạy dỗ trẻ cho nhà trƣờng và thầy cô giáo. Bên cạnh đó cũng có những gia đình có điều kiện kinh tế, quá chiều chuộng con dẫn đến trẻ thiếu sáng tạo, luôn ỷ lại, phụ thuộc vào ngƣời lớnvà mỗi khi gặp các tình huống khó khăn thì không biết xử lý nhƣ thế nào, điều đó càng khó khăn trong việc tự bảo vệ bản thân mình. 2. CƠ SỞ THỰC TIỄN Hiện nay, việc giáo dục một số kỹ năng sống cho học sinh là một nội dung đƣợc đông đảo phụ huynh và dƣ luận đặc biệt quan tâm, bởi đây là một chƣơng trình giáo dục hết sức cần thiết đối với học sinh và phù hợp với mục tiêu giáo dục hiện nay, nhằm đào tạo con ngƣời với đầy đủ các mặt “Đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học phổ thông ” để đáp ứng yêu cầu cầu của xã hội. Vì vậy trong giảng dạy, bên cạnh việc cung cấp những kiến thức cơ bản của các bộ môn thì việc giáo dục kỹ năng sống phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi là vô cùng quan trọng. Lứa tuổi THCS bao gồm những em có độ tuổi từ 11 – 15 tuổi, tƣơng ứng các em học từ lớp 6 đến lớp 9 trƣờng THCS. Lứa tuổi này còn gọi là lứa tuổi thiếu niên và nó có một vị trí đặc biệt trong quá trình phát triển của các em. Tuối thiếu niên có vị trí và ý nghĩa đặc biệt trong quá trình phát triển của cả đời ngƣời, đƣợc thể hiện ở những điểm sau: Thứ nhất: đây là thời kỳ quá độ từ tuổi thơ sang tuổi trƣởng thành, thời kỳ trẻ đang ở “ngã ba đƣờng” của sự phát triển. Trong đó có rất nhiều khả năng, nhiều phƣơng án, nhiều con đƣờng để mỗi trẻ em trở thành một cá nhân. Trong thời kỳ, nếu sự phát triển đƣợc định hƣớng đúng, đƣợc tạo thuận lợi thì em sẽ trở thành công dân tốt. Ngƣợc lại, nếu không đƣợc định hƣớng đúng, bị tác động bởi yếu tố tiêu cực thì sẽ xuất hiện hàng loạt các nguy cơ dẫn đến trẻ em bên bờ của sự phát triển lệch lạc về nhận thức, thái độ, hành vi và nhân cách. Thứ hai: thời kỳ mà tính tích cực xã hội của trẻ em đƣợc phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong việc thiết lập các quan hệ bình đẳng với ngƣời lớn và bạn ngang hàng, trong việc lĩnh hội các chuẩn mực và giá trị xã hội, thiết kế tƣơng lai của mình và những hành động cá nhân tƣơng ứng. Thứ ba: Trong suốt thời kỳ thiếu niên dều diễn ra sự cấu tạo lại, cải tổ lại, hình thành các cấu trúc mới về thể chất, sinh lý, về hoạt động, tƣơng tác xã hội và tâm lý, nhân cách, xuất hiện những yếu tố mới của sự trƣởng thành. Từ đó hình thành cơ sở nền tảng và vạch chiều hƣớng cho sự trƣởng thành thực thụ của cá nhân, tạo nên đặc thù riêng của lứa tuổi. Thứ tƣ: tuổi thiếu niên là giai đoạn khó khăn, phức tạp và đầy mâu thuẫn trong quá trình phát triển. Ngay các tên gọi của thời kỳ này: thời kỳ “quá độ”, “tuổi khó khăn”, “tuổi khủng hoảng”… đã nói lên tính phức tạp và quan trọng của những quá trình phát triển diễn ra trong lứa tuổi thiếu niên. Sự phức tạp thể hiện qua tính hai mặt của hoàn cảnh phát triển của trẻ. Một mặt có những yếu tố thúc đẩy phát triển tính cách của ngƣời lớn. Mặt khác, hoàn cảnh sống của các em có những yếu tố kìm hãm sự phát triển tính ngƣời lớn: phần lớn thời gian các em bận rộn, ít có nghĩa vụ khác với gia đình; nhiều bậc phụ huynh quá chăm sóc trẻ, không để các em phải chăm lo cho việc gia đình…Chính vì vậy, việc rèn một trong những kỹ năng phòng chống xâm hại đối với trẻ em là một việc làm thực sự cần thiết và có ý nghĩa trong tình hình hiện nay. Hơn thế nữa đây không phải là một nhiệm vụ quan trọng mà những ngƣời làm công tác giáo dục cần quan tâm mà đó là vấn đề của toàn xã hội. Thực tế khó có thể đánh giá hết những ảnh hƣởng do việc xâm hại trẻ em gây ra. Việc trẻ em bị xâm hại đã để lại những vết thƣơng không thể phai mờ trong gia đình, dòng họ nạn nhân, trong ký ức cộng đồng nơi trẻ bị gây hại mà nạn nhân cùng sinh sống, để lại hậu quả