“Chấn hưng Khổng giáo và phát triển văn hoá cổ truyền” – những lời được chọn dùng trong nhan đề bài viết này ‑ là lời trích từ dòng tuyên Do hạn chế trong khuôn khổ một bài tham luận hội
Trang 1“Chấn hưng Khổng giáo và phát triển văn hoá cổ truyền”:
Quá trình thành lập và cơ cấu tổ chức của Hội Cổ học Việt Nam
Trang 2Berkeley (Hoa Kì);1 6 số còn lại đều là tài liệu sưu tầm của cá nhân tác giả. Hiện chưa tìm thấy tập san này trong các thư viện tại Việt
Nam. “Chấn hưng Khổng giáo và phát triển văn
hoá cổ truyền” – những lời được chọn dùng trong
nhan đề bài viết này ‑ là lời trích từ dòng tuyên
Do hạn chế trong khuôn khổ một bài tham luận hội thảo khoa học, bài viết này
tự khuôn phạm vi bàn luận trong các vấn đề quá trình thành lập và cơ cấu tổ chức của Hội Cổ học Việt Nam. Các hoạt động văn hoá Nho giáo cụ thể của Hội sẽ được lần lượt trình bày trong các bài viết sau.
1. Thành lập
Hội Cổ học Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 831‑NĐ/CP ngày 28/4/1954 của Phủ Thủ hiến Trung Việt trong thời kì Quốc gia Việt Nam của Quốc trưởng Bảo Đại.5 Ban đầu Hội chỉ được phép hoạt động tại miền Trung, tập trung ở Huế, về sau được phép hoạt động trong toàn quốc theo Nghị định số 471‑BNV/NA/P5 ngày 27/8/1958 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lâm Lễ Trinh dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm. Điều thứ nhất của Nghị định viết:
“Hội Việt‑Nam Cổ‑học, Trụ‑sở đặt tại Di‑Luân‑đường, Kinh‑Thành Huế, được phép hoạt động trong Toàn‑Quốc đúng với bản Điều‑lệ được duyệt‑y, đính theo Nghị‑định nầy, và trong phạm‑vị [vi] của Dụ số 10 ngày 9‑8‑1950 ấn định quy‑chế các Hiệp‑Hội” 6
Như vậy, việc vận động thành lập Hội được thực hiện trong thời kì Quốc gia Việt Nam (État du Viet Nam, 1949‑1955), trước khi Ngô Đình Diệm về nước để chính thức nhậm chức Thủ tướng vào giữa năm 1954 tại Saigon, sau khi được Quốc trưởng
Trang 3Bảo Đại bổ nhiệm gần một tháng trước đó tại Paris. Sau khi lên làm Tổng thống từ ngày 26/10/1955, Ngô Đình Diệm và chính quyền cộng hoà vừa ra đời đã ưu ái cho phép Hội hoạt động trên phạm vi toàn quốc, thậm chí Tổng thống còn nhận lời mời của Hội làm Hội trưởng danh dự từ năm 1956: Công văn số 589‑TTP/ĐL ngày 16/5/1956 của Đổng lí Văn phòng Phủ Tổng thống Quách Tòng Đức viết:
“Tổng‑Thống chấp‑thuận làm danh‑dự Hội‑Trưởng Quý Hội và ủy cho tôi chuyển đến Quý Hội‑Trưởng cùng toàn thể Quý Hội‑viên lời cảm ơn của Tổng‑Thống về nhã ý của Quý Hội” 7
Theo tác giả La Hoài (Cố vấn của Hội Cổ học), lễ thành lập Hội Cổ học được cử hành ngày 13/1/1955 ở Huế, có hơn 150 người thuộc nhiều giới chức hưởng ứng gia nhập Hội, trong đó cũng có nhiều Hoa kiều.8
Toàn văn Nghị định số 471‑BNV/NA/P5 9
Trích Nghị định số 471‑BNV/NA/P5 10 Công văn số 589‑TTP/ĐL 11
7 Nguồn Công văn số 589‑TTP/ĐL: CHQS số 1 (1956), tr. 11.
事業委員會出版, 1956 年,第 155 頁。 Bài viết của La Hoài cho biết lễ thành lập Hội Cổ học được tổ chức tại “比理倫學校” (Tỉ Lí Luân học hiệu = trường Tỉ Lí Luân). Nguyên văn: “於一九五五年一 十 三日假座順 比理倫學校舉行成立大會”. Hiện chưa rõ đây là trường nào, có thể là trường thuộc hệ thống trường Pháp.
