1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ý NGHĨA của văn bản QUY PHẠM PHÁP LUẬT đối với một số vấn đề của PHÁP LUẬT

14 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 83,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn bản quy phạm luật là văn bản do các chủ thể có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục, hình thức do pháp luật quy định, trong đó có chứa đựng các quy tắc xử sự chung để điều chỉn

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN

MÔN LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

- Xác lập quan hệ pháp luật;

- Thực hiện pháp luật;

- Truy cứu trách nhiệm pháp lý;

- Giáo dục pháp luật

Hà Nội, 2022

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 1

Trang 2

I MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1

II KHÁI QUÁT VỀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 2

III Ý NGHĨA CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỦA PHÁP LUẬT 3

1 Đối với việc xác lập quan hệ pháp luật 3

2 Đối với việc thực hiện pháp luật 5

3 Đối với truy cứu trách nhiệm pháp lý 7

4 Đối với giáo dục pháp luật 9

IV VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM 10

PHẦN KẾT LUẬN 11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

VBQPPL là một vấn đề được quan tâm nhiều khi nghiên cứu về Nhà nước và pháp luật Đây là một loại hình thức của pháp luật, song cũng là một trong những nguồn quan trọng của pháp luật VBQPPL là nơi chứa đựng những quy phạm pháp luật có tính bắt buộc chung do các chủ thể thực hiện công quyền ban hành và thừa nhận Với đặc điểm và vị trí đặc biệt như vậy, VBQPPL có ý nghĩa lớn đối với nhiều khía cạnh của pháp luật Cụ thể, trong bài viết này, tôi xin phân tích và làm rõ ý nghĩa của VBQPPL đối với việc xác lập QHPL, thực hiện pháp luật, TCTNPL và giáo dục pháp luật

PHẦN NỘI DUNG

I MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm liên quan đến VBQPPL, QHPL, thực hiện pháp luật, TCTNPL, giáo dục pháp luật Tuy nhiên trong bài viết này, tôi

sẽ chỉ đề cập đến các khái niệm được sử dụng phổ biến trong lý luận chung về nhà nước và pháp luật và đã được đề cập trong giáo trình môn Lý luận chung về nhà nước và pháp luật – Đại học Luật Hà Nội

Văn bản quy phạm luật là văn bản do các chủ thể có thẩm quyền ban hành theo

trình tự, thủ tục, hình thức do pháp luật quy định, trong đó có chứa đựng các quy tắc

xử sự chung để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội.1

Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh trong đó các

bên tham gia quan hệ pháp luật có quyền và nghĩa vụ pháp lý được nhà nước bảo đảm thực hiện.2

Thực hiện pháp luật là hành vi thực tế, hợp pháp, có mục đích của các chủ thể

được hình thành trong quá trình hiện thực hoá các quy định của pháp luật.3

1 Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, (Chủ biên: GS.TS Nguyễn

Minh Đoan, TS Nguyễn Văn Nam), NXB Tư pháp, Hà Nội, 2020, tr 289-290

2Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, (Chủ biên: GS.TS Nguyễn Minh

Đoan, TS Nguyễn Văn Nam), NXB Tư pháp, Hà Nội, 2020, tr 381

3Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, (Chủ biên: GS.TS Nguyễn Minh

Đoan, TS Nguyễn Văn Nam), NXB Tư pháp, Hà Nội, 2020, tr 401

Trang 4

Truy cứu trách nhiệm pháp lý là hoạt động thể hiện quyền lực nhà nước do cơ

quan nhà nước hay do nhà chức trách có thẩm quyền tiến hành nhằm cá biệt hóa bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật đối với các chủ thể vi phạm pháp luật.4

Giáo dục pháp luật là quá trình tác động một cách có hệ thống, có mục đích và

thường xuyên tới nhận thức của con người nhằm trang bị cho mỗi người trình độ pháp lý nhất định để từ đó có ý thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng và tự giác xử

sự theo yêu cầu của pháp luật.5

II KHÁI QUÁT VỀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Như đã đề cập, VBQPPL vừa là hình thức, vừa là nguồn của pháp luật Chính

vì thế, VBQPPL hiện diện trong nhiều hệ thống pháp luật quốc gia, nhóm quốc gia trên thế giới và thường được ưu tiên áp dụng Trong hệ thống pháp luật Civil Law (Pháp, Đức,…), đây là nguồn chủ yếu và quan trọng nhất Loại văn bản này là nơi chứa đựng các quy phạm pháp luật – các quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các hành vi, các chủ thể thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật; đồng thời cũng là một phương thức để các nhà nước công khai thể hiện ý chí của mình đến xã hội Mà các quy phạm pháp luật gồm

