Ngành Hán Nôm trong thập niên 1970 và nhu cầu đào tạo nhà khoa học Hán Nôm Đầu thập niên 1970, ngay trong giai đoạn cao trào kháng chiến chống Mĩ, ở miền Bắc đã liên tục thành lập 2 đơn
Trang 1NHÂN ĐỌC LẠI BÀI VIẾT NĂM 1978 CỦA GIÁO SƯ NGUYỄN TÀI CẨN
Nguyễn Tuấn Cường 1
Abstract: This paper analyzes the views of Professor Nguyễn Tài Cẩn published in a conference in the field of Sino-Nom in 1978 related to the direction of training young researchers of Sino-Nom The results of analysis from the perspectives of training viewpoint, knowledge and skills show that it is a training perspective with the expectation of “modernizing” the field of classical studies This is an early suggestion that this field needs
to be in tune with international scholarship, basing on the international level (particularly the knowledge of Chinese linguistics) to conduct research on Vietnamese Sino-Nom issues
Keywords: Sino-Nom, training, Chinese linguistics, Nguyễn Tài Cẩn
1 Ngành Hán Nôm trong thập niên 1970 và nhu cầu đào tạo nhà khoa học Hán Nôm
Đầu thập niên 1970, ngay trong giai đoạn cao trào kháng chiến chống Mĩ, ở miền Bắc đã liên tục thành lập 2 đơn vị nghiên cứu và đào tạo Hán Nôm một cách chuyên biệt đầu tiên trong lịch sử Việt Nam hiện đại Thứ nhất là Ban Hán Nôm thành lập năm 1970, đến năm 1979 chính thức trở thành Viện Nghiên cứu Hán Nôm, thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) Thứ hai là Bộ môn Hán Nôm (thuộc Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Tổng hợp) thành lập năm 1972, hiện nay là Bộ môn Hán Nôm, thuộc Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Sự kiện thành lập đơn vị này cho thấy tầm nhìn của lãnh đạo nhà nước và lãnh đạo ngành văn hoá đương thời, dù phải tập
1 PGS.TS., Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Trang 2trung cho tiền tuyến nhưng không lơ là trách nhiệm đối với văn hoá và văn hiến cổ điển của dân tộc
Ngay từ năm 1957, nhà nước Việt Nam đã quan tâm tới vấn đề bảo tồn di sản và di tích nói chung thông qua việc ban hành “Nghị định quy định thể lệ về bảo tồn cổ tích” số 519/TTg do Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng kí ngày 29/10/1957 Riêng với tài liệu Hán Nôm, Thủ tướng đã ra Chỉ thị ngày 13/12/1963 giao cho các uỷ ban hành chính cấp tỉnh thống kê danh mục thư tịch mà Nhà nước còn quản lí ở các Sở
và các Ti Thông tin Văn hoá Ngay sau đó, Bộ Văn hoá có Thông tư số
5 ngày 21/2/1964 giao cho Thư viện Quốc gia Việt Nam tập hợp các bản kê khai của các tỉnh, thành phố và lập danh mục những tài liệu Hán Nôm thuộc diện quản lí của Nhà nước
Chính trong thời điểm ấy, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam (1976) nhấn mạnh: “Nền văn hoá mới có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc Đó là nền văn hoá có tính Đảng và tính nhân dân sâu sắc” Chủ trương này ngay sau khi ra đời đã có tác động trực tiếp đến lĩnh vực bảo tồn và khai thác thư tịch cổ, mà cụ thể là Ban Hán Nôm thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) Ủy ban này đã chỉ đạo để Ban Hán Nôm tổ chức một hội nghị chuyên đề bàn
về “Vấn đề thư tịch Hán Nôm” Ngày 28/4/1978 tại Hà Nội, hội nghị đầu tiên của ngành Hán Nôm được tổ chức, đã thu hút sự tham gia của đông đảo các nhà khoa học lão thành và nhiều cán bộ trẻ quan tâm đến thư tịch cổ trên địa bàn toàn quốc Kỉ yếu hội nghị này đã được xuất bản
chính thức sau đó một năm với nhan đề Thư tịch cổ và nhiệm vụ mới,1
gồm 210 trang với 28 bài nghiên cứu và lời phát biểu, là tuyên ngôn chính thức đầu tiên của ngành Hán Nôm về định hướng công việc của ngành, cũng là văn bản thể hiện chủ trương, chính sách về công tác Hán Nôm của Ban Hán Nôm – cơ quan nhà nước cao nhất có chuyên môn
