1 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam Văn bản pháp luật của Việt Nam bao gồm Hiến pháp – Do Quốc hội ban hành, là văn bản pháp luật cao nhất Luật hoặc Bộ luật – Do Quốc hội thông qua và Chủ t.
Trang 11 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam
Văn bản pháp luật của Việt Nam bao gồm
Hiến pháp – Do Quốc hội ban hành, là văn bản pháp luật cao nhất
Luật hoặc Bộ luật – Do Quốc hội thông qua và Chủ tịch nước ký quyết định ban hành Có thể kể một số Bộ luật như: Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật lao động, Bộ luật hàng hải
Nghị_quyết_của_Quốc_hội
Văn bản dưới luật gồm
o Ủy ban thường vụ Quốc hội: Pháp lệnh, Nghị quyết
o Chủ tịch nước: Lệnh, Quyết định
o Chính phủ: Nghị định
o Thủ tướng Chính phủ: Quyết định
o Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Nghị quyết
o Chánh án Toà án nhân dân tối cao: Thông tư
o Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Thông tư
o Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ: Thông tư
o Tổng Kiểm toán Nhà nước: Quyết định
o Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơquan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội
o Thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân Bao gồm:
[2]
o Hội đồng nhân dân: Nghị quyết.
Trang 2o Ủy ban nhân dân: Quyết định.
2 So sánh quy phạm pháp luật với quy phạm xã hội
o Khác nhau:
o Quy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà
nước ban hành hặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và được nhà nước đảm bảo thực hiện
o Quy phạm xã hội là những chuẩn mực khuôn mẫu cho hành vi giao tiếp giữa các
thành viên trong xã hội nhằm đạt đến những mục đích chung là trật tự xã hội
o Sự giống nhau đó là:
Nó đều là những quy tắc xử sự chung được một nhóm người, một cộng đồng dân chư công nhận và định hướng hành vi theo đúng những quy tắc này
Quy phạm pháp luật Quy phạm xã hội
do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiện ýchí và lợi ích của nhân dân lao động, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Những chuẩn mực khuônmẫu cho hành vi giao tiếp giữa các thành viên trong xã hội nhằm đạt dến những mục đích chung là trật tự xã hội
hoặc thừa nhận
- Được nhà nước bảo đảm thực hiện
- Mang tính bắt buộc chung
- Nội dung của mỗi quy phạm pháp luật đều thể hiện hai mặt: cho phép vàbắt buộc
- Thể hiện ý chí chung, phù hợp với lợi ích chungcủa cộng
đồng, thị tộc, bộ lạc;
Mang tính manh mún, tản mạn và chỉ
có hiệu lực trong phạm vithị tộc bộ lạc
- Mang nội dung, tinh thần hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau, tính
cộng đồng
- Được thực hiện tự nguyện trên cơ sở thói quen, niềm tin
Trang 3tự nhiên, nhiều khi cũng cần sự cưỡng chế, nhưng không do
một bộ máy chuyên nghiệp thực hiện mà do toàn thị tộc tự tổ
chức thực hiện
quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc chung với tất cả mọi người trong xã hội không
bỏ qua bất kì ai
- Phạm vi bó hẹp: Các quy phạm xã hội chỉ bắt buộc và có hiệu lực đối với những thành viên nằm trong tổ chức đó mà không có sự tham gia trực tiếp của pháp luật
Hình thức thể hiện - Thể hiện trên văn bản
quy dịnh của pháp luật trong hiến pháp, phải có tính thống nhất cao, rõ ràng và cụ thể
- Các quy phạm xã hội đều là những quy phạm bất thành văn, tức là không có căn bản nào ghichép nhưng nhiều người vẫn tuân thủ
- Thể hiện qua nội quy của các tổ chức, tập thể, đoàn thể
Phương thức tác động - Do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền ban hành
- Được thực hiện bằng các hệ thống pháp luật
- Người cố tình không chấp hành thì bị phạt bằng các văn bản quy định của pháp luật
- Được thực hiện dựa vàocác tổ chức và các lực lượng và uy tín của tổ chức đó
- Được thực hiện trong đời sống nhờ long tin củacon người qua các phong tục và thói quen của mọi người
3 Cho ví dụ về vi phạm pháp luật và phân tích
VD : theo điều 112 Bộ luật hình sự 1999 về ttooji hiếp dâm trẻ em : Người nào hiếp dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm
Trang 4Giả đinh:Bất kể người nào đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Quy định : Người nào hiếp dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
Chế tài: thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm
4 Sự khác nhau giữa văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật Văn bản áp dụng pháp luật
