3 điểm Chỉ ra sự giống và khác nhau trong quan điểm về cơ cấu của quy phạm pháp luật của tác giả các bài viết trên với tác giả Nguyễn Minh Đoan trong bài viết: “Một cách tiếp cận đối với
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ
MÔN LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Đề bài: 11
ĐỀ BÀI
Bài 11: Thông qua các bài viết: “Bàn về cơ cấu của quy phạm pháp luật” (Tạp
chí Luật học, số 1/2000); “Vấn đề cơ cấu của quy phạm pháp luật” (Tạp chí
Luật học, số 2/2004) của tác giả Nguyễn Quốc Hoàn, em hãy:
1 (5 điểm) Tóm tắt nội dung bài viết “Vấn đề cơ cấu của quy phạm pháp luật” trong khoảng 1200 từ (không quá 3 trang A4).
2 (3 điểm) Chỉ ra sự giống và khác nhau trong quan điểm về cơ cấu của quy phạm pháp luật của tác giả các bài viết trên với tác giả Nguyễn Minh Đoan trong bài
viết: “Một cách tiếp cận đối với quy phạm pháp luật” (Tạp chí Luật học, số 4/2004).
3 (2 điểm) Nhận xét về cơ cấu của quy phạm pháp luật được trình bày trong các văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay
MỤC LỤC
Trang 2ĐỀ BÀI 2
2 So sánh quan điểm của tác giả các bài viết trên với tác giả
Nguyễn Minh Đoan trong bài viết: “Một cách tiếp cận
đối với quy phạm pháp luật”.
2.1 Sự giống nhau 2.2 Sự khác nhau
3 Nhận xét về cơ cấu của quy phạm pháp luật được trình
bày trong các văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong khoa học pháp lý Việt Nam hiện nay, vấn đề về quy phạm pháp luật đặc biệt là về cơ cấu của quy phạm pháp luật vẫn còn là vấn đề cần được nghiên cứu sâu hơn Rất nhiều quan điểm khác nhau đã được đưa ra bởi tính phức tạp của nó, mỗi quan điểm lại dựa trên những khía cạnh khác nhau, có những ưu điểm và hạn chế khác nhau Với mong muốn có thể đồng nhất ý kiến của các nhà làm luật hiện nay cũng như để phục vụ ứng dụng pháp luật vào thực tiễn đời sống một cách hiệu quả nhất, sinh viên đã chọn đề tài số 11 để làm bài luận nghiên cứu
Trang 4NỘI DUNG
1 Tóm tắt nội dung bài viết.
Bài viết: “Vấn đề cơ cấu của quy phạm pháp luật” của tác giả Nguyễn Quốc
Hoàn trên Tạp chí Luật học, số 2/2004 nêu lên những quan điểm khác nhau về
cơ cấu của quy phạm pháp luật và nhấn mạnh ý nghĩa của việc nghiên cứu thấu đáo cơ cấu của quy phạm pháp luật đối với nhà làm luật nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung Nội dung bài viết tập trung chính vào hai vấn đề: i) Các quan điểm khác nhau về cơ cấu của quy phạm pháp luật và ưu điểm, hạn chế của các quan điểm ấy; ii) Quan điểm của tác giả về cơ cấu của quy phạm pháp luật
Đầu tiên, tác giả khẳng định việc nghiên cứu vấn đề cơ cấu của quy phạm pháp luật có ý nghĩa lý luận và thực tiễn; tuy nhiên trong khoa học pháp lý
Trang 5Việt Nam hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về cơ cấu của quy phạm pháp luật và mỗi quan điểm lại có những ưu điểm và hạn chế nhất định Quan điểm thứ nhất xuất phát từ các khái niệm cơ bản, cho rằng quy phạm pháp luật gồm ba bộ phận: giả định, quy định, chế tài Ý kiến thứ nhất đồng tình với quan điểm, ý kiến thứ hai lại cho rằng chỉ bao gồm hai bộ phận đó là giả định
và các hậu quả pháp lý Bên cạnh những ưu điểm được tác giả nêu ra như giải quyết vấn đề cấu trúc mang tính chất cơ học, tạo cơ sở cho việc xây dựng những khái niệm khác của pháp luật Quan điểm còn một số hạn chế: một là, thiếu bộ phận điều kiện để áp dụng chế tài; hai là, quan niệm chế tài là biện pháp xử lý chủ thể vi phạm vẫn chưa bao quát hết