về công tác thư tịch cổ
Hội nghị năm 1978 đã xác định tầm quan trọng của công tác bảo vệ
và khai thác di sản Hán Nôm trong quá khứ nhằm đóng góp vào công
1 Ban Hán Nôm, Thư tịch cổ và nhiệm vụ mới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1979.
Trang 3cuộc xây dựng nền văn hoá mới, xây dựng con người mới theo tinh thần của Đại hội Đảng lần thứ IV đã đề ra GS Nguyễn Khánh Toàn – Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam đã nhấn mạnh: “Chúng ta càng tự hào với thắng lợi của sự nghiệp Cách mạng vừa qua thì càng cảm thấy sự quan trọng của công tác khoa học xã hội, trong đó có công tác thư tịch Hán Nôm” Phát biểu của GS Nguyễn Khánh Toàn khẳng định “Nhiệm vụ đặt ra cho công tác thư tịch Hán Nôm là thống kê, xác định, bảo quản, quản lí di sản văn hoá”, được thể hiện cụ thể ở bốn khía cạnh: một là sưu tầm và bảo quản tài liệu Hán Nôm Việt Nam hiện còn
ở cả trong nước và nước ngoài; hai là đào tạo thế hệ cán bộ làm công tác thư tịch cổ với một chương trình đào tạo thích hợp để không bị hiểu nhầm là “phục cổ”; ba là công tác cơ sở vật chất để phục chế, tu bổ, áp dụng khoa học kĩ thuật tiên tiến vào công tác Hán Nôm; bốn là vận động rộng rãi để nâng cao ý thức trách nhiệm đối với thư tịch cổ.1 Cũng trong hội nghị này, GS Nguyễn Đổng Chi – Trưởng ban Ban Hán Nôm đã trình bày báo cáo, trong đó khẳng định ba nhóm công việc có tính cấp thiết mà Ban Hán Nôm sẽ triển khai: một là công tác khảo cứu, phiên dịch, biên soạn và công bố tài liệu Hán Nôm; hai là công tác đào tạo, bồi dưỡng một đội ngũ cán bộ Hán Nôm; ba là công tác sưu tầm, bảo quản sách vở, tài liệu Hán Nôm.2
Như vậy, cả người đứng đầu đơn vị nghiên cứu Hán Nôm (GS Nguyễn Đổng Chi) và người đứng đầu cơ quan cao nhất của Nhà nước
về khoa học xã hội (GS Nguyễn Khánh Toàn), những người có vai trò hoạch định chính sách, đường hướng phát triển cho lĩnh vực Hán Nôm, đều đã thống nhất quan điểm cho rằng một trong những công việc trọng tâm mà ngành khoa học Hán Nôm non trẻ3 thời bấy giờ cần phải thực hiện chính là vấn đề đào tạo nguồn nhân lực phục vụ các công việc của ngành
1 Nguyễn Khánh Toàn, “Lời phát biểu tại Hội nghị”, Ban Hán Nôm, Thư tịch cổ và
nhiệm vụ mới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1979, tr 32-39.
2 Nguyễn Đổng Chi, “Đặc điểm của thư tịch Hán Nôm và nhiệm vụ cấp thiết của
chúng ta đối với kho di sản ấy”, Ban Hán Nôm, Thư tịch cổ và nhiệm vụ mới, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 1979, tr 7-31.
3 Nói “ngành khoa học Hán Nôm non trẻ” ở đây là nhấn mạnh vai trò của một ngành khoa học mới theo các tiêu chí hiện đại, không nhằm nói đến một lĩnh vực học vấn truyền thống lâu đời, tức nền Hán học cổ truyền của Việt Nam.