9 Nguồn: NGVNS, tr. 699.
Trang 4Cổ học” (tên chữ Hán là “越南古學會” Việt Nam Cổ Học Hội). Điều này được khẳng định tại Khoản 2 trong Điều lệ của Hội: “Danh hiệu HỘI VIỆT‑NAM CỔ‑HỌC”.12 Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp nói cho ngắn gọn thì ngay trong các văn bản chính thức của Hội cũng tự gọi là “Hội Cổ học”, hoặc “Hội Cổ học Việt Nam”. Các báo chương ở Saigon thì thường gọi Hội là “Hội Cổ học Huế” để dễ phân biệt với
“Hội Khổng học” ở Saigon. Đến ngày 3/3/1969, Tổng trưởng Nội vụ VNCH là Đại tướng Trần Thiện Khiêm ra nghị định số 162/BNV/KS/14 cho phép Hội đổi tên thành
“Tổng hội Việt Nam Cổ học”,13 nhằm phân biệt về tầng thứ với các chi hội địa phương. Trong bài viết này sẽ thống nhất gọi tên là “Hội Cổ học”. Trụ sở Hội đặt tại toà Di Luân đường nằm bên trong kinh thành Huế, sau này có Viện Hán học14 thuộc Viện Đại học Huế cùng chia sẻ trụ sở và nhân sự.
Danh sách Ban sáng lập Hội gồm có 16 thành viên: Ưng Dinh (Hiệp tá đại học
sĩ trí chánh), Nguyễn Kì (Bô chánh trí sự), Đoàn Nẩm [Nẫm] (Tham tri trí sự), Nguyễn Huy Nhu (Tá lí trí sự), Nguyễn Văn Thích (Linh mục địa phận Kim Long, Huế), Trần Đạo Tế (Tham tri trí sự), Võ Nguyên Lượng (Quang lộc tự thiếu khanh), Phan Ngọc Hoàn, (Phủ thừa trí sự), Hoàng Hửu Khắc [Hữu Khác] (Hội thẩm toà Thượng thẩm Huế), Vương Hữu Tần (Y sĩ bệnh viện Huế), Trần Viết Uyển (Lang trung hưu trí), Trương Quang Nhã [Nhạ] (Kinh lịch hưu trí), Hoàng Thiện (Nguyên Giám chánh), Trần Trọng Ngân (Hàn lâm trước tác), Ngô Đình Sung [Sâm] (Hàn lâm kiêm tịch), Hoàng Đình Khải (Hàn lâm kiêm bộ).15
Nhìn vào danh sách trên có thể thấy thành viên sáng lập của Hội hầu hết thuộc thành phần quan chức đương chức hoặc hưu trí trong bộ máy chính quyền Quốc gia Việt Nam, thậm chí là sớm hơn nữa, trong giai đoạn cuối triều Nguyễn. Hầu hết họ đều là những người được đào luyện trong môi trường khoa cử truyền thống trước năm 1919, hoặc làm quan cho nhà Nguyễn, lại sống ở vùng đất “thần kinh” (kinh đô cũ) ‑ xứ Huế ‑ nơi tập trung nhiều tinh hoa văn hoá và học thuật của triều Nguyễn, nên trong họ vốn sẵn có lòng lưu luyến và yêu mến văn hoá truyền thống cũng như nền Hán học, Nho học xưa. Đến nay, nhìn thấy sự “bành trướng của Âu hoá, Khổng
玉環 , Hoàng Hữu Khác 黃 恪, Vương Hữu Tấn 王 瑨, Trần Viết Uyển 陳曰琬, Trương Quang Nhạ 張光迓 , Hoàng Thiện 黃擅, Ngô Đình Sâm 吳廷森, Trần Trọng Ngân 陳仲誾, Hoàng Đình Khải 黃廷啟. Cách ghi tên người và số người ở hai nguồn trên không hoàn toàn giống nhau. Xem: La Hoài 羅懷, 儒學在越南 , đã dẫn, tr. 115.
Trang 5giáo đã hầu như khói lạnh tro tàn”16 như lời phát biểu của Hội trưởng Nguyễn Huy Nhu, họ đã không quản ngại tuổi già sức yếu, phát huy tính “tự nhậm” của những trí thức Nho học cuối cùng còn sót lại, cùng nhau đứng lên vận động thành lập một hiệp hội văn hoá hướng đến việc “Sưu tầm, nghiên‑cứu, phiên dịch, diễn‑giải và lưu hành các văn thư kinh điển chữ Hán, để bảo tồn Văn‑hoá Cổ‑truyền Á‑Đông có
quan thiết về đức‑dục hợp thời và khoa học thực‑tế”, như quy định trong Điều lệ của
Hội (sẽ trình bày kĩ ở phần sau).