Giống nhau
+ Đều là văn bản pháp luật do các cơ nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm
quyền theo quy định của pháp luật ban hành
+ Đều được nhà nước bảo đảm quyền thực hiện bằng các biện pháp mang tính
quyền lực nhà nước
+ Được ban hành theo tình tự, thủ tục do pháp luật quy định
+ Đều có hiệu lực buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện đối với các tổ chức hoặc cá nhân có liên quan
+ Đều được thể hiện dưới hình thức văn bản và dùng để điều chỉnh các mối quan
hệ xã hội
Khác nhau
*Về chủ thể ban hành
Do các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành hoặc phối hợp ban
* Mục đích ban hành
Trang 5Được dùng để ban hành, đề ra quy
phạm mới hoặc đình chỉ, sử đổi, bãi
bỏ quy phạm hiện hành, hoặc thay
đổi phạm vi hiệu lực của nó
Được dùng để cá biệt hóa các quy phạm pháp
luật vào những trường hợp cụ thể đối với các
* Nội dung ban hành
Chứa đựng các quy tắc xử sự chung
được nhà nước bảo đảm thực hiện,
tức là các quy phạm pháp luật nên
không chỉ rõ chủ thể cụ thể cần áp
dụng và được thực hiện nhiều lần
trong thực tế cuộc sống, được thực
hiện trong mọi trường hợp khi có các
sự kiện pháp lý tương ứng với nó
xảy ra cho đến khi nó hết hiệu lực
Văn bản quy định rõ quyền và nghĩa vụ củacác chủ thể, hoặc xác định biện pháp cưỡngchế đối với các hành vi vi phạm pháp luật như bị phạt cảnh cáo, phạt tiền (trong xử phạt hành chính), bị xử lý kỉ luật với các biện pháp như khiển trách, cảnh cáo, hạ mức lương, sa thải…
Ngoài ra văn bản áp dụng pháp luật còn quy
định chủ thể thực hiện các tránh nhiệp pháp
lý như bồi thường thiệt hại, khắc phục các hậuquảdo hành vi vi phạm pháp luật gây ra
* Số lần áp dụng
Áp dụng cho nhiều lần trong cuộc
sống
cho đến khi nó hết hiệu lực
Áp dụng một lần đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể trong những trường hợp xác định
luật và có hiệu lực bắt buộc
Được ban hành hợp pháp, nghĩa là nó phải được ban hành đúng thẩm quyền, đúng tên gọi, đúng trình tự và thủ tục do pháp luật quy định
Nội dung của văn bản pháp luật phải rõ ràng,
Trang 6thể và khách thể.
1 Mặt khách quan của vi phạm pháp luật là những dấu hiệu biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan của vi phạm pháp luật Nó bao gồm các yếu tố: hành vi trái phápluật, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội, thời gian, địa điểm, phương tiện vi phạm
a Hành vi trái pháp luật hay còn gọi là hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi trái với các yêu cầu của pháp luật, nó gây ra hoặc đe doạ gây ra những hậu quả nguy hiểm cho xã hội
b Hậu quả nguy hiểm cho xã hội: là những thiệt hại về người và của hoặc những thiệt hại phi vật chất khác do hành vi trái pháp luật gây ra cho xã hội
c Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội tức là giữa chúng phải có mối quan hệ nội tại và tất yếu với nhau Hành vi đã chứa đựng mầm mống gây ra hậu quả hoặc là nguyên nhân trực tiếp của hậu quả nên nó phải xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian; còn hậu quả phải là kết quả tất yếu của chính hành vi
đó mà không phải là của một nguyên nhân khác
d Thời gian vi phạm pháp luật là giờ, ngày, tháng, năm xảy ra vi phạm pháp luật
e Địa điểm vi phạm pháp luật là nơi xảy ra vi phạm pháp luật
f Phương tiện vi phạm pháp luật là công cụ mà chủ thể sử dụng để thực hiện hành vitrái pháp luật của mình
Khi xem xét mặt khách quan của vi phạm pháp luật thì hành vi trái pháp luật luôn luôn là yếu tố bắt buộc phải xác định trong cấu thành của mọi vi phạm pháp luật, còncác yếu tố khác có bắt buộc phải xác định hay không là tuỳ từng trường hợp vi phạm
Có trường hợp hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi
và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng là yếu tố bắt buộc phải xác định, có trường hợp địa điểm vi phạm cũng là yếu tố bắt buộc phải xác định
2 Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật là trạng thái tâm lý bên trong của chủ thể khi thực hiện hành vi trái pháp luật Nó bao gồm các yếu tố: lỗi, động cơ, mục đích vi phạm pháp luật
a Lỗi là trạng thái tâm lý hay thái độ của chủ thể đối với hành vi của mình và đối vớihậu quả của hành vi đó gây ra cho xã hội được thể hiện dưới hai hình thức: cố ý hoặc
vô ý
Trang 7Lỗi gồm 2 loại: cố ý và vô ý.