Trang 4Hội nghị năm 1978 đó, trong số 28 bài tham luận và phát biểu, có duy nhất một bài thảo luận chuyên biệt về vấn đề đào tạo cán bộ nghiên cứu của ngành Hán Nôm, đó là bài viết nhan đề “Một vài ý kiến về phương hướng đào tạo cán bộ ngành Hán Nôm”1 của GS Nguyễn Tài Cẩn Đây có thể coi là bài viết đầu tiên thảo luận riêng biệt về vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Hán Nôm
Phần viết sau đây sẽ phân tích quan điểm của GS Nguyễn Tài Cẩn trong bài viết đó, đồng thời nhìn nhận lại thành tựu và những vấn đề đặt
ra trong công tác đào tạo nguồn nhân lực trong thời gian gần nửa thế kỉ vừa qua kể từ sau Hội nghị năm 1978
2 Phân tích quan điểm của GS Nguyễn Tài Cẩn năm 1978 về phương hướng đào tạo thế hệ trẻ ngành Hán Nôm
Ngay đầu bài viết, GS Nguyễn Tài Cẩn đã nói rằng ông viết bài này “với tư cách là một người làm công tác có liên quan ít nhiều đến ngành Hán Nôm” (tr 105) bởi “chúng tôi làm công tác ngôn ngữ học” (tr 105) Cần hiểu rằng đây là một cách nói có tính khiêm tốn, bởi đến thời điểm công bố bài viết ấy (1978), GS Nguyễn Tài Cẩn đã có ít nhất
5 bài nghiên cứu chuyên ngành về về chữ Nôm (công bố trong khoảng 1971-1976) tạo được tiếng vang và sự khác biệt đối với nghiên cứu chữ Nôm truyền thống theo trường phái của GS Đào Duy Anh (1975).2 Đặc
biệt, chỉ một năm sau Hội nghị, vào năm 1979, chuyên luận Nguồn gốc
thức, đánh dấu một bước phát triển mới của ngành Hán Nôm, mà để in được vào năm 1979 thì tác giả đã phải biên soạn trong nhiều năm trước
đó Có thể khẳng định GS Nguyễn Tài Cẩn là một trong những người thầy khai khoa của Bộ môn Hán Nôm, Trường Đại học Tổng hợp khi xưa,
1 Nguyễn Tài Cẩn, “Một vài ý kiến về phương hướng đào tạo cán bộ ngành Hán
Nôm”, Ban Hán Nôm, Thư tịch cổ và nhiệm vụ mới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
1979, tr 105-110
2 Nguyễn Tuấn Cường, “Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn và những cống hiến trong nghiên
cứu chữ Nôm”, Nhiều tác giả, Nguyễn Tài Cẩn, học giả “bất yếm, bất quyện”, Nxb
Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2017 (tái bản), 78-90.
3 Nguyễn Tài Cẩn, Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1979; tái bản: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002.