2. Điều lệ và Nội quy
Cũng như các hiệp hội văn hoá ở MNVN, để được cấp phép hoạt động, Hội Cổ học phải có văn bản quy định rõ điều lệ hoạt động và nội quy của mình, tuân theo
hội.17 Theo La Hoài, khi vận động thành lập Hội, các thành viên sáng lập đã thảo bản
“Hội chương” 會章 gồm 36 điều để trình nhà đương cục địa phương phê duyệt.18 Hiện chưa tìm được nội dung chi tiết của bản Hội chương này, nhưng có thể nó có
nội dung không khác nhiều so với bản Điều lệ trình bày sau đây.
2.1. Điều lệ
Bản Điều lệ19 sửa đổi được thông qua tại phiên họp Đại hội đồng thường niên ngày 30/3/1958 của Hội, được Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lâm Lễ Trinh duyệt y để đính theo Nghị định số 471 ngày 27/8/1958, gồm 8 chương, 34 khoản. Chương 1: Mục đích, danh hiệu và trụ sở của Hội (3 khoản); Chương 2: Thời hạn, phạm vi và quy ước (4 khoản); Chương 3: Thể lệ vào Hội, ra Hội và khai trừ khỏi Hội (3 khoản); Chương 4: Nghĩa vụ và quyền lợi của hội viên (4 khoản); Chương 5: Thể lệ động sản
và bất động sản của Hội (3 khoản); Chương 6: Thể lệ về cuộc bầu cử và bãi những người trị sự và quyền hạn của các người ấy (14 khoản); Chương 7: Duyên cớ giải tán Hội, thể lệ thanh toán và quy dụng tài sản của Hội (2 điều); Chương 8: Phụ điều (1 khoản). Do tư liệu này hiện chưa được biết tới, nên sau đây sẽ trích toàn văn để cung cấp cho giới nghiên cứu.
ĐIỀU-LỆ HỘI VIỆT-NAM CỔ-HỌC 20
CHƯƠNG I – MỤC-ĐÍCH[,] DANH-HIỆU VÀ TRỤ-SỞ CỦA HỘI
MỤC THỨ NHẤT: MỤC-ĐÍCH CỦA HỘI
Khoản 1 Mục-đích: Sưu tầm, nghiên-cứu, phiên dịch, diễn-giải và lưu hành các văn thư kinh điển chữ
Hán, để bảo tồn Văn-hoá Cổ-truyền Á-Đông có quan thiết về đức-dục hợp thời và khoa học thực-tế
MỤC THỨ HAI: DANH-HIỆU CỦA HỘI
Khoản 2 Danh hiệu HỘI VIỆT-NAM CỔ-HỌC
MỤC THỨ BA: TRỤ-SỞ CỦA HỘI
16 “Diễn‑văn của ông Hội‑trưởng Tổng‑hội Việt‑Nam Cổ‑học đọc trong lúc thành‑lập Thị‑hội Cổ‑học Đà‑Nẵng (ngày 6‑2‑1958)”, CHQS số 5 (1958), tr. 83‑86.
17 Xem nội dung Dụ số 10: Công báo Việt Nam, số 33 năm thứ 3, ra ngày 19/8/1950, tr. 434‑437.
18 La Hoài 羅懷, 儒學在越南 , đã dẫn, tr. 155.
19 Toàn văn bản Điều lệ, xem: NGVNS, tr. 701‑708.
20 Nguồn: NGVNS, tr. 701‑708.
Trang 6Khoản 3 Trụ-sở thiết tại DI-LUÂN-ĐƯỜNG kinh-thành Huế, có thể dời một nơi khác và mỗi khi
di-chuyển, phải trình nhà chức trách biết
CHƯƠNG II – THỜI-HẠN, PHẠM-VI VÀ QUY-ƯỚC
MỤC THỨ NHẤT: THỜI-HẠN CỦA HỘI
Khoản 4 Thời-hạn của Hội: vĩnh viễn không thời định
MỤC THỨ HAI: PHẠM-VI CỦA HỘI
Khoản 5 Phạm-vi hoạt-động khắp các Tỉnh, Thành, Thị, Quận và các Xã trên toàn lãnh-thổ Việt-Nam MỤC THỨ BA: QUY-ƯỚC CỦA HỘI
Khoản 6 Để đạt được mục-đích, Hội hoạt-động theo các đại-cương như sau:
a) Lập THƯ-VIỆN công cộng, gồm đủ nguyên văn và phiên-dịch Cổ-văn, các kinh sách bài vở học Cổ-truyền
Hán-b) Lập Học-đường giảng-giải âm nghĩa Hán-văn thường dùng, để bồi-bổ Quốc văn