lâu dài đến sức khoẻ cũng nhƣ sự phát triển toàn diện của trẻ. Việc trẻ bị xâm hại đã để lại những vết thƣơng không phai mờ trong cuộc đời các em. Đã nhiều năm nay chúng ta coi việc giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trƣờng và xã hội.Công tác bảo vệ trẻ em cũng cần phải thực hiện nhƣ vậy. Việc đấu tranh chống xâm hại trẻ, cần tập trung vào biện pháp phòng ngừa. Công tác truyền thông cần đƣợc làm đồng bộ, có sự phối hợp giữa gia đình, nhà trƣờng và xã hội. Đối tƣợng đầu tiên cần phải tuyên truyền là trẻ em. Các em cần đƣợc trang bị đầy đủ kiến thức cần thiết để bảo vệ mình tránh khỏi các hình thức bị lạm dụng. Để làm đƣợc điều này, chính các bậc cha mẹ, nhà trƣờng và các cơ quan chức năng cũng cần cập nhật kiến thức về các thủ đoạn, hình thức xâm hại mới. Trên thực tế, nhiều học sinh ở các trƣờng nói chung và học sinh trƣờng THCS Phƣơng Liệt nói riêng các em còn hạn chế những kỹ năng trong cuộc sống nhƣ: Kỹ năng nhận thức, kỹ năng kiểm soát, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng hợp tác, kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, kỹ năng chia sẻ thông tin.... Vì vậy mà còn nhiều học sinh chƣa mạnh dạn, thiếu tự tin khi phải ứng phó với những tình huống khó lƣờng trong cuộc sống. Hơn lúc nào hết, các em cần đƣợc quan tâm, giáo dục, truyền thụ những kiến thức về kỹ năng sống, kỹ năng phòng chống xâm hại .... Có nhƣ vậy mới phần nào hạn chế đƣợc tình trạng một số em xa lánh với môi trƣờng sống thực tế và thiếu sự tƣơng tác giữa con ngƣời với con ngƣời, kỹ năng xã hội của các em ngày càng thiếu và yếu. Điều đó sẽ dẫn đến tình trạng học sinh dễ bị kẻ xấu dụ dỗ và rất có thể sẽ bị xâm hại. Ngoài những kiến thức phổ thông, các em cần học điều gì để giúp các em hội nhập với xã hội, trở thành công dân có ích cho cộng đồng. Đây cũng chính là những băn khoăn, trăn trở đƣợc đặt ra đối với mỗi giáo viên những ngƣời làm công tác giáo dục hiện nay. VI. KẾ HOẠCH THỰC HIỆN Từ ngày 1291016 đến 1692016: Lập đề cƣơng, xây dựng kế hoạch. Từ ngày 1992016 đền 8102016: Nghiên cứu và áp dụng. Từ ngày 1012017 đến 2822017: Tổng kết và hoàn tất đề tài. B. PHẦN NỘI DUNG I. THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG MÂU THUẪN 1. THỰC TRẠNG Nhƣ chúng ta đã biết mục tiêu của giáo dục THCS là: Giáo dục THCS nhằm giúp học sinh củng cố, phát triển những kết quả của giáo dục Tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hƣớng nghiệp để tiếp tục học Trung học phổ thông, trung cấp học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động. Mục tiêu tổng quát đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo có những nội dung mới so với mục tiêu lâu nay đã xác định: Về mục tiêu đào tạo con ngƣời: Vừa đào tạo con ngƣời Việt Nam phát triển toàn diện, yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; vừa đảm bảo phát huy tốt nhất tiềm năng riêng của mỗi cá Về mục tiêu hệ thống: Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lí tốt; có cơ cấu và phƣơng thức giáo dục hợp lí, gắn với xây dựng xã hội học tập; chuẩn hoá, hiện đại hoá, dân chủ hoá, xã hội hoá và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hƣớng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Tạo chuyển biến căn bản mạnh mẽ về chất lƣợng, hiệu quả, giáo dục đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. UNESCO đề xƣớng 4 mục đích học tập: Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình. Trong khi, nhà trƣờng của chúng ta hiện nay đang nặng về: Học để biết, nghĩa là về cơ bản chỉ đạt đƣợc một trong bốn mục đích của UNESCO. Các chuyên gia nghiên cứu trong lĩnh vực này đều khẳng định tình trạng xâm hại tình dục trẻ em trên thực tế luôn cao hơn nhiều so với các số liệu thống kê chính thức. Cụ thể như sau: 12 số liệu thống kê từ các báo cáo điều tra, nghiên cứu đƣợc chị Jayneen Sanders chia sẻ với mong muốn nhƣ một thông tin đánh động tới các bậc cha mẹ, những ngƣời chăm sóc và các giáo viên về vấn đề nhức nhối này. Cuối mỗi thông tin là nguồn trích dẫn: 1. Khoảng 20% bé gái (15) và 8% bé trai (112,5) bị xâm hại tình dục trƣớc tuổi 18. (Pereda và các cộng sự, 2009) 2. 