Xét từ khía cạnh nội dung của quy phạm pháp luật, có hai ý kiến dựa trên quan điểm thứ hai Thứ nhất là quy phạm pháp luật gồm hai phần: phần quy định và phần mệnh đề; phần quy định gồm tình huống của hành động của chủ thể, hành động của chủ thể trong tình huống đó và thể thức hành động nhà nước mong muốn; phần mệnh đề có mệnh đề phạm vi và mệnh đề độc lập Thứ hai là quy phạm pháp luật có bốn bộ phận: đặc tính quy phạm, chủ thể quy phạm, hành động, điều kiện thực hiện Quan điểm đã làm sáng tỏ những vấn đề
có tính bản chất nhất của quy phạm pháp luật, tuy nhiên điểm hạn chế là chưa làm sáng tỏ được những biện pháp bảo đảm cho quy tắc được thực hiện Tác giả tiếp tục trình bày quan điểm thứ ba: mỗi quy phạm pháp luật có một phần quy tắc, chúng có quy phạm về xử phạt tương ứng và một vài quy phạm có một phần về chính sách xử phạt Ưu điểm của quan điểm này là đã làm sáng tỏ được mối quan hệ giữa cấu trúc và nội dung của quy phạm pháp luật; mặt khác, quan điểm vẫn coi việc bảo đảm thực hiện quy phạm pháp luật bằng những biện pháp chế tài, không phân biệt một cách rõ ràng quy phạm pháp luật với điều luật của một văn bản và chưa giải quyết được những nội dung bên trong của quy phạm pháp luật
Sau khi đã chỉ ra những ưu điểm, hạn chế của ba quan điểm nêu trên, tác giả
đề xuất quan điểm cá nhân của mình về cơ cấu của quy phạm pháp luật, gồm hai phần: a) Quy tắc; b) Bảo đảm Phần quy tắc bao gồm giả định và quy định, xác định cách xử sự của chủ thể gắn liền với những hoàn cảnh hay điều kiện nhất định; trong đó phần giả định gồm tình huống hành vi và chủ thể
Trang 6hành vi, quy định là phần xác định hành vi, thể thức hành vi của chủ thể trong những hoàn cảnh được xác định trong phần giả định Phần bảo đảm gồm giả định và biện pháp bảo đảm, xác định những biện pháp mà nhà nước dự kiến áp dụng đối với các chủ thể thực hiện hành vi ở hoàn cảnh trong giả định Để phân biệt giả định của phần quy tắc với giả định của phần bảo đảm, tác giả đã chỉ ra
sự giống nhau và khác nhau giữa hai bộ phận này và suy ra giả định của phần quy tắc là giả định tình huống hay giả định điều kiện, còn giả định của phần bảo đảm gọi là giả định hành vi Theo tác giả, hai phần quy tắc và bảo đảm có mối quan hệ mật thiết với nhau, giả định phần bảo đảm là sự kết hợp nội dung phần quy tắc, ngược lại sự vi phạm quy tắc là giả định của bảo đảm tiêu cực Dựa vào quá trình nghiên cứu của mình và các ý kiến về ba quan điểm trên, tác giả rút ra một số điểm cần chú ý: i) không phải quy phạm pháp luật nào cũng
có đầy đủ các bộ phận theo lí thuyết; ii) một quy phạm pháp luật với một phần quy tắc có thể kèm theo nó nhiều phần bảo đảm khác nhau và ngược lại; iii) khi xác định cơ cấu của quy phạm pháp luật đòi hỏi phải xuất phát từ nội dung -nội dung thể hiện sự mong muốn của nhà nước đối với hành vi của con người Ngoài hai phần cơ bản, quy phạm pháp luật còn có phần mệnh đề: khái niệm, hiệu lực văn bản
Sau khi trình bày xong quan điểm của mình, tác giả tiếp tục đưa ra khẳng định quan điểm đã phân biệt được điều luật với quy phạm pháp luật Hai lý do được nêu ra để chứng minh cho khẳng định trên: một là, một điều luật có thể chỉ chứa đựng một hoặc nhiều phần quy tắc hay một hoặc nhiều phần bảo đảm của các quy phạm pháp luật khác nhau; hai là, có những điều luật chỉ chứa đựng những mệnh đề của quy phạm pháp luật Đồng thời, tác giả xét một ví dụ
