TẠP CHÍ HÁN NÔM số 1 164 - 2021 NGUYỄN TUẤN CƯỜNG - LƯƠNG THỊ NGỌC THU18 TÂY HỌC TRUYỀN SANG ĐÔNG Á VÀ GIAO LƯU THƯ TỊCH: HÀNH TRÌNH ÂU Á CỦA SÁCH TÂN ĐÍNH QUỐC DÂN ĐỘC BẢN NGUYỄN T
Trang 1TẠP CHÍ HÁN NÔM số 1 (164) - 2021 NGUYỄN TUẤN CƯỜNG - LƯƠNG THỊ NGỌC THU
18
TÂY HỌC TRUYỀN SANG ĐÔNG Á
VÀ GIAO LƯU THƯ TỊCH: HÀNH TRÌNH ÂU Á
CỦA SÁCH TÂN ĐÍNH QUỐC DÂN ĐỘC BẢN
NGUYỄN TUẤN CƯỜNG*
LƯƠNG THỊ NGỌC THU**
Tóm tắt: Bài viết này truy nguồn tác phẩm Tân đính Quốc dân độc bản do trường Đông Kinh
Nghĩa Thục tổ chức in ấn ở Việt Nam năm 1907 Thông qua khảo cứu và đối chiếu với các nguồn
thư tịch Đông Tây, bài viết cho rằng nguồn gốc đầu tiên của tác phẩm trên là cuốn The Citizen Readercủa Arnold-Forster (1855-1909), in lần đầu tại Anh năm 1886 Người Nhật cũng sớm mô phỏng cuốn sách này để biên soạn nhiều cuốn Quốc dân độc bản khác nhau Một trong các bản tiếng Nhật ấy đã ảnh hưởng tới một bản Quốc dân độc bản của Chu Thụ Nhân được xuất bản tại
Trung Quốc năm 1903 Đến lượt mình, bản tiếng Trung Quốc đã ảnh hưởng sang Việt Nam, khiến
sĩ phu Việt Nam đầu thế kỉ XX đã mô phỏng, tiết lược và viết thành cuốn Tân đính Quốc dân độc bản (1907) Vì vậy cuốn sách của Việt Nam đã trải qua ba tầng ảnh hưởng từ Anh, Nhật, Trung,
giúp ta hình dung về quá trình giao lưu thư tịch từ Tây sang Đông và hiện đại hoá tri thức ở thời cận đại Các tác giả của mỗi nước đã tạo nên sự khác biệt cho cuốn sách của mình bằng việc bổ sung tri thức bản quốc, nhưng cho dù thay đổi như thế nào, thì ấn phẩm ở các nước vẫn giữ được cái lõi là tri thức tân học, tri thức phương Tây
Từ khoá: Quốc dân độc bản, Tân đính Quốc dân độc bản, Việt Nam, giao lưu thư tịch, tân thư
Abstract: This paper traces the sources of the Revised Version of the Citizen Reader published
by the Tonkin Free School in Vietnam in 1907 Through research and comparison with bibliographic
sources from East and West, the paper surmises that the originary source of that work is The Citizen Reader by Arnold-Forster (1855-1909), first published in England in 1886 Japanese people soon imitated it to compile different versions of The Citizen Reader One of those Japanese versions has influenced a version of The Citizen Reader by Zhu Shuren published in China in 1903 The Chinese
version in turn spread its influence to Vietnam, causing Vietnamese literati at the beginning of the
twentieth century to imitate, abridge and recompile it into the Revised Version of the Citizen Reader
(1907) The Vietnamese book has therefore experienced three layers of influece from England, Japan and China, which helps us to imagine the process of book exchange from the West to the East and the modernization of knowledge in the late imperial period Though the authors from each country have given their books their distinctiveness through the supplement of local knowledge, regardless of the changes, the publications in the various countries still maintain a core of new learning and Western knowledge
Keywords: The Citizen Reader, Revised Version of the Citizen Reader, Vietnam, book
exchange, new books
1 Tiểu dẫn
Vốn đắm chìm trong truyền thống
Nho học hàng ngàn năm, cho đến những
thập niên cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX,
các nhà nước ở Đông Á phải đối mặt với
mối đe dọa của các đế quốc phương Tây
về các phương diện chính trị, kinh tế và văn hoá Về chính trị và kinh tế là chủ
* PGS.TS., Viện Nghiên cứu Hán Nôm
** ThS., Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Trang 2TÂY HỌC TRUYỀN SANG ĐÔNG Á VÀ GIAO LƯU THƯ TỊCH:…
19
nghĩa thực dân Âu - Mĩ, khai thác thuộc
địa, tìm thị trường mới Về văn hoá là sự
xâm nhập của làn sóng văn hoá Âu - Mĩ,
nền văn minh kĩ thuật, văn minh công