c) Biên-tập, phát hành các văn thơ kinh điển chữ Hán có tính-cách đức dục hợp thời và thực tế học, mà đã phiên dịch ra Quốc-văn
khoa-d) Truyền bá các khoa học thực-tế, nền đạo nghĩa, luân-lý của các Tiền-Triết, Tiền-Hiền còn thích hợp với đời sống hiện-đại
e) Cổ động tôn sùng đạo KHỔNG bằng mọi cách (như là kiến tạo sùng [trùng] tu các Miếu, Chỉ và kỷ-niệm ngày Thánh-Đản Đức KHỔNG-PHU-TỬ v.v…)
Văn-Khoản 7 Hội không bàn đến Chính-trị và Tôn-giáo
CHƯƠNG III – THỂ-LỆ VÀO HỘI, RA HỘI VÀ KHAI-TRỪ KHỎI HỘI
MỤC THỨ NHẤT: THỂ-LỆ VÀO HỘI
Khoản 8 Người Việt-Nam cùng người Ngoại-quốc, Nam và Nữ, 21 tuổi trở lên, không mất quyền công
dân, có hai Hội-viên đã vào Hội giới-thiệu và có Ban Trị-sự trả lời sau khi nhận đơn nhập Hội, mới vào Danh sách của Hội
MỤC THỨ HAI: THỂ-LỆ RA HỘI
Khoản 9 Được ra Hội:
a) Những Hội-viên có đơn xin tạm thời hoặc vĩnh-viên ra Hội;
b) Những Hội-viên đã mặc nhiên từ-khước nghĩa-vụ như là liên-tiếp mười hai tháng không có tác, nếu là Hội-viên Hoạt-động; và liên-tiếp mười hai tháng không đóng tiền nhập Hội, và niên-liễm, nếu là Hội- viên Thiệt-hành
công-Những Hội-viên này bất-cứ lúc nào cũng có thể vào lại, nhưng với điều-kiện nhập Hội, lại phải như một Hội-viên mới
MỤC THỨ BA: THỂ-LỆ KHAI-TRỪ KHỎI HỘI
Khoản 10
a) Những Hội-viên trong lúc nhóm Hội, ngôn-ngữ hoặc cử chỉ thiếu vẻ ôn hoà, làm mất trật tự, mặc dầu Chủ-Toạ đã nhiều lần phê-bình có chép trong biên-bản buổi họp, mà không hối-quá chừa lỗi;
b) Những Hội-viên có đủ bằng-chứng đã lợi-dụng danh-nghĩa của Hội
Những Hội-viên nầy muốn đưa đơn xin vào lại với điều-kiện như một Hội-viên mới, thời phải đứng ngoài Hội một năm, nếu là về khoản a) và 3 năm nếu là khoản b)
CHƯƠNG IV – NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN-LỢI CỦA HỘI-VIÊN
MỤC THỨ NHẤT: NGHĨA-VỤ CỦA HỘI-VIÊN
Khoản 11
a) DANH-DỰ HỘI-TRƯỞNG: Dành riêng vị Thống nước Việt-nam Cộng-Hoà (nếu Thống chấp-thuận sau khi Hội đệ đơn thỉnh-cầu
Tổng-b) DANH-DỰ HỘI-VIÊN để tiêu biểu và ủng hộ cho Hội
Hạng nầy gồm những Vị có uy-tín, danh-vọng, đạo-đức, học-lực uyên-thâm, được Hội mời vào ủng-hộ cho Hội về phương-diện tinh-thần hoặc giúp Hội những sáng-kiến tốt đẹp, hoặc nâng-đỡ Hội bằng những phương-diện có thể phát-triển mạnh-mẽ;
Trang 7c) HOẠT-ĐỘNG HỘI-VIÊN là những người đóng góp cho Hội về phương-diện Văn-hoá, hoặc lãnh công-tác tổ chức, hoạt-động cho Hội v.v…
d) THIỆT-HÀNH HỘI-VIÊN để đảm-phụ tài-chánh cho Hội bằng cách đóng niên-liễm
e) TÁN-TRỢ HỘI-VIÊN là những người đóng góp vào Hội một số tiền là 1.000$00;
g) ÂN-NGHĨA HỘI-VIÊN là những Hội-viên đã đóng vào Hội một số tiền vĩnh-viễn là 2.000$00, hoặc những tài-liệu văn-hoá trị giá 2.000$00 Cũng là Ân-Nghĩa Hội-Viên, những Hội viên nào đã đóng vào Hội mỗi năm 500$00, nếu đã góp được 5 năm
MỤC THỨ HAI: QUYỀN-LỢI CỦA HỘI-VIÊN
Khoản 12 Tất cả các Hội-viên đều có quyền biểu-quyết giữa Đại-Hội-Đồng và đều được ứng cử Ban
Trị-Sự cùng các Tiểu-Ban