Lỗi cố ý lại gồm 2 loại: cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp
+ Cố ý trực tiếp là lỗi của một chủ thể khi thực hiện hành vi trái pháp luật nhận thức
rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước được hậu quả của hành vi đó và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra
+ Cố ý gián tiếp là lỗi của một chủ thể khi thực hiện một hành vi trái pháp luật nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước được hậu quả của hành vi đó, tuy không mong muốn song có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra
Lỗi vô ý cũng gồm 2 loại: vô ý vì cẩu thả và vô ý vì quá tự tin
+ Vô ý vì cẩu thả là lỗi của một chủ thể đã gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng
do cẩu thả nên không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả đó, mặc dù
có thể thấy trước và phải thấy trước hậu quả này
+ Vô ý vì quá tự tin là lỗi của một chủ thể tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây
ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội song tin chắc rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc
cỏ thể ngăn ngừa được nên mới thực hiện và có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xãhội
b Động cơ vi phạm pháp luật là động lực tâm lý bên trong thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật
c Mục đích vi phạm pháp luật là cái đích trong tâm lý hay kết quả cuối cùng mà chủ thể mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi trái pháp luật
3 Chủ thể của vi phạm pháp luật là cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý
và đã thực hiện hành vi trái pháp luật
4 Khách thể của vi phạm pháp luật là quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ nhưng bịhành vi trái pháp luật xâm hại tới
Trang 86 Quan hệ giữa pháp luật và kinh tế, liên hệ thưc tế của việt nam:
1 Quan hệ giữa pháp luật và kinh tế:
- Pháp luật là yếu tố thượng tầng xã hội, còn kinh tế thuộc về yếu tố của cơ sở hạtầng
- Pháp luật sinh ra trên cơ sở hạ tầng và bị quy định bởi cơ sở hạ tầng của phápluật Cơ sở hạ tầng là nguyên nhân trực tiếp quyết định sự ra đời của phTrong mốiliên hệ với kinh tế, pháp luật phụ thuộc vào kinh tế; mặt khác, pháp luật lại có sự tácđộng ngược trở lại một cách mạnh mẽ đối với kinh tế
Trước hết, các quan hệ kinh tế không chỉ là nguyên nhân trực tiếp quyết định sự ra đời của pháp luật, mà còn quyết định toàn bộ nội dung, hình thức, cơ cấu và sự phát triển của nó Như Mác đã viết : “ Trong thời đại nào cũng thế, chính là vua chúa phảiphục tùng những điều kiện kinh tế, chứ không bao giờ vua chúa lại ra lệnh cho
những điều kiện kinh tế được Chẳng qua chế độ pháp luật về chính trị, cũng như về dân sự chỉ là cái việc nói lên, ghi chép lại quyền lực của những quan hệ kinh tế”
Sự lệ thuộc của pháp luật vào kinh tế thể hiện ở những mặt chủ yếu sau:
Thứ nhất: cơ cấu nền kinh tế, hệ thống kinh tế quyết định thành phần cơ cấu hệ
thống các ngành luật
Thứ hai: tính chất nội dung của các quan hệ kinh tế, của cơ chế kinh tế quyết định
tính chất, nội dung của các quan hệ pháp luật, tính chất phương pháp điều chỉnh cua pháp luật