Trang 5đồng thời cũng là người đầu tiên phát triển ngành Hán Nôm theo hướng một ngành khoa học hiện đại, quan sát từ tầm nhìn quốc tế Sau này, các công trình về lĩnh vực Hán Nôm của GS Nguyễn Tài Cẩn đã được thu thập và xuất bản trong cuốn sách dầy dặn nhan đề Tuyển tập công trình
về Hán Nôm (2011).1
Trong bài viết ngắn của mình, để độc giả dễ tiếp nhận, GS Nguyễn Tài Cẩn đã trình bày các quan điểm của mình theo cách liệt kê, kể tả, nghĩ đến đâu viết đến đấy Nói vắn tắt, bài viết 6 trang và không đánh
số mục ấy chỉ tập trung trình bày hai ý kiến: thứ nhất là phải đào tạo nguồn nhân lực trẻ có tri thức tốt về lĩnh vực Hán ngữ học vốn đang được quốc tế rất quan tâm; thứ hai là phải đi vào nghiên cứu các vấn đề của Việt Nam Nắm bắt được vấn đề của bản thân mình, có hiểu biết về các vấn đề và kinh nghiệm quốc tế, từ đó quay trở lại nghiên cứu vấn đề của bản thân mình Đó có thể coi là luận điểm chính trong bài viết của
GS Nguyễn Tài Cẩn
Ngày nay, phân tích chi tiết hơn từ góc độ giáo dục, có thể phân cắt
và quy loại các luận điểm của GS Nguyễn Tài Cẩn thành ba nhóm vấn đề: (i) chủ trương đào tạo và nghiên cứu, (ii) những tri thức cần học,
và (iii) những kĩ năng cần nắm bắt Dưới đây tôi sẽ phân tích theo ba hướng này
2.1 Chủ trương đào tạo và nghiên cứu đối với thế hệ trẻ
a Cần khẩn trương nâng cao trình độ của thế hệ nhà nghiên cứu trẻ
Trong bài viết, GS Nguyễn Tài Cẩn thường dùng cụm từ “anh chị em trẻ” để nói về thế hệ các nhà khoa học trẻ thuộc lĩnh vực Hán Nôm đương thời, mà hầu hết đều thuộc thế hệ sinh vào thập niên 1950 Bóng dáng của thế hệ trẻ xuất hiện bàng bạc khắp bài viết, từ câu đầu tiên đến câu cuối cùng Ngay câu mở đầu của ý kiến thứ nhất, tác giả viết: “Ý kiến thứ nhất chúng tôi muốn nêu lên là nên tìm mọi cách, tập hợp mọi khả năng có thể
có, thường xuyên tổ chức việc nâng cao thêm trình độ cho anh chị em còn trẻ, về mặt Hán học nói chung, về mặt Hán ngữ học nói riêng.” (tr 105)
1 Nguyễn Tài Cẩn, Tuyển tập công trình về Hán Nôm, Nxb Giáo dục Việt Nam,
Hà Nội, 2011.
Trang 6Tính đến thời điểm Hội nghị 1978, kì thi khoa cử cuối cùng ở Việt Nam (1919) đã kết thúc ngót 60 năm Trong 60 năm ấy, đặc biệt là giai đoạn 1919-1945, trên thực tế vẫn có một số người chủ động học theo lối khoa cử từ chương xưa không phải vì mục đích thi cử, đỗ đạt, làm quan như trước, mà có thể học theo thói quen gia đình, thói quen xã hội, theo dòng mạch giáo dục tri thức và đạo đức truyền thống trong xã hội đương thời Tuy nhiên, cho đến cuối thập niên 1970, việc ngày một thiếu vắng thế hệ các cụ đồ Nho khoa cử uyên bác là một thực tế đang xảy ra Thế hệ có tham gia khoa cử đã trên dưới 80 tuổi, ngày càng vắng bóng trên diễn đàn học thuật Con đường không thể khác được vào lúc
đó là phải tập hợp mọi nguồn lực để đào tạo nhân sự cho ngành, đào tạo nhà nghiên cứu Hán Nôm từ nguồn sinh viên tốt nghiệp đại học chuyên ngành Hán Nôm hoặc các ngành gần và phù hợp Chính thế hệ
đó sẽ đảm trách công tác Hán Nôm trong một thời gian dài sau đó Đến câu cuối cùng trong bài viết, một lần nữa tác giả lại nhấn mạnh kì vọng vào thế hệ này: “Đó là một số ý kiến mà hôm nay chúng tôi thành thực muốn nêu lên để trao đổi cùng các anh chị em trẻ hiện đang đi vào con đường Hán Nôm, những người mà chúng tôi hi vọng rằng, trong một tương lai không xa, sẽ trở thành những chuyên gia chủ chốt trong ngành Hán Nôm học xã hội chủ nghĩa của Việt Nam” (tr 110)