có ba bộ phận là giả định, quy định và chế tài, do đó, VBQPPL là nơi chứa đựng ba

bộ phận kể trên Mặt khác, khi nhìn nhận một cách khách quan, bên cạnh VBQPPL thì tập quán pháp và tiền lệ pháp cũng có những đặc điểm tương tự, tuy nhiên, ở VBQPPL vẫn có những ưu thế nhất định Tập quán pháp vốn được sinh ra từ những thói quen được lưu truyền từ đời này sang đời khác nên có sự thân thuộc, gần gũi nhất định, nhưng tính cập nhật thấp, lại khó thay đổi để đáp ứng nhu cầu cuộc sống Tiền lệ pháp lại được hình thành bởi sự thừa nhận cách ứng xử trong các quyết định

áp dụng pháp luật đặc thù, không mang tính khái quát nên trên thực tế phạm vi và đối tượng áp dụng là tương đối hẹp Trong khi đó, VBQPPL được hình thành theo những trình tự, thủ tục chặt chẽ, ngoài những ưu điểm như có độ chính xác cao, đảm bảo được sự nhất quán của hệ thống pháp luật, thì VBQPPL còn mang tính khoa học cao với hệ thống các quy phạm pháp luật được trình bày

4Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, (Chủ biên: GS.TS Nguyễn Minh

Đoan, TS Nguyễn Văn Nam), NXB Tư pháp, Hà Nội, 2020, tr 432

5Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, (Chủ biên: GS.TS Nguyễn Minh

Đoan, TS Nguyễn Văn Nam), NXB Tư pháp, Hà Nội, 2020, tr 462

Trang 5

rõ ràng, cụ thể, thống nhất; phạm vi và đối tượng điều chỉnh rộng, vươn tới hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống; song có tính linh hoạt, dễ sửa đổi để thích ứng với sự vận động, phát triển của xã hội Do vậy, VBQPPL được sử dụng khá phổ biến, nhất

là trong các hoạt động xác lập quan hệ pháp luật, thực hiện pháp luật, truy cứu trách nhiệm pháp lý và giáo dục pháp luật

BI. Ý NGHĨA CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI MỘT SỐ

VẤN ĐỀ CỦA PHÁP LUẬT

1 Đối với việc xác lập quan hệ pháp luật

Trước tiên, xác lập là lập nên trên cơ sở vững chắc6 Do đó, xác lập QHPL là việc thiết lập nên QHPL dựa trên những cơ sở vững chắc, bao gồm quy phạm pháp luật, năng lực chủ thể và sự kiện pháp lý Cả ba thành tố này đều được thể hiện cụ thể trong các VBQPPL

QHPL lại bao gồm ba bộ phận là chủ thể QHPL, nội dung QHPL, khách thể QHPL Các VBQPPL là cơ sở để xác định và cụ thể hoá các bộ phận cấu thành

QHPL dựa trên cơ sở của quy phạm pháp luật và năng lực chủ thể

Để xác lập một QHPL, cần đề cập đến chủ thể Bởi, QHPL về bản chất là quan

hệ xã hội có ý chí được pháp luật điều chỉnh, nên trên thực tế sẽ không có QHPL nào được thiết lập mà không có chủ thể tham gia Chủ thể của QHPL gồm các cá nhân (công dân nước sở tại, người nước ngoài, người không có quốc tịch), tổ chức (có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân) tham gia vào QHPL với những quyền và nghĩa vụ pháp lý theo năng lực của mình Tuỳ vào năng lực của từng chủ thể mà mức độ tham gia vào QHPL sẽ có sự khác nhau VBQPPL luôn xác định một cách cụ thể, rõ ràng chủ thể và các năng lực của chủ thể đó trong QHPL Các văn bản này quy định về năng lực pháp luật, tức là khả năng chủ thể có quyền

và nghĩa vụ pháp lý để được phép hoặc buộc phải tham gia vào QHPL Nhưng tham gia với mức độ nào, độc lập hay phụ thuộc vào các chủ thể khác lại phải dựa vào năng lực hành vi pháp luật của mỗi chủ thể Khi một cá nhân hay tổ chức cụ thể đáp ứng đầy đủ các điều kiện về độ tuổi, năng lực nhận thức, tình trạng sức khoẻ, thể lực theo những yêu cầu đặt ra trong các VBQPPL, họ sẽ chủ động