Thứ ba: chế độ kinh tế, thành phần kinh tế tác động quyết định tới sự hình thành, tồn
tại các cơ quan, tổ chức và thể chế pháp lý, phương thức hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật và thủ tục pháp lý
Bên cạnh đó, pháp luật cũng có tác động trở lại đối với kinh tế theo những xu hướng tích cực hoặc tiêu cực khác nhau:
Tác động tích cực: nếu pháp luật được ban hành phù hợp với các quy luật kinh tế -
xã hội thì nó tác động tích cực đến sự phát triển các quá trình kinh tế, cũng như cơ cấu của nền kinh tế, ở đây, sự tác động cùng chiều giữa pháp luật và các quá trình kinh tế xã hội (chẳng hạn khi pháp luật thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lí của nhà nướctạo điều kiện giải phóng mọi năng lực sản xuất xã hội…)
Khi pháp luật thề hiện phù hợp với nền kinh tế: Pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị là lực lượng tiến bộ trong xã hội, phản ánh đúng trình độ kinh tế dẫn tới kinh tế phát triển, pháp luật tạo hành lang tốt cho kinh tế phát triển
Ví Dụ: Pháp luật tư sản thời kì đầu, sau thắng lợi của cách mạng tư sản đã thể hiện rõnội dung tiến bộ so với pháp luật phong kiến và có tác động tích cực góp phần xóa
bỏ những quan hệ kinh tế - xã hội lỗi thời lạc hậu, cũng cố và thúc đẩy sự phát triển của những quan hệ kinh tế - xã hội mới hình thành trong xã hội tư bản chủ nghĩa Nhưng đến thời kì đế quốc chủ nghĩa nó đã tác động tiêu cực đến các quá trình kinh
tế, chính trị, xã hội gây nhiều phản ứng mạnh mẽ, đe dọa trật tự xã hội tư bản Để khắc phục nhược điểm đó các nhà nước tư bản đã nhiều lần điều chỉnh, phải thay đổi
Trang 9đường lối để pháp luật thích ứng được tình hình Pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện
ý chí của giai cấp công nhân và đông đảo nhân dân lao động dưới sự lảnh đạo của Đảng cộng sản, phản ánh đúng đắn trình độ phát triển của chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa Cho nên pháp luật xã hội chủ nghĩa có nội dung tiến bộ và giữ vai trò tích cực trong việc tác động tới sự phát triển kinh tế - xã hội
Tác động tiêu cực: khi pháp luật không phù hợp với các quy luật pháp triển kinh tế
-xã hội được ban hành do ý chí chủ quan của con người thì nó sẽ kìm hãm toàn bộ nền kinh tế.,hoặc một bộ phận của nền kinh tế (cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, bằng các mệnh lệnh, quy định hành chính đối với các hoạt động kinh tế, đã làm nền kinh tế bị trì trệ dẩn đến khủng hoảng)
Tuy nhiên; trong bước quá độ chuyển từ cơ chế kinh tế này sang cơ cấu kinh tế khác,các quan hệ kinh tế cũ chưa hoàn toàn mất đi, quan hệ kinh tế mới đang hình thành
và phát triển nhưng chưa ổn định thì pháp luật có thể tác động kích thích sự phát triển kinh tế ở những mặt, lỉnh vực này nhưng lại kìm hãm sự phát triển kinh tế ở những mặt, lỉnh vực khác
Ví Dụ: pháp luật của xã hội phong kiến trong thời kì cuối lạc hậu, không phù hợp vớinền sản xuất công nghiệp
2 Sự tác động qua lại giữa kinh tế và pháp luật:
Giữa pháp luật và kinh tế có mối liên hệ thưc tế với nhau, chúng tác động lẫn nhau Pháp luật thể hiện vai trò của mình lên kinh tế và ngược lại
2.