nghiệp, nhu cầu thay đổi giáo dục, bài
trừ Nho giáo, hiện đại hoá ngôn ngữ, tư
tưởng và xã hội Trong quá trình hiện
đại hoá ấy, cần nhìn rõ vai trò quan
trọng của nguồn tri thức mới trong hệ
thống tài liệu, sách vở được du nhập từ
nước ngoài vào các nước thuộc địa,
thông qua hoạt động của giới trí thức
cấp tiến, kể cả hoạt động cá nhân hay
hoạt động có tổ chức Những sách đó
gọi là “Tân thư” phản ánh tri thức “Tân
học”1 đối lập với nền “Cựu học” của
Nho giáo Đối với Việt Nam, trường
Đông Kinh Nghĩa Thục 東 京 義 塾
(1907-1908) cho dù chỉ hoạt động trong
thời gian ngắn, song đã mang lại cho
Việt Nam một luồng gió Duy Tân mới
mẻ, thực hiện khai dân trí, chấn dân khí,
phát dương lòng yêu nước Trường đã
biên soạn một hệ thống tài liệu giảng
dạy với nhiều tri thức mới, chính là các
“Tân thư” phản ánh tri thức “Tân học”
đương thời
Với trường hợp Tân đính Luân lí
giáo khoa thư 新訂倫理教科書 (khắc
năm 1907) của Đông Kinh Nghĩa Thục,
Nguyễn Nam đã chỉ ra rằng, nguồn gốc
của sách này vốn bắt nguồn từ cuốn
Trung học Luân lí thư 中 學 倫 理 書
(Chugaku Rinrisho) in năm 1899 của học
giả Nhật Bản Akiyama Shiro 秋山四郎,
quyển hạ của bộ sách này được Đổng
Thuỵ Xuân 董瑞椿 dịch và in tại Trung
Quốc năm 1903, rồi các chí sĩ Đông Kinh
Nghĩa Thục đã “tân đính” bản dịch tiếng
Trung Quốc để trở thành bộ Tân đính
Luân lí giáo khoa thư (1907).2
Bài viết này xuất phát từ bối cảnh văn hoá - xã hội “Duy Tân” đầu thế kỉ
XX ở Việt Nam, từ nhu cầu tiếp thu tri thức mới qua hệ thống “Tân thư” của giới sĩ phu đương thời, để xem xét nguồn gốc của một bộ sách giáo khoa khác của Đông Kinh Nghĩa Thục, nhan
đề Tân đính Quốc dân độc bản 新訂國
民讀本 khắc in năm 1907, từ đó nhìn nhận về mối quan hệ giao lưu văn hoá
và thư tịch từ phương Tây sang phương Đông và ngay trong nội bộ các nước phương Đông thời cận đại
2 Tân thư và tri thức xuyên lục địa
Tân thư (新書, new books) là sách
mới, trỏ những cuốn sách chứa đựng kiến thức mới, kiến thức tân học (新學, new learning) Tân học là nội dung học
và cách học mới, khác với kiến thức cũ (cựu học) tức cái học của Nho gia truyền thống Chương Thâu cho rằng những kiến thức mới này bao gồm “những tri thức về khoa học tự nhiên và khoa học
xã hội, từ toán, lý, hóa cho đến địa lý, lịch sử, kinh tế, chính trị, triết học mà phần lớn dịch từ sách phương Tây Có khi không phải dịch thẳng từ sách Tây
mà dịch qua tiếng Nhật Có khi chỉ tóm lược lấy cái ý cơ bản, mục đích là giới thiệu “văn minh phương Tây”, nêu lên
mà bắt chước, đổi mới Như vậy, Tân thư gắn liền với tư tưởng cải cách Duy Tân theo xu hướng tư sản phương Tây ở Trung Quốc cuối thế kỉ XIX.”3
Tân thư ở Nhật Bản và Trung Quốc
Tân thư đến từ đâu? Nhịp cầu truyền tải luồng tư tưởng, văn minh phương Tây vào phương Đông chính là Nhật Bản Trong khoảng hai thế kỉ trước thời
Trang 3TẠP CHÍ HÁN NÔM số 1 (164) - 2021 NGUYỄN TUẤN CƯỜNG - LƯƠNG THỊ NGỌC THU
20
Minh Trị Duy Tân, qua ngả đường Lan
học (蘭学, Rangaku, Hà Lan học, trỏ
chung Âu học), Nhật Bản đã phiên dịch
được nhiều sách của châu Âu ra tiếng
Nhật Số liệu thống kê cho biết, trong
giai đoạn 1706-1852, người Nhật đã
dịch 113 sách tiếng Đức, 30 sách tiếng
Latin, 30 sách tiếng Pháp, 20 sách tiếng
Anh và 20 sách tiếng Hà Lan sang tiếng
Nhật, tổng cộng 213 cuốn4 Sang thời
Minh Trị, Nhật hoàng đã thi hành một
loạt các cuộc cải cách trên mô hình các
nước phương Tây, mong muốn tiếp thu
một cách nhanh nhất tri thức và kĩ thuật
của phương Tây Các nhà cải cách lúc
bấy giờ chủ trương phải tách Nhật Bản
ra khỏi khối ảnh hưởng của Trung Quốc
để có thể đứng vào hàng ngũ và cùng
tranh đua với các nước phương Tây, có
như thế Nhật Bản mới có thể tồn tại một
cách độc lập, có thể vượt ra khỏi khuôn
khổ tư tưởng Nho giáo để hiện đại hóa
Nhằm thực hiện chủ trương trên, một