95% những trẻ bị xâm hại tình dục là nạn nhân của một ngƣời chúng biết và tin tƣởng. (NAPCAN 2009) 3. Trong số những kẻ xâm hại tình dục trẻ em dƣới 6 tuổi, 50% đối tƣợng là các thành viên trong gia đình. Những ngƣời trong nhà cũng chiếm 23% trong số những kẻ xâm hại tình dục trẻ em độ tuổi 1217. (Snyder, 2000). 4. Lứa tuổi dễ bị tổn thƣơng nhất trong các vụ xâm hại tình dục là từ 38 tuổi. Phần lớn các vụ xâm hại tình dục trẻ em bắt đầu xảy ra trong độ tuổi này. (Browne Lynch, 1994). 5. Nam giới chiếm 90% trong số các đối tƣợng gây ra những vụ xâm hại tình dục, trong khi nữ giới chiếm 3,9%. Ngoài ra còn khoảng 6% đối tƣợng xâm hại thuộc về giới tính không xác định. (McCloskey Raphael, 2005). 6. Khoảng 40% trẻ em bị những đứa trẻ lớn hơn (hoặc khỏe mạnh hơn) xâm hại tình dục (Finkelhor, 2012). Cùng với việc lan tràn các hình ảnh khiêu dâm hiện nay, ngƣời ta còn thấy các vụ xâm hại tình dục trẻ em, cụ thể là những vụ việc mà thủ phạm gây án là những đứa trẻ lớn hơn hoặc là anhchị em họ của nạn nhân, cũng xảy ra ngày càng nhiều. 23% trẻ em trong độ tuổi 1017 đều đã tiếp xúc với các hình ảnh khiêu dâm ngoài ý muốn. (Jones L. và các cộng sự, 2012). 7. 84% các vụ việc trẻ em dƣới 12 tuổi bị xâm hại tình dục xảy ra tại nơi ở. (Snyder, 2000). 8. Trong số các vụ việc trẻ bị xâm hại tình dục đƣợc trình báo với cơ quan chức năng, có tới 98% các vụ việc lời khai của trẻ em đƣợc xác định là sự thật. (Hội đồng bảo an trẻ em bang bang New South Wales, tổ chức Dympna House trích dẫn năm 1998). 9. 13 ngƣời lớn sẽ không tin nếu trẻ em nói với họ về việc chúng bị xâm hại tình dục. (Quỹ trẻ em Úc, 2010). 10. 73% trẻ em bị xâm hại tình dục sẽ không nói với bất cứ ai về sự việc này trong ít nhất 1 năm. 45% sẽ không nói với ai trong 5 năm. Một số em sẽ không bao giờ tiết lộ sự thật. (BromanFulks và các cộng sự, 2007) 11. Những trẻ em từng bị xâm hại tình dục có nguy cơ tự tự cao hơn 1013 lần so với những trẻ em bình thƣờng. (Plunkett A, O’Toole B, Swanston H, Oates RK, Shrimpton S, Parkinson P 2001). 12. Trẻ em không sống cùng cha mẹ (trẻ em đƣợc nhận làm con nuôi) có nguy cơ bị xâm hại tình dục gấp 10 lần so với những đứa trẻ sống cùng cha mẹ ruột. Trẻ em sống cùng với chamẹ có một bạn tình khác sống chung trong nhà có nguy cơ bị xâm hại tình dục cao nhất. Nguy cơ này ở chúng cao gấp 20 lần so với những đứa trẻ sống cùng cha mẹ ruột. (Sedlack và các cộng sự, 2010). Riêng ở Việt Nam:Theo số liệu thống kê từ Bộ Lao động, Thƣơng binh và Xã hội, trong 5 năm từ 2011 đến 2015, cả nƣớc có 5.300 vụ xâm hại tình dục trẻ em. Tính trung bình, cứ 8 giờ trôi qua lại có một trẻ em Việt Nam bị xâm hại. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng con số này chỉ là những vụ việc đƣợc báo cáo, còn rất nhiều vụ nạn nhân bị chính kẻ xâm hại dọa dẫm hoặc vì lý do nào đó đã không đƣợc thống kê. Trên thế giới, theo thống kê của Hiệp hội Quốc gia Phòng chống Bạo hành trẻ em (NSPCC), độ tuổi trung bình của trẻ em bị xâm hại tình dục là 9 tuổi. Cứ 4 bé gái thì có 1 bé bị xâm hại tình dục, 6 bé trai thì có 1 bé bị xâm hại tình dục. Vấn nạn này có xu hƣớng gia tăng đối với trẻ em nam. Tại Việt Nam, trƣớc đây trẻ bị xâm hại thƣờng là 1318 tuổi thì nay xuất hiện nhiều vụ việc ở lứa tuổi 5 13.Đáng chú ý, 93% thủ phạm có mối quan hệ quen biết với nạn nhân, trong đó 47% kẻ xâm hại là họ hàng, ngƣời trong gia đình nạn nhân.