Khoản 13 Riêng các hạng Hội-viên hạng c) (Hoạt-động Hội-viên) Hội có thể phụ tiền giấy mực và thù
lao, tuỳ theo ngân-quỹ của Hội và tuỳ theo sở-năng của mình sau khi đã nạp tài-liệu đã làm xong công-tác
MỤC THỨ BA: TIỀN NHẬP HỘI VÀ NIÊN-LIỄM
Khoản 15 Tài-sản của Hội, ngoài sự đóng góp của các Hội-viên, Hội có thể nhận lãnh những trợ-cấp
của Chánh-Phủ, của các Địa-Phương hàng Tỉnh hàng Xã
a) Hội có thể thâu nhận những sản vật tặng dữ của các tư nhân hay các Đoàn-thể, sau khi đã được Chánh-phủ công-nhận mục-đích của Hội có ích chung và đã được Bộ Nội-vụ cho phép;
b) Hội lại có thể tổ chức các cuộc lạc quyên, hội chợ v.v… mỗi khi tổ chức đều có Cơ quan Địa phương cho phép
Khoản 16 Về bất động-sản nếu cần Hội chỉ có thể tạo-mãi biến dịch hoặc chấp-hữu trong trường-hợp
để đạt mục-đích của Hội như đã ấn định ở khoản thứ 6 mà thôi
Khoản 17 Ngân-quỹ của Hội chỉ được lưu-trữ trong quỹ dưới 20.000$00, thặng số thời ký-tồn một
Ngân-hàng trong nước
CHƯƠNG VI – THỂ-LỆ VỀ CUỘC BẦU-CỬ VÀ BÃI NHỮNG NGƯỜI TRỊ-SỰ VÀ QUYỀN HẠN CỦA
CÁC NGƯỜI ẤY
MỤC THỨ NHẤT: BẦU CỬ BAN TRỊ-SỰ
Khoản 18 Mỗi đầu năm Dương-lịch Đại Hội-Đồng theo cách đầu phiếu phổ thông cử một Ban Trị-Sự
(đa-số tương-đối) để thay mặt toàn Hội mà chủ trương và tiến hành công việc của Hội
Khoản 19 Giấy loan-báo về việc Đại-Hội-Đồng bầu Ban Trị-Sự phải tống-đạt đến các Hội-viên trước
hai tuần lễ; kỳ nhóm đầu không được quá bán tổng-số Hội-viên, thời phải nhóm lại kỳ thứ hai, kỳ này dầu bao
nhiêu người cũng có quyền quyết-định
Khoản 20 Đại-Hội-Đồng họp đủ mặt các Hội-viên các Tỉnh, Thành, Thị, Quận đã có Ban Trị-Sự
chính-thức Hội viên nào không đến dự được thì có giấy uỷ-quyền cho một Hội-viên dự Hội-đồng hoặc cho một Hội-viên nào ở Địa-điểm họp Đại-Hội-Đồng mà Hội-viên nầy sẽ không vắng mặt
Khoản 21 Bất cứ khi nào các hạng Hội-viên cũng có quyền đưa giấy yêu-cầu Ban Trị-Sự chiêu-tập
Đại-Hội-Đồng bất-thời để xét về vấn-đề Ban trị-Sự làm trái Điều-lệ, bất lực hay lãng-phí hoặc xâm-tiêu của Hội, những số Hội-viên yêu cầu ít nhất cũng phải quá một phần ba của tổng-số Hội-viên
Khoản 22 Chưa hết niên khoá mà chức Hội-Tưởng hay chức Chưởng-Quỹ huyền-khuyết, thời Ban
Trị-sự chiêu-tập Đại-Hội-Đồng chiếu-lệ đầu-phiếu tái-cử như trên; còn các chức khác huyền-khuyết, thời do Toàn Ban Trị-Sự cử người thay thế
MỤC THỨ HAI: BÃI-CHỨC NHỮNG NGƯỜI TRONG BAN TRỊ-SỰ
Trang 8Khoản 23 Ban-viên nào khoán phế công-vụ của Hội mà mình đã đảm đương, hoặc bỏ nhóm liên tiếp
ba buổi Hội-đồng mà không có giấy cáo-khiếm với duyên cớ chính-đáng, thời Ban Trị-Sự sẽ chiếu lệ bầu-cử người khác thay-thế
MỤC THỨ BA: THÀNH PHẦN VÀ QUYỀN HẠN CỦA BAN TRỊ-SỰ
Khoản 24 Hội có một Ban Trị-Sự gồm có:
Một Hội-trưởng để thay-mặt Hội trước công-chúng và trước pháp-luật Chủ-toạ các buổi Hội đồng và
để thi-hành các quyết-nghị của Đại-Hội-Đồng và của Ban Trị-Sự
Ba Phó Hội-trưởng để chia nhau giúp sức Hội-trưởng và thay thế khi Hội-trưởng vắng mặt