mặt chính phủ Nhật Bản tích cực mời
chuyên gia Âu - Mĩ từ nhiều ngành sang
Nhật để giảng dạy và hướng dẫn cho
người Nhật Mặt khác, họ cử một số
lượng khá lớn sinh viên sang các nước
Âu - Mĩ để học không những kĩ thuật mà
còn cách làm việc, cách tư duy của
người phương Tây, với mục đích là khi
trở về Nhật, họ sẽ thành những người trụ
cột cho công cuộc cải cách.5
Phong trào dịch thuật giới thiệu tư
tưởng văn minh phương Tây, được
chính phủ Minh Trị đặt ưu tiên hàng đầu
Ấn phẩm từ phương Tây nói chung có
thể chia thành hai loại: (1) Sách về khoa
học kĩ thuật, đặc biệt là sách về quân sự
và công nghiệp; (2) Sách nói về cơ chế
xã hội, chính trị, kinh tế, cùng những vấn đề tinh thần và giá trị căn bản của văn minh phương Tây như tinh thần khoa học, tính tự lập6 Số liệu thống kê cho biết, “số lượng đầu sách khoa học
xã hội được dịch là 633 cuốn (tính đến năm 1887) và sách văn học là 120 cuốn (tính đến năm 1890), trong đó chủ yếu là sách tiếng Anh và tiếng Pháp Thuộc vào các nhóm sách khoa học xã hội là những sách về kinh tế, chính trị, luật pháp, thống kê Đây là những cuốn sách
giáo khoa tri thức đầu tiên của Nhật Bản
về cơ chế chính trị, xã hội của phương Tây Hầu hết những sách quan trọng được xuất bản ở Anh lúc bấy giờ đều được dịch ra tiếng Nhật”7
Dịch giả là những người thuộc giai cấp shizoku (士
族, sĩ tộc), tức là những người thuộc tầng lớp trung lưu trong xã hội Nhật Bản đương thời Phong trào dịch thuật sách phương Tây cùng những trước tác bản địa nửa đầu thời Minh Trị (1868-1889)
đã có vai trò tích cực trong việc đẩy nhanh tiến trình canh tân Nhật Bản thành một nước phú cường cả về tư tưởng và vật chất
Lịch sử giao lưu thư tịch giữa Trung Quốc và Nhật Bản đã diễn ra từ rất sớm, với lượng thư tịch phong phú, có tính hai chiều từ Trung sang Nhật và từ Nhật sang Trung8
Đến cuối thế kỉ XIX, làn sóng dịch Tân thư từ Nhật Bản lan dần sang Trung Quốc “Phong trào dịch thuật sách tiếng Nhật sang tiếng Tàu đạt điểm cao trong khoảng thời gian từ 1902 đến
1907, mỗi năm trung bình có hơn 50 cuốn sách dịch được xuất bản (năm 1903 đạt kỷ lục với 200 cuốn) Sách dịch từ tiếng Nhật gồm đủ loại, từ triết học, khoa
Trang 4TÂY HỌC TRUYỀN SANG ĐÔNG Á VÀ GIAO LƯU THƯ TỊCH:…
21
học xã hội, cho đến khoa học tự nhiên
Theo cuốn Chuyaku Nichibun Shomoku
[中譯日文書目] (Thư mục sách tiếng
Nhật dịch sang tiếng Trung Quốc) của
học giả Saneto Keishu [實藤惠秀], có
đến 2600 cuốn sách dịch từ tiếng Nhật
sang tiếng Tàu được xuất bản từ năm
1896 đến 1945.”9
Việt Nam bấy giờ cũng không nằm
ngoài làn sóng Tân thư ấy Mặc dù ở Việt
Nam vào đầu thế kỉ XX không có phong
trào dịch Tân thư từ ngoại ngữ sang bản
ngữ (tiếng Việt) như ở Nhật Bản và
Trung Quốc, nhưng các chí sĩ Việt Nam
khi ấy đã tích cực tiếp nhận và truyền bá
Tân thư bằng cách mua sách ở nước
ngoài, khắc in lại tại Việt Nam để nhân
bản lưu truyền rộng rãi Tân thư ở Việt
Nam là hiện thân của dân chủ, dân quyền,
độc lập, tự do và văn minh Đông Kinh
Nghĩa Thục trở thành trung tâm giáo dục
mới theo tôn chỉ của Tân thư, với chương
trình canh tân táo bạo của vị Giám học
Nguyễn Quyền: “Mở tân giới, xoay nghề
tân học; Đón tân trào dựng cuộc tân dân;
Tân thư, tân báo, tân văn ”11
Có thể nói Đông Kinh Nghĩa Thục
đã mở màn cho phong trào phổ biến
những khái niệm mới, tư tưởng mới qua
các tài liệu của Đông Kinh Nghĩa Thục
chịu ảnh hưởng của Tân thư như: Văn
minh tân học sách 文明新學策, Tân đính
Quốc dân độc bản 新訂國民讀本, Quốc
văn giáo khoa thư 國文教科書, Tân đính
Luân lí giáo khoa thư 新訂倫理教科書
Tân thư đã tạo ra bước ngoặt trong nhận
thức và hành động của các chí sĩ Việt
Nam Phan Châu Trinh cho rằng những
giá trị văn minh phương Tây “như trận gió mát thấu vào trong óc thổi sạch những đám mây mù che đậy thuở nay”12 Phan Bội Châu cũng nói: “Lúc tôi còn ở