6 Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2003, tr 1140

Trang 6

tham gia và tự mình hiện thực hoá các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình trong

từng QHPL cụ thể Chẳng hạn, VBQPPL quy định, mọi người có quyền hiến mô, bộ

phận cơ thể người và hiến xác theo quy định của luật.7 Với quy định này, các chủ

thể là công dân Việt Nam có quyền và được phép tham gia vào QHPL hiến mô, bộ phận cơ thể của mình khi còn sống, hoặc hiến mô, bộ phận cơ thể, hiến xác sau khi

đã chết vì mục đích nhân đạo, tuy nhiên để thực hiện quyền này một cách độc lập,

cá nhân phải đáp ứng yêu cầu về độ tuổi (đủ từ 18 tuổi trở lên) và phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

Bộ phận thứ hai là nội dung QHPL, đó là những quyền và nghĩa vụ pháp lý Đây là bộ phận quan trọng chứa cơ sở quy phạm pháp luật, giúp xác định cách xử sự

của các chủ thể khi tham gia vào QHPL Trong đó, “quyền chủ thể là khả năng của

chủ thể được xử sự theo những cách thức nhất định mà pháp luật cho phép” 8 , còn

“nghĩa vụ chủ thể là cách xử sự mà chủ thể buộc phải thực hiện theo quy định của pháp luật…” 9 Việc thực hiện quyền hay nghĩa vụ theo những quy phạm pháp luật

nào, được đề cập rõ ràng và cụ thể tại các VBQPPL Chẳng hạn, trong QHPL kinh

doanh, VBQPPL xác định mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành

nghề, lĩnh vực mà pháp luật không cấm10, điều này giúp chủ thể chủ động nhận thức

được khả năng, giới hạn của mình khi tham gia vào các quan hệ kinh doanh, từ đó

có thể đưa ra cả những yêu cầu với các chủ thể khác trong việc đáp ứng nhu cầu tham gia vào quan hệ này Đối với nghĩa vụ của chủ thể trong QHPL, họ buộc phải

xử sự và chịu trách nhiệm pháp lý khi không thực hiện, hay thực hiện không đúng theo những khuôn mẫu chung mà pháp luật đưa ra trong VBQPPL Ví dụ, khi xem xét QHPL thuế, mọi công dân có nghĩa vụ phải nộp thuế cho nhà nước, nếu không

sẽ phải chịu mọi trách nhiệm pháp lý từ hành vi của mình Tuy nhiên, không phải VBQPPL nào cũng được phép quy định vấn đề quyền và nghĩa vụ của chủ thể Trên thực tế, chỉ có Hiến pháp và luật được quy định quyền con

7 Khoản 3, Điều 20, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013

8 Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, (Chủ biên: GS.TS Nguyễn Minh

Đoan,

TS Nguyễn Văn Nam), NXB Tư pháp, Hà Nội, 2020, tr 393

9Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, (Chủ biên: GS.TS Nguyễn Minh

Đoan, TS Nguyễn Văn Nam), NXB Tư pháp, Hà Nội, 2020, tr 393

10 Điều 33, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 7

người, quyền và nghĩa vụ của công dân nói chung và quyền và nghĩa vụ của chủ thể QHPL nói riêng

Khách thể của QHPL là “yếu tố làm cho giữa các bên chủ thể có mối quan hệ

pháp luật đối với nhau” 11 QHPL có thể phản ánh một hoặc nhiều yếu tố lợi ích cả

về vật chất lẫn tinh thần làm cho giữa các bên chủ thể đưa ra quyết định tham gia Thông qua các hình thức của khách thể QHPL như các tài sản vật chất, tiền, danh

dự, nhân phẩm,… các VBQPPL sẽ cụ thể hoá và góp phần tạo lập QHPL giữa các chủ thể Chẳng hạn, với khách thể là kết quả của các hoạt động tinh thần sáng tạo như tác phẩm văn học, nghệ thuật, âm nhạc, các phát minh, sáng chế,… các VBQPPL đưa ra những quy phạm về quan hệ sở hữu, quan hệ hưởng thụ lợi ích cho phép hoặc bắt buộc các chủ thể phải xử sự theo chuẩn mực nhất định