b Đào tạo với mục tiêu bắt nhịp với học thuật quốc tế
Một trong những vấn đề thể hiện chủ trương đào tạo của GS Nguyễn Tài Cẩn đối với ngành Hán Nôm được thể hiện tóm lược trong đoạn văn sau:
“Mục đích của chúng ta rất thực tiễn: phải đọc được, hiểu được sách vở của tiền nhân để rút ra được những gì hữu ích cho công cuộc cách mạng Xã hội chủ nghĩa trước mắt Nhưng muốn đi đến kết quả thực tiễn lại cần phải có tầm nhìn lí luận Trong địa hạt Hán ngữ học thế giới, nhiều vấn đề rất cơ bản đang được đặt ra, nhiều phương pháp cực kì hiện đại đang được sử dụng Chúng ta không thể không biết đến những điều đó
Đọc sách, gặp quá nhiều chữ không biết, không hiểu nghĩa, đó cũng là một biểu hiện của trình độ chưa cao Nhưng sự non yếu về mặt
Trang 7này chưa thật nguy hiểm lắm, vì không hiểu thì còn có thể đi hỏi người này, người nọ, hoặc tra tự điển Nguy hiểm hơn là đứng trước vấn đề
mà không thấy có vấn đề, hay thấy có vấn đề rồi mà không biết làm như thế nào, nên hỏi ai, nên tra sách gì, nên tìm tòi theo hướng nào… Cho nên vấn đề nâng cao trình độ Hán ngữ học, theo dõi lí luận hiện đại về Hán ngữ học, tự trang bị cho mình một cái tầm nhìn không quá lạc hậu
so với tầm nhìn của thế giới Hán ngữ học, thiết nghĩ đó là một vấn đề cấp thiết chúng ta phải suy nghĩ, quyết tâm tìm cách giải quyết cho kì được.” (tr 106)
Độc giả có thể thấy, bản chất của đoạn trích này là nói đến vấn đề
“biết chữ” và “biết cách” GS Nguyễn Tài Cẩn cho rằng “biết chữ” cũng cần thiết, nhưng không quan trọng bằng “biết cách” Non yếu về chữ nghĩa thì có thể tự tra cứu hoặc đi hỏi Non yếu về phương pháp mới thực sự nguy hiểm, vì không nhận thức được vấn đề nghiên cứu, hoặc nếu có nhận thức được thì cũng không biết phải làm thế nào để giải quyết vấn đề Ở đây chúng ta cũng nhận biết được sự khác biệt căn bản giữa hai thế hệ học giả: một thế hệ các cụ đồ theo mô hình nhà Nho truyền thống, uyên bác, biết nhiều chữ nghĩa, đọc dịch văn bản rất tốt; bên cạnh đó là một thế hệ nhà khoa học trẻ, vừa học chữ nghĩa theo lối xưa (tất nhiên trình độ chữ nghĩa chưa thể so với các cụ đồ Nho!), lại vừa trang bị phương pháp luận nghiên cứu mới để sớm hoà nhập với nhịp điệu nghiên cứu của cộng đồng học giả quốc tế Hai thế hệ này cũng chính là hai nhóm công việc đặc trưng của ngành Hán Nôm ngay trong bối cảnh hiện nay: có những người thiên về phiên dịch văn bản Hán Nôm, và có những người thiên về giải đọc, phân tích và nghiên cứu vấn đề Hán Nôm
Ở phần kết bài, GS Nguyễn Tài Cẩn nhấn mạnh: “Phải cố gắng thường xuyên học hỏi để nâng cao trình độ, ngang tầm cỡ với ngành Hán ngữ học hiện đại của thế giới.” (tr 110)
c Đi vào nghiên cứu các vấn đề của Việt Nam trong bối cảnh Đông Á
GS Nguyễn Tài Cẩn đặc biệt lưu ý nhắc đi nhắc lại nhiều lần về vấn đề sử dụng tri thức chung, tri thức có tính quốc tế để nghiên cứu
về Việt Nam Ông viết: “Phải vận dụng tình độ đó vào việc tìm hiểu
Trang 8những nét đặc thù của truyền thống Hán Nôm Việt Nam, xây dựng một ngành Hán Nôm học cho Việt Nam; phải học tập nhiều để nghiên cứu tốt, nhưng lại phải mạnh dạn sớm đi vào nghiên cứu những vấn đề của Việt Nam.” (tr 110)