trong nước, đã được đọc những sách Mậu
Tuất chính biến [戊戌政變], Tân dân tùng báo [新民叢報], Trung Quốc hồn
[中國魂] đều do ông Lương Khải Siêu thảo ra, tôi rất lấy làm hâm mộ”13 Tân thư không chỉ ảnh hưởng lớn tới thế hệ trưởng thành vào thập niên 1900 như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, mà mãi cho đến khoảng hơn hai mươi năm sau, đối với thế hệ 1920, dấu ấn của Tân thư ở Việt Nam vẫn còn đậm nét.14
3 Tân đính Quốc dân độc bản
(1907) của Việt Nam và vấn đề truy nguồn văn bản
Trong các Tân thư của Đông Kinh Nghĩa Thục, chúng tôi chú ý đến bộ
sách Hán văn nhan đề Tân đính Quốc
dân độc bản 新訂國民讀本 (sau đây gọi
tắt là Tân đính) Sách không đề tên tác
giả, do Đông Kinh Nghĩa Thục khắc in mộc bản và ấn hành năm 1907 Cuốn sách gồm 2 tập, tập I có 49 tờ, tập II có
50 tờ, mỗi tờ gồm 2 trang sách theo lối sách in ván khắc gỗ Ấn phẩm đã từng được phát hành với số lượng rất lớn, trải qua bao cơn binh lửa và thời gian nên đã thất thoát phần lớn, nhưng hiện còn lưu giữ được ở ba nơi: Viện Nghiên cứu Hán Nôm (VNCHN) kí hiệu A.174; Trung tâm Lưu trữ quốc gia I (trong Hồ
sơ số 56.247, Phông Thống sứ Bắc Kỳ);
và Trung tâm Lưu trữ hải ngoại của Pháp ở Aix-en-Provence (trong Hồ sơ số SPCE/351) Các bộ sách giấy này đều được in ra từ cùng một bộ ván khắc gỗ
Trang 5TẠP CHÍ HÁN NÔM số 1 (164) - 2021 NGUYỄN TUẤN CƯỜNG - LƯƠNG THỊ NGỌC THU
22
năm 1907 nên chúng có hình thức và nội
dung tương tự nhau Vì vậy, trong bài
viết này, chúng tôi sử dụng bản sách đại
diện là bản kí hiệu A.174 của VNCHN
Đây là bản in khắc gỗ 190 trang, khổ
26x15cm, gồm 2 quyển Thượng và Hạ,
có phần Đại ý biên tập và Mục lục Toàn
sách có 79 mục nội dung được phân loại
thành từng phần, có tiêu đề riêng Toàn
văn Tân đính đã được dịch ra tiếng Việt,
xuất bản ở Việt Nam kèm theo ảnh ấn
nguyên bản Hán văn.15
Đọc lại bộ sách này trong bối cảnh
Đông Á đầu thế kỉ XX, chúng tôi bị thôi
thúc đi tìm xuất xứ của những tri thức
trong sách Xét về nguồn gốc quốc gia
từ phần nội dung thấy rằng sách có bốn
mảng tri thức: (1) Tri thức thuộc về văn
minh phương Tây, như: mục 68 Tư bản
資本, mục 79 Công ti 公司, mục 76
Ngân hàng 銀行, mục 77 Trái phiếu, hối
phiếu và chiết khấu ngân hàng 欠票匯
[Tân đính Luân lí giáo khoa thư]” (tr
131) tác giả “Tân đính” từ nguồn nào?
“Tân đính” điều gì? Có phải bắt nguồn
từ Nhật Bản, sang Trung Quốc, rồi sang Việt Nam, như con đường lưu truyền
cuốn Tân đính Luân lí giáo khoa thư
(1907) mà Nguyễn Nam đã chỉ ra? Sau một thời gian kiếm tìm trong các nguồn thư tịch Đông Tây, chúng tôi
đã có thể tạm phác họa con đường truyền bá của bộ sách này Để nói cho
gọn thì Tân đính Quốc dân độc bản
(1907) của Đông Kinh Nghĩa Thục Việt
Nam được “tân đính” dựa trên cuốn
Quốc dân độc bản (1903) của Chu Thụ
Nhân 朱樹人 ở Trung Quốc; Chu Thụ Nhân có thể dựa trên một tác phẩm của Nhật Bản nào đó (hoặc dựa trên chính bản tiếng Anh); rồi đến lượt tác phẩm của Nhật Bản ấy lại được phiên dịch và
viết lại từ tác phẩm nguyên gốc là The
Citizen Reader (Tài liệu đọc cho người dân, 1886) của Arnold-Forster xuất bản
ở Anh Như vậy, con đường lưu truyền
Trang 6TÂY HỌC TRUYỀN SANG ĐÔNG Á VÀ GIAO LƯU THƯ TỊCH:…
23
và “bản địa hoá” về nội dung, “bản ngữ
hoá” về ngôn ngữ của tác phẩm này đi
từ Anh sang Nhật, rồi sang Trung Quốc,
cuối cùng là đến Việt Nam
Phần dưới đây sẽ trình bày lần lượt
các văn bản, kèm theo phân tích và so
sánh tài liệu, trong phạm vi bài viết này
chúng tôi thực hiện chủ yếu trên cơ sở
mục lục của các bản, có so sánh nội
dung câu chữ một số phần
4 Anh quốc: The Citizen Reader
của Arnold-Forster (1886)
The Citizen Reader do Hugh Oakeley
Arnold-Forster (1855-1909) viết, xuất
bản lần đầu năm 1886, có Lời tựa viết