1A Sự tác động của pháp luật đối với kinh tế :
Trong mối liên hệ với kinh tế pháp luật có vai trò chung nhất là sự biểu hiện về mặt pháp lí các mối quan hệ sản xuất thành một hệ thống các quan hệ pháp luật tạo nên trật tự pháp luật về kinh tế cho một nhà nước
Nhìn lại pháp luật trong cơ chế hành chính quan liêu bao cấp, có thể thấy rằng sự tồntại của pháp luật như một nhu cầu chủ quan bắt nguồn trực tiếp từ những đòi hỏi của các quan hệ kinh tế Pháp luật lúc đó được quan niệm như là phương tiện trong tay nhà nước nhằm để đẩy nhanh hay kìm hảm xóa bỏ một quan hệ kinh tế nào đó một cách duy ý chí Ngược lại, trong cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước, pháp luật trước hết tồn tại vì kinh tế, sinh ra trực tiếp từ những đòi hỏi của các quan hệ ki
nh tế Chỉ trong mối quan hệ không tách rời khỏi đòi hỏi và nhu cầu của kinh tế, pháp luật đến lượt mình trở thành phương tiện hàng đầu trong quản lí nhà nước về kinh tế, pháp luật trước hết tạo lập các khung hay còn gọi là hành lang pháp lí cho người quan xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế bình đẳng trong cách chơi,đồng thời Nhà nước là chủ thể quản lí cũng dựa vào chuẩn mực đó điều khiển cách chơi
Các quan hệ kinh tế thị trướng rát đa dạng phong phú, năng động và phức tạp nhưng trong điều kiện nước ta lịa phải định hướng xã hội chủ nghĩa Điều đó lại cành nảy sinh nhu cầu điều chỉnh để loại bỏ các yếu tố ngẫu nhiên, tùy tiện ngăn ngừa rối
Trang 10loạn, khủng hoảng, thiết lập trật tự ổn định Chính vì thế Mac đã viết: “Tính được điều chỉnh và trật tự chính là hình thức cũng cố về mặt xã hội một phương thức sản xuất nhất định và do đó có sư giải phóng tương đối phương thức sản xuất đó khỏi sự ngẫu nhiên và tùy tiện thuần túy” Một trong những phương tiện điều chỉnh hữu hiệu
là pháp luật Bằng sự điều chỉnh pháp luật mà tạo ra môi trương thuận lợi tin cậy và chính thức cho sự tồn tại và phát triển các quan hệ kinh tế
Tron thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, khi mà của cải vật chất chưa thực sự dồi dào, pháp luật chính là phương tiện thực hiện tốt nhất nguyên tắc làm theo năng lực hưởng theo lao động Cùng với điều kiện đó, pháp luật là phương tiện thể chế hóa các quan hệ tiền - hàng, hoạch toán kinh tế, hợp đồng kinh tế, các quan hệ về lợi ích
và đặc biệt là thể chế hóa và hoàn thiện cơ chế quản lí về mặt tổ chức và hoạt động, làm cho nó có hiệu lực thực thi trong quy mô toàn xã hội
2 1B Sự tác động của kinh tế đối với pháp luật:
Trước tiên, phải khẳng định kinh tế là yếu tố quyết định pháp luật Trong quá trình phát triển của xã hội, lực lượng sản xuất dư thừa lam cho năng suất lao đông tăng lên, xã hội co cua cải dư thừa hình thành giai cấp, các tập quán trở nên bất lực trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Sự hình thành giai cấp và đấu tranh giai cấp không điều hòa được thì cùng với nhà nước pháp luật cũng ra đời Như vậy, hình tháikinh tế thay đổi dẫn đến sự ra đời của pháp luật Theo Anghen chỉ đến một giai đoạn phát triển nhất định của xã hội, do sự phát triển của lực lượng sản xuất của của phân công lao động va năng suất lao động mà đã:…phát sinh nhu cầu phải tập hợp, dưới những quy tắc chung hành vi sản xuất, phân phối và trao đổi sản phẩm, những hành
vi này tái diễn hang ngày và phải làm sao để mọi người phải phục tùng những quy định chung của sản xuất và trao đổi Quy tắc đó thoạt nhiên là thói quen, sau thành pháp luật Mặt khác, cũng từ những nguyên nhân kinh tế mà sự phát triển của nó đếnmột điều kiện nhất định đã phá vở những cơ sở tồn tại của chế độ thị tộc, làm cho chế độ nguyên thủy từ chổ không có mâu thuẫn dẫn đến một xã hội đầy tính đối kháng
3 Mối liên hệ thực tế giữa pháp luật và kinh tế ở nước ta:
Ở nước XHCN trong đó có nước ta, hệ thống pháp luật được chia thành các ngành luật khác nhau trong đó có nganh luật kinh tế Theo nghĩa truyền thống thì luật kinh