Trang 1MỤC LỤC TRANG
MỤC LỤC 1
A PHẦN MỞ ĐẦU I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
II MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1
III GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI 2
IV CÁC GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU 2
V CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN 2
VI KẾ HOẠCH THỰC HIỆN 6
B PHẦN NỘI DUNG I THỰC TRẠNG 7
II CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 13
1 Trang bị cho các em các kỹ năng sống 13
2 Kết quả nghiên cứu 15
3 Hiệu quả áp dụng 19
C PHẦN KẾT LUẬN I Ý nghĩa của đề tài 22
II Bài học kinh nghiệm 22
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
SKKN VỀ PHÒNG CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM
A PHẦN MỞ ĐẦU I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Có thể nói tình trạng trẻ em bị xâm hại hiện nay đang ở mức báo động cấp thiết, đang là mối lo ngại, trăn trở của ngành giáo dục, cha mẹ học sinh và toàn xã hội Xâm hại trẻ em ở Việt Nam diễn ra không chỉ ở các thành phố lớn mà còn có ở các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa và xẩy ra với các em học sinh ở mọi lứa tuổi Trên các phương tiện thông tin về học sinh bị xâm hại gây hậu quả nghiêm trọng và bức xúc trong dư luận xã hội
Trang 2Xâm hại trẻ em diễn ra với nhiều hình thức, nhiều mức độ, xuất phát donhiều nguyên nhân Vì vậy để bảo vệ trẻ em không bị xâm hại là một trongnhững vấn đề cần thiết trong xã hội hiện nay Đây không phải việc làm dànhriêng cho những người làm công tác giáo dục hay của những người làm côngtác xã hội mà đó là trách nhiệm của cả cộng đồng
Bản thân là một người làm công tác giáo dục, hàng ngày được chứng kiến sựngây thơ, hồn nhiên, trong sáng của tuổi học trò, hàng ngày cắp sách đến trường
để lĩnh hội tri thức, chuẩn bị hành trang bước vào đời Vậy mà các em có nguy
cơ gặp phải những trường hợp đau lòng như bị xâm hại sẽ làm tổn thương đếntâm lý của các em Rất có thể các em sẽ trở thành những đứa trẻ hoàn toàn khácnhư: thụ động, thờ ơ, lo sợ, tự kỷ thậm chí cả cái chết Đó là điều mà không aitrong chúng ta mong muốn Vì vậy, với mong muốn tìm ra những giải pháp tốtnhất, tối ưu nhất để có thể giúp các em phòng ngừa xâm hại, tôi đã lựa chọn đề
tài: “Một số biện pháp giúp học sinh phòng chống bị xâm hại”, để góp phần
đào tạo một thế hệ trẻ thực sự năng động, tự tin và giàu bản lĩnh để có thể ứngphó với bất kỳ tình huống nào trong cuộc sống
II MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 MỤC ĐÍCH:
- Đề tài nhằm giúp các em học sinh hiểu rõ mối nguy hiểm của xâm hại, cáchbảo vệ bản thân trước những mối nguy hiểm đó, để không có những vấn đềđáng tiếc
- xảy ra, để các em khôn lớn trưởng thành mạnh mẽ, lành mạnh và trở thànhngười có ích cho đất nước
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp khảo sát, thống kê
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát qua các con số, số liệu đã thống
kê
Trang 3- Phương pháp gặp gỡ, trao đổi, xin ý kiến giáo viên hướng dẫn về nhận địnhthực trạng, chỉ ra nguyên nhân, hậu quả và đưa ra giải pháp với từng vấn đề
- Cụ thể là lớp 7A2 và 6A3, lớp 8A5, 9A1 (180 học sinh)
- Khảo sát, đánh giá, tổng hợp, khái quát dựa trên số liệu thống kê từ 4 khối lớp
về khả năng nhận thức và bảo vệ bản thân của học sinh
IV CÁC GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU
Tìm ra các giải pháp hữu hiệu nhất có thể giúp các em học sinh có những kỹnăng, biện pháp cần thiết trong việc phòng chống khi kẻ xấu xâm hại
Góp phần giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ năng động, tự tin, sáng tạo, đáp ứngnhu cầu ngày càng cao của xã hội
V NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
1 CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Chúng ta có thể hiểu xâm hại trẻ em nói chung là một vấn đề rất được quan tâm
và đặc biệt hơn cả là vấn đề xâm hại tình dục trẻ em Theo UNICEF: “ Xâm
hại tình dục trẻ em là mọi hành vi lôi kéo trẻ vào các hoạt động liên quan đến tình dục, mà trẻ không đủ khả năng (Hoặc không hiểu), hoặc không đủ tâm thế
để đưa ra quyết định đối với các hành vi này, hoặc các hành vi đó vi phạm đến pháp luật hay các giá trị văn hoá sở tại”
Trang 4Thực tế hiện nay, tình trạng trẻ bị xâm hại xảy ra ở mọi quốc gia trên thế giớitrong đó có Việt Nam và cả trẻ em gái và trẻ em trai đều có thể là nạn nhân Vậylàm thế nào để chúng ta có thể bảo vệ được các em, bảo đảm cho các em có mộtcuộc sống an toàn, không có nguy cơ tiềm ẩn bị xâm hại? Đó là một vấn đề cầnđược quan tâm, cần được các cấp trong xã hội chung tay giải quyết