năm 1885 của William Edward Forster
(1818-1886) - một chính khách, nhà tư
bản công nghiệp, nhà giáo dục nổi tiếng
đương thời ở Anh Sách do công ti
Cassell xuất bản và tái bản, công ti có
văn phòng ở London, Paris, New York
và Melbourne Chúng tôi được tiếp cận
bản điện tử trên trang mạng hathitrust
org vốn được số hoá từ bản lưu tại Thư
viện Công New York, in năm 190416
và một bản số hoá khác trên website
archive.org vốn được số hoá từ Thư viện
Đại học Alberta, Canada.17
Trong bản in năm 1904, tại trang 2
cho biết: “bản đầu tiên được in vào tháng
1 năm 1886 Chỉ trong vòng 1 năm sau
đó, tính đến tháng 1/1887, cuốn sách đã
được tái bản 6 lần Sách liên tục được tu
đính (revised) nhiều lần vào các năm
1887, 1894, 1898, 1904 Đến năm 1898,
trong vòng 12 năm, đã bán được 310.000
- một con số khổng lồ, một “best seller”
(sách bán chạy) đương thời”
The Citizen Reader tạo nên cơn sốt
không chỉ trong phạm vi liệt cường Âu -
Mĩ, mà với vai trò mở mang văn minh, giáo dục dân trí, ấn phẩm đã vượt đại dương sang các nước Đông Á, đầu tiên là
Nhật Bản Trong phần Lời nói đầu cho
ấn bản thứ 260.000 (Preface to the 260 th Thousand) có đoạn viết: “Ấn bản ở
Scotland của The Citizen Reader đã qua
ba phiên bản (editions), và thật thú vị với những ai đã sử dụng cuốn sách này khi biết rằng Cơ quan Giáo dục Nhật Bản, sau khi đã mua một lượng lớn các bản
The Citizen Reader trong hai năm liên
tiếp, giờ đã nghiễm nhiên thông qua việc
sử dụng rộng rãi ở các trường học Nhật Bản Một phiên bản sao chính xác của
The Citizen Reader, trong đó chữ, minh
hoạ, khuôn in màu và bìa được sao lại với độ chính xác đáng ngạc nhiên, đã
được xuất bản tại Tokyo (The Citizen
Reader (1904), p 4)
Phần Lời nói đầu này không cho biết
nó được viết năm nào Tuy nhiên, cùng
trang ghi Lời nói đầu cho ấn bản thứ
260.000 ấy lại có phần Lời nói đầu cho
ấn bản thứ 310.000, 1898, chứng tỏ Lời nói đầu cho ấn bản thứ 260.000 phải
được viết trước năm 1898 Ở trang 2 có ghi rằng “Ấn bản Scotland” của sách này được xuất bản lần đầu tháng 3 năm
1892, tái bản năm 1893, sửa chữa năm
1894, tái bản năm 1895, 1899 Từ đó
chúng tôi đi đến kết luận: (1) The
Citizen Reader đã sang Nhật Bản từ sớm,
đã được Cơ quan Giáo dục Nhật Bản mua lại, cho phép sử dụng rộng rãi ở các trường học Nhật Bản; (2) Cuốn sách đã
Trang 7TẠP CHÍ HÁN NÔM số 1 (164) - 2021 NGUYỄN TUẤN CƯỜNG - LƯƠNG THỊ NGỌC THU
24
được sao in tại Tokyo và phát hành hàng
loạt từ trước năm 1898
Ấn phẩm The Citizen Reader, có cả
thảy 22 chương, tại chương thứ 18 đề
cập đến vấn đề giáo dục, với phương
châm “Kính sợ Chúa là khởi nguồn của
trí tuệ Tri thức là sức mạnh” (The fear
of the Lord is the beginning of wisdom
Knowledge is power) Tại đây,
Arnold-Forster, đã đưa ra 3 lý do để thuyết phục
thanh niên nam nữ tới trường:
“Ba lý do tới trường: 10 Bây giờ tôi
đã cho bạn biết lý do tại sao bạn nên vui
mừng được đến trường để học hỏi tất cả
khi bạn đang ở đó 11 Điểm thứ nhất,
học càng nhiều thì bạn càng thưởng thức
tất cả những cuốn sách tuyệt vời đã
được viết ra và bạn càng hiểu rõ hơn
công việc nhiệm mầu của thiên nhiên,
bạn càng có thể tận dụng các kho báu
thiên phú trên đời 12 Điểm thứ hai, bạn
nên vui mừng được đến trường bởi qua
việc luyện tập tâm trí của mình và học
hỏi những kiến thức về lịch sử, địa lý,
khoa học, bạn sẽ có khả năng tốt hơn để
phục vụ đất nước của mình và trở thành
một công dân tốt 13 Và, điểm cuối
cùng bạn nên vui mừng đến trường bởi
chỉ nhờ sự giáo dục mà ở đó bạn mới có
thể hy vọng tấn tới trong nghề nghiệp
của mình, dù là công việc gì và tránh bị
tụt hậu, lạc hậu bởi những người lao
động thông minh, nhanh tay hơn từ
những quốc gia khác” (The Citizen
Reader (1904), p 189-190)