Một Tổng-Thư-ký để đảm nhận các công việc ở Văn-phòng
Một hoặc hai Phó Thư-ký để giữ Danh-sách Hội-viên và san sẻ công việc cho Tổng-Thư-ký
Một Chưởng-quỹ để thâu trữ những tài sản của Hội
Một Phó Chưởng-quỹ để giữ văn tự, sổ sách động sản, bất động sản, và những sổ sách kế toán về thu, chi của Hội
Bảy đến mười Cố-vấn và Kiểm-soát [sát] Cố-vấn để giao thiệp và cho ý kiến mỗi khi ông Hội-trưởng yêu cầu Kiểm-soát để kiểm điểm công việc của Hội, xem xét sổ-sách Tài-chánh, Trật tự chung trong các buổi Hội-đồng
Khoản 25 Ban Trị-sự nhóm để bàn định việc Hội ít nhất mỗi tháng 1 kỳ và phải có mặt quá bán Tổng
số Ban-viên, mới được khai mạc buổi họp
Khoản 26 Trong những lúc Hội-nghị của Ban Trị-sự, nếu số biểu-quyết mà hai phe ngang nhau, thời
theo phe có ý kiến của ông Hội-trưởng
Khoản 27 Ngày Đại Hội-động [đồng] đầu năm, Ban Trị-sự cũ phải làm tờ kê tổng quát trình với Đại
Hội-đồng về mặt tài chánh và tình hình tiến-triển của Hội Trong có bản tường-kê để tuyên-dương công-tác của Hội-viên
Khoản 28 Ban Trị sự có thể đặt các Tiểu-ban để chuyên-trách về các việc chuyên-môn cần thiết, tuỳ
theo từng niên khoá mà vẫn do Ban Trị-sự chịu lấy trách nhiệm, các Tiểu-ban ấy sẽ do toàn Ban Trị-sự tái cử lại từng niên-khoá một sau khi đã bầu-cử xong Ban Trị-sự mới
Khoản 29 Các Ban-viên Trị-sự và các Tiểu-ban đều không có phụ cấp gì cả
Khoản 30 Ngoài ngân-sách dự-trù đầu năm, đã do Đại hội-đồng chuẩn y, Ban Trị-sự có thể chi tiêu
những việc cần thiết dưới số 3.000$00, trừ các Đại-lễ ngoại, trên số 3.000$00 thời phải có biên bản của Ban
Trị-sự cùng họp Hội-đồng với một hay nhiều Ban định ở khoản 26, nếu số chi-tiêu ấy có liên quan đến ban ấy
Tiểu-Khoản 31 Tỉnh, Thành, Thị, Quận nào tổng-số Hội-viên có đủ năm mươi người trở lên, thời sẽ thành
lập một Ban Trị-sự gồm có: Một Hội-trưởng, Một Phó Hội-trưởng, Một Thư-ký, Một Phó Thư-ký, Một Chưởng-quỹ, Một Phó Chưởng-quỹ, Ba đến năm Cố-vấn và Kiểm soát [sát]
Thể-lệ bầu-cử, bãi chức và quyền hạn cũng như các thể-lệ đã định trên Sau khi đã thành lập Ban Trị-sự
ở Tỉnh, Thành, Thị, Hội, thời thỉnh cầu ông Tỉnh, Thị-trưởng; ở Quận-Hội thỉnh cầu ông Quận-trưởng làm Danh
dự Hội trưởng, để tiêu biểu và ủng hộ cho Hội
Khoản 31 bis Nhiệm-kỳ của mỗi Ban Trị-sự (Trung-ương, Tỉnh, Thành, Thị hoặc Quận) là một năm
Nhân-viên Ban Trị-sự được tái-cử, nếu Đại-Hội-Đồng tín-nhiệm
CHƯƠNG VII – DUYÊN-CỚ GIẢI-TÁN HỘI, THỂ-LỆ THANH-TOÁN VÀ QUY-DỤNG TÀI SẢN CỦA HỘI
MỤC THỨ NHẤT: DUYÊN-CỚ GIẢI-TÁN HỘI
Khoản 32 Khi nào số Hội-viên hạng d) (Thiệt-hành) chỉ còn lại dưới mười người mà không hoạt động,
thời Hội sẽ đình-chỉ
MỤC THỨ HAI: THANH-TOÁN VÀ QUY-DỤNG TÀI SẢN CỦA HỘI
Khoản 33 Nếu vì lý-do trên mà Hội phải đình-chỉ hoặc giải-tán hay vì duyên-cớ gì khác mà
Chánh-Phủ giải-tán Hội, thời những Tài-sản của Hội, các sách-vở nạp vào Sở Văn hoá Chánh-Chánh-Phủ Các sản-vật khác của Hội sẽ do Đại Họi-Đồng quyết-định cúng vào một hoặc nhiều Hội Từ-thiện hợp-pháp, hoặc nhập vào một Cơ-quan Sở-tại