Trẻ em là thế hệ tương lai, là chủ nhân chính xây dựng đất nước.Vì vậy, chúng
ta phải dành cho các em những điều tốt đẹp nhất Thế nhưng trong thời gian quatình hình tội phạm xâm hại trẻ em xảy ra nhiều nơi và luôn tiềm ẩn yếu tố giatăng Tình trạng trẻ em bị xâm hại đang là hồi chuông báo động cho sự suythoái, đồi truỵ về đạo đức xã hội, gây bức xúc trong dư luận, gây ảnh hưởngnghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội
Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đã và đang hội nhập với các nước trên thếgiới và từng bước phát triển vươn lên, những mặt tích cực của xã hội được pháttriển mạnh song những mặt trái của xã hội cũng xuất hiện nhiều gây ảnh hưởngđến sự tồn tại, phát triển của mỗi tập thể, cá nhân trong đó có một bộ phậnkhông nhỏ là trẻ em Theo xu thế phát triển của xã hội, một số gia đình bố mẹchỉ quan tâm, mải lo đến việc làm kinh tế mà quên mất gia đình là chiếc nôi củatrẻ, quan tâm dạy dỗ trẻ; không những thế còn có những gia đình cha mẹ nghiệnngập, cờ bạc, rượu chè ảnh hưởng vô cùng lớn đến tâm hồn trẻ, tới sự hìnhthành và phát triển nhân cách của trẻ Một số gia đình hoàn toàn phó mặc việcdạy dỗ trẻ cho nhà trường và thầy cô giáo Bên cạnh đó cũng có những gia đình
có điều kiện kinh tế, quá chiều chuộng con dẫn đến trẻ thiếu sáng tạo, luôn ỷ lại,phụ thuộc vào người lớnvà mỗi khi gặp các tình huống khó khăn thì không biết
xử lý như thế nào, điều đó càng khó khăn trong việc tự bảo vệ bản thân mình
2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
Hiện nay, việc giáo dục một số kỹ năng sống cho học sinh là một nội dungđược đông đảo phụ huynh và dư luận đặc biệt quan tâm, bởi đây là một chươngtrình giáo dục hết sức cần thiết đối với học sinh và phù hợp với mục tiêu giáo
Trang 5dục hiện nay, nhằm đào tạo con người với đầy đủ các mặt “Đạo đức, trí tuệ, thểchất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học phổthông ” để đáp ứng yêu cầu cầu của xã hội Vì vậy trong giảng dạy, bên cạnhviệc cung cấp những kiến thức cơ bản của các bộ môn thì việc giáo dục kỹ năngsống phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi là vô cùng quan trọng
Lứa tuổi THCS bao gồm những em có độ tuổi từ 11 – 15 tuổi, tương ứng các emhọc từ lớp 6 đến lớp 9 trường THCS Lứa tuổi này còn gọi là lứa tuổi thiếu niên
và nó có một vị trí đặc biệt trong quá trình phát triển của các em
Tuối thiếu niên có vị trí và ý nghĩa đặc biệt trong quá trình phát triển của cả đờingười, được thể hiện ở những điểm sau:
- Thứ nhất: đây là thời kỳ quá độ từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành, thời kỳ trẻđang ở “ngã ba đường” của sự phát triển Trong đó có rất nhiều khả năng, nhiềuphương án, nhiều con đường để mỗi trẻ em trở thành một cá nhân Trong thời
kỳ, nếu sự phát triển được định hướng đúng, được tạo thuận lợi thì em sẽ trởthành công dân tốt Ngược lại, nếu không được định hướng đúng, bị tác độngbởi yếu tố tiêu cực thì sẽ xuất hiện hàng loạt các nguy cơ dẫn đến trẻ em bên bờcủa sự phát triển lệch lạc về nhận thức, thái độ, hành vi và nhân cách
- Thứ hai: thời kỳ mà tính tích cực xã hội của trẻ em được phát triển mạnh mẽ,đặc biệt trong việc thiết lập các quan hệ bình đẳng với người lớn và bạn nganghàng, trong việc lĩnh hội các chuẩn mực và giá trị xã hội, thiết kế tương lai củamình và những hành động cá nhân tương ứng
- Thứ ba: Trong suốt thời kỳ thiếu niên dều diễn ra sự cấu tạo lại, cải tổ lại,hình thành các cấu trúc mới về thể chất, sinh lý, về hoạt động, tương tác xã hội
và tâm lý, nhân cách, xuất hiện những yếu tố mới của sự trưởng thành Từ đóhình thành cơ sở nền tảng và vạch chiều hướng cho sự trưởng thành thực thụcủa cá nhân, tạo nên đặc thù riêng của lứa tuổi
- Thứ tư: tuổi thiếu niên là giai đoạn khó khăn, phức tạp và đầy mâu thuẫntrong quá trình phát triển Ngay các tên gọi của thời kỳ này: thời kỳ “quá độ”,
Trang 6“tuổi khó khăn”, “tuổi khủng hoảng”… đã nói lên tính phức tạp và quan trọngcủa những quá trình phát triển diễn ra trong lứa tuổi thiếu niên Sự phức tạp thểhiện qua tính hai mặt của hoàn cảnh phát triển của trẻ Một mặt có những yếu tốthúc đẩy phát triển tính cách của người lớn Mặt khác, hoàn cảnh sống của các