Tác giả nêu ra một số vấn đề cụ thể để thấy sự tương đồng giữa vấn đề Hán Nôm ở Việt Nam với ở các nước khác thuộc vùng Đông Á:
(i) nếu Việt Nam có Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái thì Trung Quốc có Sưu thần kí, Nhật Bản có Cổ sự kí, Nhật Bản thù kí, Triều Tiên có Tam quốc sử kí, Tam quốc di sự; (ii) nếu Việt Nam có chữ
Nôm phái sinh từ chữ Hán, thì Nhật Bản cũng có một lối viết như thế trước thời Manyogana (Vạn diệp giả danh), Katakana (Phiến giả danh)
và Hiragana (Bình giả danh), Triều Tiên cũng có một lối viết như vậy trước lối viết Yidu (Lại độc) và Hangul (Ngạn văn1), ngoài ra còn có thể kể tới chữ viết vùng Nữ Chân, vùng Tây Hạ, chữ Choang, chữ Bát
Tư Ba của Mông Cổ… (iii) nếu ở Việt Nam, những chứng tích xưa nhất của chữ Nôm thường gắn với Phật giáo, thì chữ Hiragana của Nhật cũng
gắn với Hoằng Pháp đại sư, bảng Tam thập lục tự mẫu của Trung Quốc gắn với hoà thượng Thủ Ôn, cuốn sách Vận kính cũng do “Phạn tăng
truyền chi, Hoa tăng tục chi,”2 trong Tam quốc di sự của Triều Tiên cũng
ghi chép về những mẫu văn tự để cúng ở chùa chiền…
Sau đó, ông nhấn mạnh: “Rõ ràng nhiều vấn đề trong truyền thống Hán Nôm của ta là những vấn đề nằm trong một tình hình chung có liên quan đến toàn vùng, phải có nhãn quan chung về toàn vùng, phải có sự hiểu biết về thư tịch toàn vùng, phải vận dụng phương pháp đối chiếu,
so sánh thì mới mong giải quyết tốt được.” (tr 107)
2.2 Đào tạo tri thức: Hán ngữ học là nền tảng
GS Nguyễn Tài Cẩn cho rằng cần tập trung đào tạo về mặt Hán học nói chung và Hán ngữ học nói riêng (tr 105) Sách Hán Nôm gồm có nhiều
1 Ngạn văn: Nguyên bản in nhầm thành “Ngôn văn” (tr 107) Trong văn cảnh này thì phải là “Ngạn văn” 諺文, tức là chữ Hangul (cũng viết “Hangeul”).
2 “ Phạn tăng truyền chi, Hoa tăng tục chi” 梵僧傳之 華僧續之 (Nhà sư Ấn Độ lưu truyền, nhà sư Trung Quốc kế tục) Đây là lời của Trịnh Tiều 鄭樵 trong sách Lục
thư lược六書略.
Trang 9môn loại theo chủ đề nội dung, như sách văn, sử, luật, triết, y…, mà mỗi nhà nghiên cứu có thể chỉ chuyên về một loại Nhưng trước khi muốn đi sâu nghiên cứu bất kì một loại sách nào thì cũng cần trang bị trình độ Hán ngữ học căn bản Trên cơ sở đó, ông nhấn mạnh: “Như vậy rõ ràng việc nâng cao trình độ Hán ngữ học là một việc phải đặt ra chung cho tất cả mọi người Chúng ta phải coi trọng việc này cũng như coi trọng việc nâng cao trình độ lý luận cơ bản và việc nâng cao trình độ chuyên ngành.” (tr 106).Thuật ngữ “Hán ngữ học” (nghiên cứu tiếng Hán) được ông giải thích là một ngành khoa học lớn trong lĩnh vực Đông phương học của thế giới, có lịch sử lâu đời Nói đến trình độ Hán ngữ học không phải chỉ đơn giản là nói đến vốn liếng dăm bảy ngàn chữ trong các sách Tứ Thư, Ngũ Kinh của Nho gia, hay những hiểu biết cụ thể về hư từ trong văn ngôn, về điển tích điển cố… Đó là ngành khoa học nghiên cứu các vấn đề của tiếng Hán trong lịch sử tồn tại, phát triển, truyền bá và ảnh hưởng của nó Ngành này được triển khai nghiên cứu ở nhiều trung tâm lớn trên nhiều nước, với đội ngũ chuyên gia đông đảo, sách vở rất nhiều “Có nghĩ đến những điều đó thì chúng ta mới có thể hình dung được chúng ta cần phải cố gắng nhiều như thế nào.” (tr 106).