Trang 9CHƯƠNG VIII – PHỤ ĐIỀU
Khoản 34 Điều lệ nầy khi cần sửa-đổi, sẽ do Đại-Hội-Đồng thường niên quyết định, nhưng sửa-đổi
không ra ngoài mục đích và quy-trình hành-động đã định ở khoản thứ 1 và khoản thứ 6 trong Điều lệ nầy
Bản Điều-lệ này đã được Ban Trị-Sự biểu-quyết trong phiên-họp ngày 7 tháng 4 năm 1957 theo bản buổi Đại-Hội-Đồng ngày 16-3-1957 khoản B mục linh-tinh tự rõ rằng:
Biên-Đại-hội-Đồng uỷ-nhiệm Ban Trị-Sự toàn quyền sửa đổi các Điều, Khoản, Chương, Mục trong Điều-lệ thích-nghi và hợp-thời, rồi trình lên Chính-Phủ duyệt-y trước khi thi hành
Huế, ngày 7 tháng 4 năm 1957
Hội-trưởng
Ký tên: NGUYỄN-HUY-NHU Đến nay buổi Đại-Hội-Đồng thường niên họp ngày 30-3-1958 lại đưa ra thuyết-trình cũng đã được Đại-Hội-Đồng biểu-quyết tán-thành
Làm tại Huế, ngày 30 tháng 3 năm 1958
Hội-trưởng
Ký tên: NGUYỄN-HUY-NHU DUYỆT-Y
NỘI‑QUY HỘI VIỆT‑NAM CỔ‑HỌC 22
Tuân hành theo Điều thứ 30 của Dụ số 10 ngày 6‑8‑1950.
Ban Trị‑sự Hội Việt‑Nam Cổ‑Học thành lập bản Nội‑quy của Hội để thi hành phụ đính theo Điều‑lệ Hội Việt‑Nam Cổ‑Học đươc phép hoạt động trong toàn‑quốc do Nghị‑định số 471‑ BNV/NA/P5 ngày 27‑8‑1958 của Bộ Nội‑Vụ.
Khoản 1. Trong Điều‑lệ ở chương thứ nhất, mục thứ hai, khoản thứ hai, Danh‑hiệu Hội Việt‑ Nam Cổ‑Học, nay đã thành‑lập thêm các Thị, Tỉnh và Quận‑hội, xin gọi là TỔNG‑HỘI VIỆT‑NAM CỔ‑HỌC.
Khoản 2. Ban Trị‑sự của TỔNG‑HỘI VIỆT‑NAM CỔ HỌC ấn‑định ở Điều‑lệ Chương thứ sáu, mục thứ nhất, khoản thứ 18 và 19 và mục thứ ba, khoản thứ 24, có thể mở một Văn‑phòng của Hội, những lúc không cần nhóm đủ Ban Trị‑sự.
Khoản 3. Văn‑phòng Thường‑Vụ đương‑nhiên gồm có: Ông Hội‑trưởng, Ông Tổng Thư‑ký, Ông Chưởng‑quỹ. Ba chức‑vụ này thuộc Ban Trị‑sự do Đại Hội‑đồng công cử. Tuy nhiên, nếu xét cần
Trang 10tiếp đến các Tiểu‑ban do Ban Trị sự thiết lập ra, ấn định ở trong Điều‑lệ Chương thứ sáu, mục thứ ba, khoản thứ 28 và 29 và trong Nội‑quy khoản thứ 5.
Khoản 5. Ban Trị‑sự có những Tiểu‑ban sau này giúp việc.
1/ TIỂU‑BAN GIAO‑TẾ VÀ TỔ‑CHỨC
Chuyên trách việc giao‑tiếp cổ‑động, phổ‑biến sâu rộng mục đích của Hội, kết nạp thêm Hội‑ viên, tổ chức thành lập các Tỉnh‑Hội, Thị Hội, và Quận Hội, tổ‑chức các cuộc khánh tiết v.v…
2/ TIỂU‑BAN TÀI‑CHÁNH
Chuyên‑trách việc tăng gia ngân quỹ bằng cách tổ chức các cuộc lạc quyên, xổ‑số, chiếu bóng, kịch nhạc, lấy lãi trong các công cuộc ấn loát và phát hành sách vở, báo chí v.v…
3/ TIỂU‑BAN VĂN‑HOÁ
Chuyên‑trách việc bảo‑tồn và truyền‑bá Văn‑hoá cổ‑truyền bằng cách:
a) Sưu‑tầm, nghiên‑cứu, phiên‑dịch, trước‑tác các tài‑liệu cũ hoặc mới thuộc phạm‑vi hoạt‑ động của Hội;
Khoản 7. Mỗi Tiểu‑Ban gồm từ 5 đến 9 Nhân‑viên, kể cả Trưởng Tiểu‑Ban tuỳ theo nhu‑cầu
và ấn‑định số nhân‑viên Tiểu‑ban, ngoại‑trừ Tiểu‑Ban Văn‑Hoá, số nhân‑viên của Ban nầy không hạn định, tuỳ theo công‑cuộc tiến‑triển mà gia tăng số nhân‑viên.