em có những yếu tố kìm hãm sự phát triển tính người lớn: phần lớn thời giancác em bận rộn, ít có nghĩa vụ khác với gia đình; nhiều bậc phụ huynh quá chămsóc trẻ, không để các em phải chăm lo cho việc gia đình…Chính vì vậy, việc rènmột trong những kỹ năng phòng chống xâm hại đối với trẻ em là một việc làmthực sự cần thiết và có ý nghĩa trong tình hình hiện nay Hơn thế nữa đây khôngphải là một nhiệm vụ quan trọng mà những người làm công tác giáo dục cầnquan tâm mà đó là vấn đề của toàn xã hội
Thực tế khó có thể đánh giá hết những ảnh hưởng do việc xâm hại trẻ emgây ra Việc trẻ em bị xâm hại đã để lại những vết thương không thể phai mờtrong gia đình, dòng họ nạn nhân, trong ký ức cộng đồng nơi trẻ bị gây hại mànạn nhân cùng sinh sống, để lại hậu quả lâu dài đến sức khoẻ cũng như sự pháttriển toàn diện của trẻ Việc trẻ bị xâm hại đã để lại những vết thương khôngphai mờ trong cuộc đời các em Đã nhiều năm nay chúng ta coi việc giáo dục trẻ
em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội.Công tác bảo vệ trẻ emcũng cần phải thực hiện như vậy Việc đấu tranh chống xâm hại trẻ, cần tậptrung vào biện pháp phòng ngừa Công tác truyền thông cần được làm đồng bộ,
có sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội Đối tượng đầu tiên cần phảituyên truyền là trẻ em Các em cần được trang bị đầy đủ kiến thức cần thiết đểbảo vệ mình tránh khỏi các hình thức bị lạm dụng Để làm được điều này, chínhcác bậc cha mẹ, nhà trường và các cơ quan chức năng cũng cần cập nhật kiếnthức về các thủ đoạn, hình thức xâm hại mới
Trên thực tế, nhiều học sinh ở các trường nói chung và học sinh trường THCSPhương Liệt nói riêng các em còn hạn chế những kỹ năng trong cuộc sống như:
Kỹ năng nhận thức, kỹ năng kiểm soát, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng hợp tác,
Trang 7kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, kỹ năng chia sẻ thông tin Vì vậy mà còn nhiềuhọc sinh chưa mạnh dạn, thiếu tự tin khi phải ứng phó với những tình huống khólường trong cuộc sống Hơn lúc nào hết, các em cần được quan tâm, giáo dục,truyền thụ những kiến thức về kỹ năng sống, kỹ năng phòng chống xâm hại
Có như vậy mới phần nào hạn chế được tình trạng một số em xa lánh với môitrường sống thực tế và thiếu sự tương tác giữa con người với con người, kỹnăng xã hội của các em ngày càng thiếu và yếu Điều đó sẽ dẫn đến tình trạnghọc sinh dễ bị kẻ xấu dụ dỗ và rất có thể sẽ bị xâm hại Ngoài những kiến thứcphổ thông, các em cần học điều gì để giúp các em hội nhập với xã hội, trở thànhcông dân có ích cho cộng đồng Đây cũng chính là những băn khoăn, trăn trởđược đặt ra đối với mỗi giáo viên- những người làm công tác giáo dục hiện nay
VI KẾ HOẠCH THỰC HIỆN
- Từ ngày 12/9/1016 đến 16/9/2016: Lập đề cương, xây dựng kế hoạch
- Từ ngày 19/9/2016 đền 8/10/2016: Nghiên cứu và áp dụng
- Từ ngày 10/1/2017 đến 28/2/2017: Tổng kết và hoàn tất đề tài
B PHẦN NỘI DUNG
I THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG MÂU THUẪN
1 THỰC TRẠNG
Như chúng ta đã biết mục tiêu của giáo dục THCS là:
Giáo dục THCS nhằm giúp học sinh củng cố, phát triển những kết quả của giáodục Tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu
về kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học Trung học phổ thông, trung cấp họcnghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
Mục tiêu tổng quát đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo có những nộidung mới so với mục tiêu lâu nay đã xác định:
Về mục tiêu đào tạo con người: Vừa đào tạo con người Việt Nam phát triển toàndiện, yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả,
Trang 8đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; vừa đảm bảo phát huy tốt nhấttiềm năng riêng của mỗi cá
Về mục tiêu hệ thống: Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạytốt, học tốt, quản lí tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lí, gắn với xâydựng xã hội học tập; chuẩn hoá, hiện đại hoá, dân chủ hoá, xã hội hoá và hộinhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủnghĩa và bản sắc dân tộc Tạo chuyển biến căn bản mạnh mẽ về chất lượng, hiệuquả, giáo dục đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ
Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dụcViệt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực
UNESCO đề xướng 4 mục đích học tập: Học để biết, học để làm, học để chung
sống, học để tự khẳng định mình Trong khi, nhà trường của chúng ta hiện nay
đang nặng về: Học để biết, nghĩa là về cơ bản chỉ đạt được một trong bốn mục
đích của UNESCO
Các chuyên gia nghiên cứu trong lĩnh vực này đều khẳng định tình trạng xâm hại tình dục trẻ em trên thực tế luôn cao hơn nhiều so với các số liệu thống kê chính thức Cụ thể như sau:
12 số liệu thống kê từ các báo cáo điều tra, nghiên cứu được chị JayneenSanders chia sẻ với mong muốn như một thông tin đánh động tới các bậc cha
mẹ, những người chăm sóc và các giáo viên về vấn đề nhức nhối này Cuối mỗithông tin là nguồn trích dẫn:
1 Khoảng 20% bé gái (1/5) và 8% bé trai (1/12,5) bị xâm hại tình dục trước tuổi
Trang 94 Lứa tuổi dễ bị tổn thương nhất trong các vụ xâm hại tình dục là từ 3-8 tuổi Phần lớn các vụ xâm hại tình dục trẻ em bắt đầu xảy ra trong độ tuổi này
(Browne & Lynch, 1994)
5 Nam giới chiếm 90% trong số các đối tượng gây ra những vụ xâm hại tìnhdục, trong khi nữ giới chiếm 3,9% Ngoài ra còn khoảng 6% đối tượng xâm
hại thuộc về "giới tính không xác định" (McCloskey & Raphael, 2005)
6 Khoảng 40% trẻ em bị những đứa trẻ lớn hơn (hoặc khỏe mạnh hơn) xâm hạitình dục (Finkelhor, 2012) Cùng với việc lan tràn các hình ảnh khiêu dâmhiện nay, người ta còn thấy các vụ xâm hại tình dục trẻ em, cụ thể là những
vụ việc mà thủ phạm gây án là những đứa trẻ lớn hơn hoặc là anh/chị em họcủa nạn nhân, cũng xảy ra ngày càng nhiều 23% trẻ em trong độ tuổi 10-17
đều đã tiếp xúc với các hình ảnh khiêu dâm ngoài ý muốn (Jones L và các cộng sự, 2012)
7 84% các vụ việc trẻ em dưới 12 tuổi bị xâm hại tình dục xảy ra tại nơi ở
không bao giờ tiết lộ sự thật (Broman-Fulks và các cộng sự, 2007)
11 Những trẻ em từng bị xâm hại tình dục có nguy cơ tự tự cao hơn 10-13
lần so với những trẻ em bình thường (Plunkett A, O’Toole B, Swanston H, Oates RK, Shrimpton S, Parkinson P 2001)
12 Trẻ em không sống cùng cha mẹ (trẻ em được nhận làm con nuôi) cónguy cơ bị xâm hại tình dục gấp 10 lần so với những đứa trẻ sống cùng cha
Trang 10mẹ ruột Trẻ em sống cùng với cha/mẹ có một bạn tình khác sống chung trongnhà có nguy cơ bị xâm hại tình dục cao nhất Nguy cơ này ở chúng cao gấp 20
lần so với những đứa trẻ sống cùng cha mẹ ruột (Sedlack và các cộng sự, 2010)
Riêng ở Việt Nam:Theo số liệu thống kê từ Bộ Lao động, Thương binh và Xãhội, trong 5 năm từ 2011 đến 2015, cả nước có 5.300 vụ xâm hại tình dục trẻ
em Tính trung bình, cứ 8 giờ trôi qua lại có một trẻ em Việt Nam bị xâm hại.Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng con số này chỉ là những vụ việc được báocáo, còn rất nhiều vụ nạn nhân bị chính kẻ xâm hại dọa dẫm hoặc vì lý do nào đó
đã không được thống kê
Trên thế giới, theo thống kê của Hiệp hội Quốc gia Phòng chống Bạo hành trẻ
em (NSPCC), độ tuổi trung bình của trẻ em bị xâm hại tình dục là 9 tuổi Cứ 4
bé gái thì có 1 bé bị xâm hại tình dục, 6 bé trai thì có 1 bé bị xâm hại tình dục Vấn nạn này có xu hướng gia tăng đối với trẻ em nam Tại Việt Nam, trước đâytrẻ bị xâm hại thường là 13-18 tuổi thì nay xuất hiện nhiều vụ việc ở lứa tuổi 5-13.Đáng chú ý, 93% thủ phạm có mối quan hệ quen biết với nạn nhân, trong đó47% kẻ xâm hại là họ hàng, người trong gia đình nạn nhân
Qua thực tế giảng dạy nhiều năm lại là giáo viên Tổng phụ trách đội TNTP HồChí Minh, là giáo viên chủ nhiệm lớp, do vậy bản thân tôi có nhiều thời gian và
cơ hội gần gũi với các em thông qua các hoạt động Đội Chính vì vậy tôi nhậnthấy kỹ năng sống, kỹ năng phòng ngừa xâm hại cho học sinh là vô cùng quantrọng Bởi trên thực tế chỉ có một số học sinh có hành vi, thói quen, kỹ năng tốt.Còn phần lớn các em còn ngại nói, ngại viết, khả năng tự học, tự tìm tòi còn hạnchế
Thực tế hàng ngày, hàng giờ trên đất nước ta còn xảy ra biết bao nhiêu hiệntượng trẻ em bị xâm hại và không ai trong chúng ta có thể khẳng định rằng tất cả
Trang 11học sinh của chúng ta đều được an toàn Rất có thể có một tỷ lệ nhỏ các em họcsinh bị xâm hại nhưng các em đều không dám nói với bố mẹ, thầy cô, ngườithân, bạn bè các em đều tự mình giải quyết hoặc chịu đựng từ đó ảnh hưởngtrực tiếp tới sức khoẻ, tinh thần và kết quả học tập của các em Bởi thủ phạmxâm hại các em có thể là người thân của gia đình, người quen,hàng xóm thânthiết, bạn bè của cha mẹ hoặc tin cậy Và thủ phạm có thể tìm mọi cách để tạodựng mối quan hệ thân thiết, gần gũi với trẻ và gia đình các em để tiến hànhhành vi xâm hại trẻ Có thể nói xâm hại trẻ em là một hành vi vi phạm pháp luậtViệt Nam Tất cả trẻ em đều có thể có quyền được bảo vệ khỏi mọi hình thứcxâm hại, đặc biệt là xâm hại tình dục
Trong việc phát hiện, ngăn chặn và giải quyết hành vi bạo lực giới thì giáodục nhà trường đóng vai trò chủ đạo, giáo dục gia đình đóng vai trò then chốt và