cụ thể để làm sáng tỏ sự khác nhau giữa quy phạm pháp luật và điều luật Cuối cùng tác giả tóm lại vấn đề, nhấn mạnh ý nghĩa của quan điểm nêu trên và việc giải quyết thấu đáo các khái niệm trong quy phạm pháp luật rất có ý nghĩa thực tiễn pháp luật ở nước ta hiện nay
Trang 72 So sánh quan điểm của tác giả các bài viết trên với tác giả Nguyễn
Minh Đoan trong bài viết: “Một cách tiếp cận đối với quy phạm pháp luật”.
2.1 Sự giống nhau
Nhìn chung cả ba quan điểm đều cho rằng quy phạm pháp luật bao gồm những nội dung như điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, chủ thể, quy định cách xử sự của chủ thể, biện pháp bảo đảm Cụ thể như giả định là phần xác định hoàn cảnh, điều kiện nhất định có thể xảy ra trong đời sống xã hội và cá nhân, tổ chức nằm trong phạm vi tác động của quy phạm pháp luật đó; hay việc xác định quyền và nghĩa vụ của chủ thể khi gặp những điều kiện hay hoàn cảnh được nêu trong phần giả định thể hiện trực tiếp ý chí của nhà nước
2.2 Sự khác nhau Quan điểm của tác giả Nguyễn Quốc Hoàn trong bài viết “Bàn về cơ cấu của quy phạm pháp luật” về khái niệm quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự do nhà
nước đặt ra hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các mối
quan hệ xã hội Quan điểm của tác giả Nguyễn Minh Đoan trong bài viết “Một cách tiếp cận đối với quy phạm pháp luật” về khái niệm quy phạm pháp luật là
quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh quan hệ xã hội nhằm đạt được những mục đích nhất định
Về cách tiếp cận vấn đề , trong bài “Vấn đề cơ cấu của quy phạm pháp luật” tác giả xuất phát từ nội dung cơ bản của khái niệm quy phạm pháp luật là “quy tắc xử sự” và “được nhà nước đảm bảo thực hiện” Bài “Một cách tiếp cận đối với quy phạm pháp luật” lại xuất phát từ quy phạm pháp luật thường chứa các câu hỏi như: ai? và khi nào? thì sẽ xử sự như nào hoặc hậu quả gì cần phải gánh chịu? Cuối cùng là trong bài viết “Bàn về cơ cấu của quy phạm pháp luật”, tác giả dựa trên cơ sở nhận thức quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội
Về cơ cấu của quy phạm pháp luật, quan điểm trong bài “Vấn đề cơ cấu của quy phạm pháp luật” cho rằng quy phạm pháp luật gồm phần quy tắc và phần bảo đảm Phần quy tắc xác định cách xử sự của chủ thể gắn liền với những
Trang 8hoàn cảnh, điều kiện nhất định trong đời sống xã hội, bao gồm giả định và quy định Phần bảo đảm xác định những biện pháp mà nhà nước dự kiến áp dụng đối với chủ thể trong giả định của phần quy tắc và với những điều kiện nhất định, gồm giả định hành vi và biện pháp bảo đảm Ngoài ra còn có phần mệnh
đề để nêu khái niệm, xác định hiệu lực văn bản… Quan điểm trong bài viết
“Một cách tiếp cận đối với quy phạm pháp luật” lại cho rằng quy phạm pháp luật gồm phần giả định và phần mệnh lệnh (chỉ dẫn), Phần giả định nêu lên chủ thể và điều kiện, hoàn cảnh; Phần chỉ dẫn nêu lên cách xử sự mà chủ thể có thể hoặc buộc phải thực hiện gắn với hoàn cảnh, điều kiện trong giả định Phần chỉ dẫn gồm hai nhóm: một là quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, hai là những biện pháp bảo đảm cho pháp luật được thực hiện Khác với hai quan điểm trên, bài viết “Bàn về cơ cấu của quy phạm pháp luật” cho rằng quy phạm