Nhìn chung, giáo dục là chủ đề
xuyên suốt ấn phẩm Nội dung cũng như
giá trị của The Citizen Reader được thể
hiện qua Lời tựa (Preface) viết năm 1885
của W.E.Forster, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng giáo dục Anh: “Theo tôi cuốn
The Citizen Reader này dường như là
một nỗ lực thành công để lấp đầy lỗ hổng trong hệ thống sách giáo khoa học đường, mà tôi lấy làm ngạc nhiên rằng chưa ai lấp Không còn nghi ngờ gì nữa, tuyệt đại đa số trẻ em đến trường sẽ có trách nhiệm công cũng như tư để thực hiện, bằng hành động trực tiếp đối với các cậu bé trong hầu hết các trường hợp, còn các bé gái bằng những tác động gián tiếp nhưng lại có ảnh hưởng mạnh mẽ Chúng được kêu gọi không chỉ để sống ngay thẳng và làm những gì theo đúng khả năng để giúp đỡ những người mang ràng buộc gia đình, mà còn để phục vụ đất nước với tư cách là những công dân yêu nước Và việc đáp ứng những nghĩa
vụ này sẽ được hỗ trợ rất nhiều bởi chút kiến thức về các thể chế của đất nước
các em” (The Citizen Reader (1904), p 3)
Không còn nghi ngờ gì về mục đích của cuốn sách, đấy là câu trả lời cho câu
hỏi vì sao The Citizen Reader lại có sức
mạnh đến vậy Lý giải thêm điều này chúng tôi cho rằng: (1) Giá trị nội dung sách tác động trúng tâm lý thanh thiếu niên mong muốn khám phá, tìm hiểu tri thức văn hóa và khoa học của các cường quốc, để học hỏi và tự cường (2) Mục đích truyền bá văn hóa và nhu cầu tiếp thu văn hoá, văn minh từ các cường quốc phương Tây tới các nước thực dân
ở Đông Á Chính vì thế, The Citizen
Reader đã tạo nên sức hút và truyền bá
ra nhiều nước trên thế giới
Trang 8TÂY HỌC TRUYỀN SANG ĐÔNG Á VÀ GIAO LƯU THƯ TỊCH:…
25
5 Nhật Bản: 3 bộ Quốc dân độc
bản thời cận đại (1887, 1890, 1910)
Phần về tư liệu phía Nhật, chúng tôi
tìm được một số đầu sách mang tên
Quốc dân độc bản lưu giữ tại Thư viện
Quốc hội Nhật Bản (国立国会圖書館)
Nếu lấy mốc thời gian xuất bản năm
1907 bản Tân đính của Việt Nam tham
chiếu, chúng tôi hiện tìm được 3 bộ sách
Nhật trùng tên, trong đó 2 bản có niên đại
trước bản Việt Nam (1887, 1890) và 1 bản
có niên đại muộn hơn chút ít (1910)
5.1 Quốc dân độc bản của Ida
Hideo (1887)
Hiện chúng tôi chưa tìm được nhiều
thông tin về tác giả Ida Hideo (井田秀
生, ?-?) Thông tin từ Thư viện Quốc hội
Nhật Bản cho biết ông là tác giả của một
số ấn phẩm như: Hoàng quốc tiểu văn
điển 皇国小文典 (1894), Tiểu học cao
đẳng tân độc bản 小 学 高 等 新 讀 本
(1887), Thư đạo thủ dẫn 書 道 手 引
(1909) Tác phẩm của ông thiên về lĩnh
vực nghệ thuật và giáo dục ngữ văn,
trong đó có ấn phẩm Quốc dân độc bản
Phần cuối sách này viết một thông tin
ngắn gọn về tác giả: “Tác giả: Sĩ tộc ở
tỉnh Aichi là Ida Hideo, số 10, khu
Kyobashi, phố Inaba, Tokyo” (著者・
愛知縣士族・井田秀生・東京々橋区
Quốc dân độc bản 国民讀本, của Ida
Hideo gồm 4 tập, Nhà xuất bản Makino
Zenbee (牧野善兵衛等) xuất bản năm
1887, ấn phẩm thuộc nhóm sách giáo
khoa dạy Quốc ngữ (tiếng Nhật) cho học
sinh tiểu học Từ bảng chữ cái Kana (假名)
trong tiếng Nhật, Ida Hideo dùng những
hình ảnh minh họa sinh động, để diễn giải từng âm tiết trong bảng chữ cái tiếng Nhật Mỗi chữ Kana được tác giả lồng ghép vào từng từ vựng và hệ thống chữ Hán, giúp học sinh tiểu học dễ học, dễ nhớ cùng tạo
ra một vốn từ vựng phong phú Những từ vựng này thuộc nhiều lĩnh vực khoa học
và ngôn ngữ Trong phần lời tựa tác giả viết: “Cuốn sách này được sử dụng với
tư cách là sách giáo khoa của trường tiểu học công, ngoài ra, sách còn đang được đưa vào sử dụng thành sách giáo khoa phổ thông Phần đầu, sách ghi chép những sự việc đơn giản, càng đọc phần sau sẽ dần trở nên khó hơn Điều này là
để người học không mỏi mệt, lười biếng trong học tập và để đánh giá đúng năng lực học tập của học sinh Mỗi một âm, một từ hay một cụm từ sử dụng thể thức văn ngôn và khẩu ngữ, vận dụng từ ngữ mang tính thực tế và dễ hiểu để không bị chỉ trích là sáo rỗng, chỉ là cái vỏ bề ngoài.” (Ida Hideo,『国民讀本』, 1887,