Ở đoạn sau, tác giả phân tích kĩ hơn: “Muốn hiểu lối viết của tiền nhân, đâu có thể chỉ nói chung hai chữ “Văn ngôn” là được Ta đã tiếp xúc với lối viết của Bách gia chư tử thời thượng cổ Ta đã tiếp xúc với văn ngôn, thơ từ Hán, Đường, Tống Ta đã tiếp xúc với cả kinh, kệ Phật giáo, Đạo giáo Ta cũng chịu ảnh hưởng của cả lối văn đá1 nhiều Bạch thoại của thời trung cổ Do đó, nói đến việc nâng cao trình độ Hán ngữ học cũng không thể không nói đến việc nâng cao trình độ hiểu biết về lịch sử tiếng Hán.” (tr 107-108)
Một số vấn đề thuộc Hán ngữ học mà các “anh chị em trẻ” cần nâng cao trình độ, theo GS Nguyễn Tài Cẩn, là:
(i) Nghiên cứu chữ Nôm với tư cách một văn tự bản địa của Việt Nam, ở nước ngoài không thể có nhiều chuyên gia về chữ Nôm, đây
là địa hạt nghiên cứu mà học giả Việt Nam cần chủ động tổ chức thực hiện “Qua việc nghiên cứu chữ Nôm chúng ta có thể nâng cao trình độ
1 Đá: ở đây dùng với nghĩa là pha trộn, chen lẫn.
Trang 10anh chị em trẻ về nhiều mặt, ví dụ nâng [cao] tri thức về lịch sử tiếng Hán, tri thức về ngữ âm lịch sử tiếng Việt, tri thức về văn tự học, văn bản học, tri thức về từ nguyên học, về từ điển học…” (tr 108-109).(ii) Cách đọc Hán Việt “là một đề tài nghiên cứu thú vị Thế giới đã
có vài người chú ý đến, nhưng chưa đủ Chúng ta phải tiếp tục.” (tr 109).(iii) Vấn đề “nền ngôn ngữ văn học bằng chữ Hán ở Việt Nam đã
có nét đặc thù riêng, không thể đặt vào trong phạm trù văn ngôn của người Hán nữa.” (tr 109)
(iv) “Về ngữ pháp cũng vậy Phải có công trình nghiên cứu về
hệ thống ngữ pháp trong Hán văn ở Việt Nam, vì đây là một hệ thống riêng, không thể nào giống 100% với hệ thống dùng ở Trung Quốc” (tr 109) Theo GS Nguyễn Tài Cẩn, đi sâu vào ngữ pháp văn ngôn ở Việt Nam có thể giúp tìm ra được những nét đặc thù trong lối hành văn Việt Nam, giúp nhìn ra ảnh hưởng của tiếng Hán trong các giai đoạn lịch sử khác nhau và từ các nguồn thư tịch khác nhau
Như vậy, cùng với việc giới thiệu chung về hướng tiếp cận (approach) Hán ngữ học trong nghiên cứu Hán Nôm, GS Nguyễn Tài Cẩn cũng đã chỉ ra một cách khá cụ thể những vấn đề nghiên cứu then chốt trong hướng tiếp cận Hán ngữ học mà ông lưu ý mọi người cần quan tâm
2.3 Đào tạo kĩ năng: Học đi đôi với hành; làm việc nhóm
GS Nguyễn Tài Cẩn cho rằng “Tổ chức nghiên cứu sớm và tốt chính là tạo điều kiện để anh chị em cán bộ trẻ sớm có được một phương thức tốt để tự bồi dưỡng, tự rèn luyện” (tr 108); “Phải học tập nhiều để nghiên cứu tốt, nhưng lại phải mạnh dạn sớm đi vào nghiên cứu những vấn đề của Việt Nam, coi nghiên cứu là một phương thức học tập, phương thức tự rèn luyện” (tr 110) “Ý kiến thứ hai, chúng tôi muốn nêu lên là phải nhanh chóng đặt vấn đề tổ chức những nhóm nghiên cứu đi sâu vào tìm hiểu những nét đặc thù của riêng truyền thống Hán Nôm ở Việt Nam” (tr 108)