tế là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp và giữa doanh nghiệp với các cơ quan Nhà nước về quản lí kinh tế
Trong khoa học pháp lí khái niệm trên được hiểu là khái niệm luật kinh tế theo nghĩahẹp Theo nghĩa này thì luật kinh tế là một ngành luật có đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh riêng
Từ khi pháp lệnh hợp đồng kinh tế hết hiệu lực và hợp đồng kinh tế (hợp đồng kinh doanh, thương mại) được điều chỉnh bằng nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau như luật dân sự, luật thương mại, luật đầu tư…Do ngành
Trang 11luật kinh tế cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn là “pháp luật kinh tế” Theo nghĩa này thì luật kinh tế bao gồm tất cả các ngành luật không những điều chỉnh mối quan
hệ giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với cơ quan Nhà nước
mà còn điều chỉnh các quan hệ xã hội khác, liên quan mật thiết với kinh doanh, thương mại như luật thương mại, luật dân sự, luật đầu tư, luật phá sản…Mặt khác trong thời gian gần đây, để phù hợp với việc VN gia nhập WTO, tổ chức thương mại thế giới, thì pháp luật cho hoạt động kinh doanh, thương mại phải tiếp tục phát triển
để phù hợp với pháp luật và thong lệ quốc tế Với tinh than trên thì khái niệm kinh doanh va hoạt động thương mại được quy định trong luật kinh doanh và thương mại được hiểu theo nghĩa rộng: kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hay tất
cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hay cung ứng dịch vụ/thị trường nhằm mục đích sinh lợi
Về việc hình thành các tổ chức kinh tế đại diện cho các doanh nghiệp theo tưng giới, ngành là cần thiết, song do khâu quản lý nhà nước còn bất cập, chưa chặt chẽ nên nhiều vấn đề tiêu cực nảy sinh Các hiện tượng tiêu cực như mạo đăng tài khoản, chiếm dụng trụ sở, chủ doanh nghiệp lợi dụng kẻ hở của pháp luật và những yếu kémtrong công tác quản lý nhà nước về kinh tế để thao túng không phải là cá biệt Có những tổ chức pháp nhân tự ý lập doanh nghiệp trái phép, thậm chí lập ra các doanh nghiệp “ma” Một số doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp nhà nước, sau khi chạy được tư cách pháp nhân hoàn chỉnh thì lại không kinh doanh theo đăng kí pháp nhân,
“vượt rào” trong sản xuất kinh doanh, hoặc thiếu năng động, tự chủ trong hoạch toánkinh tế, tổ chức sản xuất kinh doanh theo kiểu “lãi thì hưởng, lỗ thì nhà nước chịu”.Hoạt dộng sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp do tách rời
sự quản lý của pháp luật hoặc do sự phân định chức năng chưa rõ rang nên có những bước chệch choạng nhất định Việc thực hiện dân chủ về kinh tế trong nội bộ từng doanh nghiệp còn nhiều mặt yếu lớn, bất cập như thiếu công bằng, không bằng phẳng trong ăn chia, nhập nhằng giữa nguyên tắc phân phối lao động với phân phố theo vốn đầu tư nên dẫn đến tình trạng người lao động thiếu quan tâm đến sản xuất kinh doanh, đến sự phát triển và vị thế doanh nghiệp
Việc giải quyết mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và lợi ích xã hội còn nhiều mặt chưa hài hòa chưa thỏa đáng, nên chưa thực sự nâng cao tính tích cực,
tự giác của chế định xã hội kinh tế nhằm xây dựng, bảo vệ tổ quốc nói chung và xây dựng hệ tống chính trị vững mạnh nói riêng trong điều kiện nền kinh tế thị trường.Trở ngại lớn nhất là vấn đề hoạch toán kinh tế, nhất là đối với các doanh nghiệp nhà nước tình trạng “lãi giả, lỗ thật” hoành hành, vì cơ chế tực hiện vẫn còn nhiều điểm chưa hoàn toàn đoạn tuyệt với cơ chế quan liêu bao cấp Hơn nữa, hệ thống văn bản pháp luật trong lĩnh vực này chưa thực sự định hình, nhất là các bộ luật đang hình thành hoặc mới hình thành như luật đầu tư chứng khoán, Luật phá sản, Luật đình công…đang là vấn đề nhạy cảm, chưa được hiểu và chấp hành nhất quán, đầy đủ Đặc biệt, việc đăng kí tư cách pháp nhân và chịu sự kiểm soát của pháp nhân trước
cơ quan nhà nước có thẩm quyền của một số tổ chức kinh tế và doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp nhà nước cũng có sự bất cập, thậm chí coi nhẹ