凡例)
Như vậy, cả 4 tập sách Quốc dân độc
bản của Ida Hideo “không phải là sách chỉ
chứa đựng những tri thức” như cuối lời tựa tác giả cho biết Sách dùng dạy Nhật ngữ cho học sinh tiểu học học chữ Kana (bảng chữ cái tiếng Nhật) Ấn phẩm là sách giáo khoa về ngữ âm, dạy Quốc ngữ cho học sinh tiểu học Nhật Bản, là phương tiện học hành nâng cao dân trí
Quốc dân độc bản của Ida Hideo không
liên quan về các phạm trù tri thức với ấn
phẩm của Anh quốc mang tựa đề The
Citizen Reader (tức trùng tên Quốc dân độc bản khi dịch ra tiếng Nhật) kể trên
Trang 9TẠP CHÍ HÁN NÔM số 1 (164) - 2021 NGUYỄN TUẤN CƯỜNG - LƯƠNG THỊ NGỌC THU
26
5.2 Quốc dân độc bản của Koga
Senzaburo (1890)
Qua tra cứu từ Thư viện Quốc hội
Nhật Bản, chúng tôi được biết Koga
Senzaburo (高賀詵三郎, ?-?) là tác giả
của 35 cuốn sách, trong đó có những ấn
phẩm nổi tiếng ở Nhật Bản như: Nghiên
cứu phụ nữ hiện đại 現代婦人の研究
(1916), Quân nhân sắc dụ tiệp giải 軍人
lịch sử, khoa học xã hội và ngôn ngữ
Quốc dân độc bản là một trong số ấn
phẩm của ông Phần cuối ấn phẩm này
có ghi thông tin về tác giả: “Người biên
tập: Sĩ tộc ở tỉnh Niigata là Koga
Senzaburo, lưu trú ở cụm số 10, khu phố
2, phố Iida, quận Kojimachi, Tokyo”(編
輯者・新潟縣士族・高賀詵三郎・東
京麹町区飯田町二丁目十番地)
Quốc dân độc bản của Koga Senzaburo
do nhà xuất bản Keigyo (敬業社) xuất
bản năm 1890 Ấn phẩm này thuộc loại
sách giáo dục tri thức Vào thời điểm
những thập niên cuối thế kỉ XIX, hệ
thống giáo dục hiện đại ở Nhật Bản
đang phát triển, được đưa ra thảo luận
trên tinh thần cơ bản của giáo dục quốc
dân Các nhà giáo dục và các nhà khải
mông khi ấy, trong đó phải kể tới Thủ
tướng Ito Hirobumi ( 伊 藤 博 文
,1841-1909), tỏ ra lo ngại về trào lưu chủ nghĩa
Âu hóa cực đoan Họ cùng đưa ra những
bình luận khác nhau về việc xây dựng
lại đạo đức Nhật Bản, kết hợp các
nguyên tắc khoa học chính xác của phương Tây, đồng thời lấy Nho giáo truyền thống làm căn bản Có nhận định cho rằng gốc rễ của quốc gia phải nằm ở đạo đức của người dân, hơn cả pháp luật hay
hệ thống Hình ảnh của quốc dân được
thể hiện trong Sắc chỉ giáo dục (教育勅
語 Kyoiku Chokugo), sắc chỉ được biết đến như “thánh chỉ” của thiên hoàng Minh Trị, ban bố năm 1890 Sắc chỉ chứa đựng thông điệp giáo dục đạo đức mang màu sắc Nho giáo, như: người dân phải siêng năng, cần kiệm, dũng cảm, kiên nhẫn, đức tin, mạnh dạn, ái quốc, tôn kính thiên hoàng.18
Quốc dân độc bản của Koga Senzaburo,
được biên tập không nằm ngoài trào lưu giáo dục khi đó Ấn phẩm thuộc loại sách giáo khoa giáo dục tri thức mới cuối thế kỉ XIX Nội dung ấn phẩm trải rộng trên các chuyên mục tri thức biệt lập, như: nguồn gốc và định nghĩa về nhà nước (国ノ定義及起原), tư cách quốc gia (国ノ資格), thể chế chính trị (政治ノ体裁), mục đích chính trị (政治ノ目的), pháp luật (法律), hiến pháp (憲法), hình pháp (刑法), nhân quyền (人權), thuế khóa (租稅), binh dịch (兵
役), lòng yêu nước ( 愛 国 ノ 情 ), nền móng của quốc gia (国体ノ基本), các loại chế độ gia đình (族制ノ種類), tình vua tôi (君臣ノ情), quan hệ tôn giáo với thiên hoàng (君主ト宗教ノ關係), quan chế (官制)
Về ấn phẩm Quốc dân độc bản của
Koga Senzaburo, Nishimura Shigeki 西村茂樹19 người đề tựa đầu tiên cho ấn phẩm này đã viết: “Người xưa dạy, thợ thuyền muốn làm tốt công việc của mình
Trang 10TÂY HỌC TRUYỀN SANG ĐÔNG Á VÀ GIAO LƯU THƯ TỊCH:…
27
trước tiên phải mài sắc công cụ Gần đây,
các nhà giáo dục chỉ biết lựa chọn
phương pháp mà chưa biết chọn sách tốt,
ta cho rằng như thế là chưa được! Thế
nhưng sách tốt đâu phải dễ kiếm? Người
có học lực kém cỏi không thể viết được
sách hay, người có ít kinh nghiệm không
thể viết được sách hay Ngoài hai sở
đoản trên, thiên hạ còn được mấy người!