pháp luật gồm ba bộ phận: giả định, quy định, chế tài Phần giả định trả lời câu hỏi cá nhân nào? tổ chức nào? khi nào? trong những hoàn cảnh điều kiện nào? Phần quy định xác định khuôn mẫu cho chủ thể khi họ ở vào hoàn cảnh hay điều kiện trong phần giả định Phần chế tài xác định biện pháp tác động mà nhà nước dự kiến áp dụng đối với chủ thể không thực hiện đúng mệnh lệnh trong phần quy định Và tác giả khẳng định thêm không phải bất kì trong trường hợp nào cũng có được các quy phạm pháp luật đầy đủ ba bộ phận
Về các loại biện pháp bảo đảm, bài viết “Vấn đề cơ cấu của quy phạm pháp luật” đưa ra biện pháp khen thưởng hoặc chế tài Bài “Một cách tiếp cận đối với quy phạm pháp luật” cho rằng có các loại biện pháp: khuyến khích, khen thưởng, chế tài, các biện pháp gây hậu quả bất lợi… Còn bài viết “Bàn về cơ cấu của quy phạm pháp luật” thì cho rằng có biện pháp chế tài, thuyết phục, giáo dục và động viên So sánh điều luật với quy phạm pháp luật, tác giả của bài viết “Vấn đề cơ cấu của quy phạm pháp luật” khẳng định quan điểm giúp ta
dễ dàng phân biệt được quy phạm pháp luật với điều luật Còn trong bài“Một cách tiếp cận đối với quy phạm pháp luật” lại cho rằng lý thuyết về quy phạm pháp luật sẽ gần với các điều luật hơn với cách tiếp cận của bài viết
Trang 93 Nhận xét về cơ cấu của quy phạm pháp luật được trình bày trong các văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay.
Dựa vào định nghĩa “quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh quan hệ xã hội theo những định hướng và nhằm đạt được những mục đích nhất định” 1, quy phạm pháp luật chứa những câu hỏi: Ai?, trong tình huống nào?, thì sẽ phải thực hiện những gì?, như thế nào?, nếu không làm như vậy thì sẽ phải gánh chịu những hậu quả gì?… Từ cách tiếp cận này cho thấy đa số các quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay được xây dựng theo cấu trúc gồm các bộ phận: giả định, quy định, chế tài hoặc các biện pháp tác động khác Tùy vào từng loại quy phạm pháp luật sẽ có những tính chất, đặc điểm khác nhau dẫn đến việc xây dựng cơ cấu, nội dung của các bộ phận quy phạm pháp luật cũng khác nhau Căn cứ vào đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh pháp luật, các quy phạm pháp luật được phân chia thành các nhóm lớn tương ứng là các ngành luật: quy phạm pháp luật hành chính, quy phạm pháp luật dân sự, quy phạm pháp luật hình sự 2 Ngoài ra còn rất nhiều ngành luật trong hệ thống pháp luật hiện nay nhưng em xin được chú trọng vào cơ cấu của quy phạm pháp luật hành chính và quy phạm pháp luật hình sự
Thông thường cơ cấu của quy phạm pháp luật hành chính bao gồm đầy đủ ba
bộ phận giả định, quy định, chế tài và nội dung từng phần cũng giống như các quy phạm pháp luật nói chung.3 Ba bộ phận cấu thành nên quy phạm pháp luật hành chính có thể được quy định trong một điều của văn bản quy phạm pháp luật, cũng có thể trong nhiều điều của một văn bản, thậm chí trong nhiều văn bản quy phạm khác nhau Về bộ phận giả định, do tính phức tạp của hoạt động quản lý hành chính, một số quy phạm đã nêu ra rất nhiều điều kiện, hoàn cảnh nhưng tính chính xác, xác định chưa cao Ví dụ phần giả định trong Điều 119
Luật xử lý vi phạm hành chính: “Trong trường hợp cần ngăn chặn kịp thời vi
phạm hành chính hoặc để bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính, người có
thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp sau đây theo thủ tục
1 Nguyễn Minh Đoan (2019), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, tr.317.
2 Nguyễn Minh Đoan (2019), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, tr.326-327.
3 Phạm Hồng Thái (2016), Quy phạm pháp luật hành chính và quan hệ pháp luật hành chính.
Trang 10hành chính…” 4 Quy định là phần trọng tâm, cơ bản của quy phạm pháp luật hành chính; trong nhiều văn bản, tuyệt đại bộ phận các điều khoản Luật hành chính chỉ nêu phần quy định, còn giả định hoặc ngụ ý, hoặc chỉ được ghi chung
ở một số ít điều Ví dụ trong Khoản 5, Điều 13 của Nghị định 30/2020/NĐ-CP
chỉ có phần quy định là “Người ký văn bản phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về văn bản do mình ký ban hành ” 5 Về phần chế tài, ngoài các biện pháp cưỡng chế hành chính còn có thể áp dụng các biện pháp trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm công vụ, các biện pháp tác động xã hội, trách nhiệm chính trị và đạo đức
Với nội dung là xác định tội phạm và quy định hình phạt, đa số quy phạm pháp luật hình sự đều có đầy đủ ba bộ phận: giả định, quy định và chế tài Trong đó phần giả định xác định chủ thể vi phạm cùng các điều kiện khác (nếu có) và hành vi phạm tội; phần chế tài chủ yếu áp dụng biện pháp cưỡng chế của nhà nước đến chủ thể vi phạm pháp luật Ngoài ra, phần quy định thường được thể hiện trong một số các quy phạm các văn bản quy phạm pháp luật khác; phần quy định hầu như là phủ định của phần giả định Do yêu cầu nghiêm ngặt về nội dung của quy phạm pháp luật hình sự nên cách trình bày quy phạm cũng mang tính chính xác cao, rõ ràng, ngắn gọn Tất cả những trường hợp có thể xảy ra, hành vi của chủ thể, trong hoàn cảnh nào thì áp dụng biện pháp cưỡng chế này… đều được liệt kê chi tiết, vừa để cơ quan nhà nước
có thẩm quyền thực hiện áp dụng pháp luật một cách chính xác, vừa là khuôn mẫu để công dân chấp hành nghiêm pháp luật Ví dụ Điều 155 Bộ luật hình sự
2015 quy định: “Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.” 6 Phần giả định là
“Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác”, trong đó chủ thể “người nào” được giải thích qua các điều luật về tuổi chịu
trách nhiệm hình sự (Điều 12 Bộ luật hình sự) và về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 21 Bộ luật hình sự) Phần quy định không được nêu rõ ràng trong quy phạm pháp luật nhưng ở dạng quy định ngầm Theo đó, quy định trong trường hợp này là không được xúc phạm nghiêm
4 Điều 119 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012.
5 Điều 13 Nghị định 30/2020/NĐ-CP về công tác văn thư.
6 Điều 155 Bộ luật hình sự 2015.