Khoản 8. Mỗi Tiểu‑Ban có một Trưởng‑Tiểu‑Ban và một Thơ‑Ký điều‑hành công‑việc của Tiểu‑Ban.
Khoản 9. Trong Tiểu‑Ban Văn‑Hoá và ngành Ấn‑loát và Phát‑hành còn thiết thêm một “Văn‑ Phòng Toà‑Soạn” để trông‑nom việc xuất‑bản một hay nhiều tờ báo hoặc Quí‑San. Chủ‑bút tờ báo hoặc Quí‑San đương nhiên điều‑khiển “Văn‑Phòng Toà‑Soạn”. Tiểu‑Ban Văn‑hoá phối hợp với Chủ‑ bút cử nhân‑viên Văn‑Phòng Toà‑Soạn gồm từ 3 đến 5 nhân‑viên, kể cả Chủ‑bút. Những Hội‑viên hoặc người ngoài trợ‑bút viết bài cho tờ báo hay Quí san, không gồm trong số nhân‑viên “Văn‑Phòng Toà‑Soạn”. Chỉ Văn‑Phòng Toà‑Soạn mới toàn quyền định‑đoạt và giải‑quyết nội‑dung tờ báo hoặc Quí‑San, cả về phần bài‑vở, tài‑liệu lẫn phần bố‑trí cách ấn‑loát.
Khoản 10. Công‑việc hoạt‑động của các Quận‑Hội, muốn cho được phát‑triển sâu‑rộng trong nhân‑dân, thời ở cấp Xã, Quận‑Hội nếu thành lập một Ban Đại‑Diện gồm có: Một Trưởng‑Ban, Một Thư‑Ký, Một Ủy‑Viên.
Khoản 11. Trong Điều‑Lệ ở Chương thứ tư, Mục thứ ba, Khoản thứ 14‑a và b ấn‑định; tiền nhập‑Hội của hạng Hội‑Viên hạng c) (Thiệt‑Hành Hội‑Viên) là 50$00 và niên‑liễm 60$00. Hai số tiền nầy ở các Thị, Tỉnh và Quận‑hội nhận hưởng mấy phần trăm và gởi về Tổng‑Hội mấy phần trăm, đều theo quyết‑định trong biên‑bản của Ban Trị‑Sự họp ngày 6‑4‑1958 mà thi‑hành, nghĩa là:
Trang 11Số 1/CH/TH/VP TRÍCH‑SAO CHÁNH‑BẢN
Huế, ngày 3 tháng 1 năm 1969
HỘI‑TRƯỞNG TỈNH [TỔNG]‑HỘI VIỆT‑NAM CỔ‑HỌC
Tuân thủ quy định trong Dụ số 10
Điều thứ 6 của Dụ số 10 do Quốc trưởng Bảo Đại kí, ban hành ngày 6/8/1950
quy định thể lệ lập hội đã quy định về các khoản phải kê trong bản điều lệ của các hiệp hội văn hoá như sau:
“Trong điều‑lệ phải kê rõ các khoản sau này: 1) Mục‑đích của hội, 2) Tên hiệu của hội, 3) Hội‑sở, 4) Hạn điều‑ước, 5) Thể‑lệ vào hội, ra hội và trục‑xuất khỏi hội, 6) Nghĩa‑vụ và quyền‑lợi các hội‑viên, 7) Tài‑sản của hội, 8) Thể‑lệ về động‑sản và bất‑ động‑sản của hội, 9) Họ, tên, tuổi các người sáng lập, 10) Thể‑lệ về việc cử và bãi những người quản‑trị và quyền‑hạn của các người ấy, 11) Duyên‑cớ giải‑tán hội, 12) Thể‑lệ thanh‑toán và quy‑dụng tài‑sản của hội” 23
Trong bản Điều lệ của Hội Cổ học đã dẫn trên, không có mục “Họ, tên, tuổi các người sáng lập” (mục số 9, trong Điều thứ 6 của Dụ số 10), nhưng trong cuốn
NGVNS đã cung cấp “Danh‑sách Ban Sáng‑lập Tổng‑hội Việt‑Nam Cổ‑học” gồm 16 thành viên.24 Vậy là bản Điều lệ của Hội Cổ học Việt Nam đã tuân thủ đầy đủ các
23 Điều thứ 6 trong Dụ số 10, xem: Công báo Việt Nam, số 33 năm thứ 3, ra ngày 19/8/1950, tr. 434‑435.
24 NGVNS, tr. 713.