Tuy thế, người nhiệt tình theo việc viết
sách, tuy học lực kinh nghiệm có hơi
yếu một chút, song vẫn có thể viết được
sách giúp ích cho giáo dục Về sau ông
Koga người ở Echigo viết sách Quốc
dân độc bản đến xin viết cho lời tựa Tôi
đọc hết một lượt, thấy hầu hết dùng chế
độ pháp luật hiện hành đặt tên cho từng
bài, hẳn tác giả muốn quốc dân phải biết
quốc pháp trước, từ đó mà sinh lòng
trung quân ái quốc, ý muốn của tác giả
rất hay mà cách biên soạn cũng thực phù
hợp Nếu biết tuyển chọn để bổ sung cho
sách giáo khoa, thì việc rèn giũa đạo đức
cho quốc dân ắt sẽ khả quan Tuy thế
dùng sách giống hệt như dùng đồ vật
Thợ giỏi có thể chữa dao cùn thành dao
sắc, thợ vụng thì ngược lại Ta chỉ mong
các nhà giáo dục ở đời đừng xem sách
này là loại dao cùn! Tháng 11 năm Minh
Trị thứ 22 (1889)” (Koga Senzaburo,
『国民讀本』1890, tr 1-2)
Lời tựa thứ hai của ấn phẩm, Saburi
Kinzou 佐分利金藏 - người bạn thân của
tác giả Koga Senzaburo, viết như sau:
“Trước đây, tôi có nghe rằng ở những
trường tiểu học tại các đất nước theo đạo
Phật có thêm một môn học nhằm giúp
hiểu thêm về quốc dân, hay như ở Mỹ có
phát sách đọc chính trị Vì vậy, điều
đương nhiên với đất nước chúng ta là phải lý giải đầy đủ và lựa chọn thể chế quốc gia; ngay từ khi còn nhỏ cần hiểu được các khái niệm về Hoàng thất, quốc thể, chính phủ, quốc hội, quân dịch, hệ thống thuế ; cần củng cố vững chắc tinh thần kính trọng Hoàng gia và tin tưởng vào chính phủ” (Koga Senzaburo,
“trung quân ái quốc”, dựa trên việc thi hành chính sách “tam giáo”: trí - thể - đức
5.3 Quốc dân độc bản của Okuma
Shigenobu (1910)
Okuma Shigenobu (大隈重信, 1922) là một Samurai, một chính trị gia nổi tiếng và là một nhà giáo dục ở Nhật Bản Ông từng giữ nhiều trọng trách trong Chính phủ Minh Trị, có khi làm đến chức Thủ tướng, đồng thời là người
1838-có cống hiến cho giáo dục với vai trò của
Trang 11TẠP CHÍ HÁN NÔM số 1 (164) - 2021 NGUYỄN TUẤN CƯỜNG - LƯƠNG THỊ NGỌC THU
28
người sáng lập ra Đại học Waseda, cho
đến nay vẫn là một trong những trường
đại học tư thục danh tiếng hàng đầu của
Nhật Bản
Vào tháng 3 năm Minh Trị thứ 43
(1910), Okuma cho xuất bản ấn phẩm
Quốc dân độc bản Với mục đích cho
rằng: trình độ giáo dục thanh thiếu niên
trên toàn nước Nhật đang ở mức thấp,
người ta không biết nhiều về cái gọi là
chính trị Okuma nghĩ đến việc cần thiết
phải cung cấp những tri thức cơ bản
tương đối dễ hiểu cho quốc dân Ấn
phẩm của ông được viết tối thiểu trên
tinh thần và thái độ của một người Nhật
có khí chất Do vậy, nó từng là cuốn
sách bán chạy nhất ở Nhật Bản Ở phần
cuối ấn phẩm ông viết: “Chúng ta muốn
trở nên chí thành Chúng ta muốn công
lý, trở thành người nhân ái Chúng ta
không thể có ý chí cứng rắn, nếu không
có một tinh thần chịu đựng và đức hi
sinh lớn hơn”20 Đó là mục đích giáo
dục cao nhất Okuma theo đuổi
Nội dung ấn phẩm của Okuma trải
rộng trên nhiều mảng tri thức: nguồn
gốc, tư tính quốc dân, giáo dục, nhân
cách, ái quốc, trách nhiệm nghĩa vụ và
quyền lợi của quốc dân, hành chính
pháp quyền, pháp luật, tòa án, hình phạt,
cảnh sát, tô thuế, quân đội, binh dịch,
chấn hưng công nghiệp, ngân hàng, tiền
tệ Cuốn sách được viết dựa trên việc
tiếp thu những tri thức Âu học trong
cuốn The Citizen Reader, kết hợp với
những tri thức Nhật Bản mà Okuma đã
trải nghiệm trong cuộc đời làm chính trị
gia, đồng thời nắm bắt sâu rộng tình
hình thực tế của xã hội Nhật Bản và tình hình chính trị - xã hội quốc tế khi đó, cùng nhận thức sâu sắc của ông về con người, về các giai tầng trong xã hội, đặc biệt là lớp thanh thiếu niên
Lí do chúng tôi đưa ấn phẩm của Okuma bàn trong bài viết này là bởi, ấn phẩm của Okuma ra đời năm 1910, sau
bản Tân đính của Việt Nam (1907)
không lâu Đặc biệt hơn, Okuma được nhắc nhiều trong các ấn phẩm xuất bản ở Việt Nam, khi bàn đến phong trào Đông
Du đầu thế kỉ XX Ở trên chúng tôi cũng
đã đề cập tới cuộc gặp giữa Inukai Tsuyoshi và Okuma với nhóm sĩ phu Phan Bội Châu năm 1905 Trong cuộc đời làm chính trị gia của mình, Okuma đã biên soạn, đồng biên soạn, dịch thuật, chủ biên hàng chục cuốn sách, tạp chí các loại, chủ yếu liên quan đến bàn luận về kinh tế chính trị, xã hội trong nước và thế giới, luận bàn về giáo dục quốc dân, thanh thiếu niên Do đó, chúng tôi phỏng đoán rằng, giữa Okuma và nhóm
sĩ phu Việt Nam, sĩ phu Trung Quốc đã gặp nhau tại Tokyo khi đó, phải chăng đã
có những cuộc trao đổi về đường hướng giáo dục quốc dân nhằm nâng cao dân trí, cùng vạch ra phương hướng xây dựng, phát triển giáo dục quốc dân trên điều kiện nguồn lực và hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia? Vậy nên, nội dung trong
ấn phẩm phía Việt Nam, Trung Quốc và
ấn phẩm này có nhiều mối tương quan về mảng tri thức mà tác giả các bên bàn tới, tuy về mốc thời gian ấn phẩm của Okuma xuất hiện sau đó ít lâu