Từ những trích đoạn này, có thể nhận ra mối quan tâm của tác giả đến hai kĩ năng đối với thế hệ trẻ ngành Hán Nôm: một là học đi đôi với hành, hai là làm việc nhóm Học đi đôi với hành, vừa học vừa thực hành
Trang 11những điều được học, mạnh dạn triển khai những công trình nghiên cứu của mình để áp dụng những tri thức học được vào thực tiễn, điều đó sẽ giúp cho nhà nghiên cứu trẻ trưởng thành sớm hơn trong sự nghiệp.1
“Học” ở đây là tiếp thu tri thức và kĩ năng, “hành” là thực hiện nghiên cứu và có sản phẩm công bố Nhà khoa học trẻ cần thực hiện nghiên cứu theo nhóm hoặc độc lập, và sớm giới thiệu kết quả nghiên cứu dưới dạng các công bố khoa học Kĩ năng làm việc nhóm cũng cần thiết để các học giả có thể bổ trợ lẫn nhau trong quá trình nghiên cứu
3 Từ kì vọng của GS Nguyễn Tài Cẩn, nhìn nhận lại việc đào tạo trong nửa thế kỉ qua tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Bài viết của GS Nguyễn Tài Cẩn năm 1978 không phải là một báo cáo toàn diện, chỉnh thể về vấn đề đào tạo Hán Nôm theo nghĩa một chương trình đào tạo hay một triết lí đào tạo, nó dừng lại ở mức độ một ý kiến ngắn,
có điểm nhấn, chứ không chú trọng vào tính toàn diện Bài viết thể hiện quan điểm của một nhà khoa học hơn là quan điểm của một nhà hoạch định chính sách giáo dục và đào tạo Bên cạnh đó, đối tượng đào tạo được nhắc đến trong bài viết này không hẳn là các sinh viên còn đang theo học đại học,
mà có thiên hướng nói đến các nhà nghiên cứu trẻ đã tốt nghiệp đại học, đang theo đuổi sự nghiệp Hán Nôm theo hướng chuyên nghiệp
3.1 Đào tạo tiến sĩ và thạc sĩ
Để kiểm điểm lại thực tế đào tạo Hán Nôm trong tương quan so sánh với quan điểm của GS Nguyễn Tài Cẩn, sẽ là phù hợp nhất khi quan sát lịch sử đào tạo sau đại học và đào tạo thông qua thực tiễn công việc tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.2 Viện Nghiên cứu Hán Nôm bắt đầu đào tạo
1 Tất nhiên cũng có những người nói theo ngôn ngữ truyện chưởng là lên núi luyện công 10 năm, xuống núi “tung một chưởng” mà cả thiên hạ biết danh Nhưng nhóm này xuất hiện nhiều trong truyện võ hiệp chứ ít thấy xuất hiện trong giới học thuật hiện đại Tri thức khoa học xã hội và nhân văn có tính chiêm nghiệm, thiên về sự tích luỹ theo thời gian hơn là những phát kiến khai sáng theo kết quả thí nghiệm, khảo sát như thiên hướng của khoa học tự nhiên.
2 Tình hình chung về Viện Nghiên cứu Hán Nôm có thể tham khảo: Nguyễn Tuấn Cường, Trịnh Khắc Mạnh, “Nửa thế kỉ Viện Nghiên cứu Hán Nôm (1970-2020):
thành tựu và triển vọng”, Tạp chí Hán Nôm số 4/2020, tr 6-31. Ngoài ra, về đào tạo