sự cộng hưởng của xã hội giữ vai trò quan trọng Phải tăng cường sự phối hợpgiữa gia đình, nhà trường và xã hội Trong đó, mỗi nhân tố cần làm tốt vai trò vàtrách nhiệm của mình, đặc biệt là giáo dục gia đình vì mỗi gia đình là một đơn vịđộc lập trong khi các nhà trường là một tập thể có hệ thống, có chế tài quản lý
và giám sát của cơ quan chức năng, gia đình cũng chính là tế bào của xã hội
2 NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH PHẠM TỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM
Có nhiều nguyên nhân và điều kiện khác nhau dẫn đến tình trạng xâm hại trẻ em,
mà đặc biệt là xâm hại tình dục, theo tôi có những nguyên nhân chính như sau:
Thứ nhất: Nguyên nhân từ phía gia đình:
- Gia đình có hoàn cảnh khó khăn, sự đói nghèo lạc hậu, không có điều kiện đểchăm sóc quản lý, giáo dục trẻ em, thường để các em ở nhà một mình hoặc gửihàng xóm, có thể là những đối tượng tiềm ẩn sự nguy hiểm, cũng có khi trẻ dothiếu thốn tình cảm, sống trong hoàn cảnh gia đình không hoàn thiện, lại không
Trang 12được học hành chu đáo, dẫn đến tình trạng các em bị lợi dụng rủ rê, hoặc bị épbuộc vào các hành vi phạm tội ngoài ý muốn
- Do cha mẹ các em mải làm ăn nên thiếu sự quan tâm, buông lỏng quản lý, phómặc con cái cho thầy cô và nhà trường, chưa giáo dục thường xuyên về đạo đứclối sống cho trẻ, thiếu kiến thức và phương pháp giáo dục về giới tính cho trẻ,đặc biệt là hướng dẫn trẻ cách phòng ngừa, đôi khi cha mẹ còn cho là chưa đếnlúc vì con còn nhỏ, ngại nói đến vấn đề giới tính và không biết phải nói thế nàovới con.Có những cha mẹ khó có thể làm bạn với con để sẵn sàng lắngnghenhững tâm sự của convì khoảng cách lứa tuổi hoặc trình độ, đôi khi biếtnhưng không có phương pháp phù hợp dẫn đến sự bất hợp tác của trẻ
- Trong nhiều trường hợp khi xảy ra việc trẻ bị xâm hại, gia đình ngại tố cáo tộiphạm, cho qua hoặc dấu kín vì sợ tai tiếng, mặc cảm, cho rằng con mình cũng cólỗi, điều đó đã vô tình tiếp tay cho kẻ xâm hại trẻ em thoát tội và tiếp tục phạmtội
Thứ hai: Nguyên nhân xã hội
- Do công tác quản lý các loại hình dịch vụ, băng đĩa hình, văn hoá phẩm đồitruỵ thiếu chặt chẽ, nhiều bộ phim, sách truyện có nội dung bạo lực, khiêu dâm vẫn được trình chiếu và bán trên thị trường
- Sự phối hợp của các cơ quan ban nghành đoàn thể từ Trung ương đến địaphương còn thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ hoặc thiếu kiên quyết
- Do lối sống buông thả, suy đồi về đạo đức cá nhân thấp hèn, mất nhân tính,những việc làm tiêu cực của người lớn cũng đã ảnh hưởng tới tình trạng phạmtội đối với trẻ em
- Tình trạng mù chữ, thất học, không có việc làm, thiếu hiểu biết về pháp luậtnên coi thường pháp luật
Thứ ba: Nguyên nhân từ đặc điểm tâm sinh lý, thể chất, trình độ nhận thức của trẻ
Trang 13- Do đặc điểm tâm sinh lý trẻ em, sự bồng bột, thiếu suy nghĩ và non nớt về trítuệ, do sự biến chuyển về sinh lý, làm theo phim ảnh sách báo, học đòi lànguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ bị xâm hại
- Do đặc điểm về thể chất, các em cho mình là người lớn, luôn cho mình làđúng và muốn thể hiện mình, chưa có khả năng chống cự, phản kháng lại cáchành vi xâm hại của tội phạm
- Do trình độ nhận thức của các em còn hạn chế, còn thiếu kiến thức về xã hội,
về kiến thức pháp luật, kiến thức về giới tính, người bị hại có nhược điểm vềtinh thần cũng là một trong những nguyên nhân và điều kiện cho kẻ phạm tộithực hiện hành vi của mình
Thứ tư: Nguyên nhân từ công tác tuyên truyền giáo dục ý thức pháp luật giáo dục giới tính
- Do công tác tuyên truyền, giáo dục về phòng chống xâm hại tình dục trẻ emchưa thường xuyên còn mang tính hình thức chạy theo phong
trào, do pháp luật còn nhiều bất cập, việc điều tra xử lý tội phạm xâm hại trẻ emchưa kịp thời, thiếu nghiêm minh, chưa tạo được dư luận xã hội lên án mạnh
mẽ đối với hành vi xâm hại trẻ em
- Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật chưa đi sâu xuống từng địa bàn, từngcụm dân cư nên không đạt hiệu quả trong việc nâng cao nhận thức pháp luậttrong nhân dân
- Do công tác giáo dục đạo đức lối sống cho trẻ em chưa được chú trọng, côngtác giáo dục giới tính chưa thường xuyên, chưa có phương pháp giáo dục giớitính và hướng dẫn cách phòng ngừa tội phạm cho các em
- Sự kết hợp quản lý giáo dục giữa gia đình nhà trường và xã hội chưa chặt chẽ,thiếu đồng bộ
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Việc giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội Vậy thìcông tác bảo vệ trẻ em cũng cần phải thực hiện như vậy, đó không phải trách