Ngoài quy phạm pháp luật và năng lực chủ thể, sự kiện pháp lý cũng là một cơ

sở xác lập QHPL được VBQPPL xác định Sự kiện pháp lý là những sự kiện thực tế

mà khi nó xảy ra sẽ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật Trong các VBQPPL, luôn đưa ra những dự liệu trong phần giả định của các quy phạm về những hiện tượng, hoàn cảnh, hành vi mà khi nó xảy ra hay nó được thực hiện trong thực tế sẽ tác động đến trạng thái của QHPL Song, các văn bản này cũng đưa ra căn

cứ để xác định các sự kiện pháp lý nhằm phân biệt nó với các sự kiện thông thường khác Ví dụ, quan hệ hôn nhân giữa anh A và chị B chỉ được xác lập khi có sự kiện pháp lý là đăng kí kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền, còn việc hai người gặp và nảy sinh tình cảm trước đó chỉ là một sự kiện làm phát sinh QHXH

Tóm lại, VBQPPL đưa ra những căn cứ pháp lý, đồng thời là cơ sở để xác định những điều kiện, cơ sở để QHPL được xác lập dễ dàng hơn cả về mặt lí luận lẫn thực tiễn

2 Đối với việc thực hiện pháp luật

Việc thực hiện pháp luật là một hoạt động thực tiễn, góp phần đưa pháp luật đến gần và đi vào cuộc sống Muốn thực hiện pháp luật hiệu quả, luôn cần có sự định hướng của các VBQPPL Trong các VBQPPL chứa đựng những quy phạm

11 Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, (Chủ biên: GS.TS Nguyễn

Minh Đoan, TS Nguyễn Văn Nam), NXB Tư pháp, Hà Nội, 2020, tr 395

Trang 8

pháp luật mang tính cho phép, bắt buộc, ngăn cấm đòi hỏi các chủ thể phải thực hiện theo những hình thức khác nhau là sử dụng pháp luật, tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và áp dụng pháp luật

Để việc thực hiện pháp luật diễn ra đúng theo ý chí của nhà nước, các văn bản này cung cấp cho chủ thể cơ sở pháp lý xác định các hành vi pháp luật nào được phép làm, buộc phải làm, không được làm (dù có khả năng) Ở hình thức sử dụng pháp luật – sự hiện thực hoá quyền của chủ thể, VBQPPL đưa ra các quy định cụ thể

về những quyền mà chủ thể được nhà nước tạo điều kiện và khả năng thực hiện,

tham gia, thụ hưởng Chẳng hạn, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nam, nữ có

quyền kết hôn,…” 12 Với tuân thủ pháp luật, VBQPPL đưa ra những mệnh lệnh mang tính ngăn cấm để kiềm chế các chủ thể không tiến hành các hành vi mà pháp luật cấm như giết người, buôn bán ma tuý,… dù họ hoàn toàn có điều kiện thực hiện

và muốn thực hiện Với thi hành pháp luật, VBQPPL sẽ đưa ra những quy định để các chủ thể buộc phải làm theo Ví dụ, VBQPPL nhiều quốc gia quy định công dân

có nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc Hình thức thực hiện pháp luật cuối cùng là áp dụng pháp luật Nếu ở ba hình thức trước đó, chủ thể thực hiện là mọi cá nhân, tổ chức, thì áp dụng pháp luật có chủ thể là các chủ thể có thẩm quyền do pháp luật quy định Bởi việc sử dụng, tuân thủ hay thi hành pháp luật trên thực tế không phải lúc nào cũng được thực hiện nghiêm chỉnh, do đó cần phải có sự can thiệp của các cơ quan, cá nhân nhà nước có thẩm quyền hoặc các tổ chức khác được trao quyền, nhằm tổ chức cho các chủ thể trong xã hội thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý, đồng thời đảm bảo thực hiện pháp luật diễn ra đúng đắn Đặc biệt, áp dụng pháp luật luôn có tính chủ quan từ các chủ thể áp dụng, do vậy nếu các VBQPPL với những giả định, quy định, chế tài được trình bày rõ ràng, súc tích sẽ là căn cứ pháp lý vững chắc giúp các chủ thể đưa ra những quyết định phù hợp với thực tế

“Trật tự pháp luật được coi là kết quả cuối cùng của thực hiện pháp luật” 13 và VBQPPL với ý nghĩa là nền tảng định hướng và đưa ra căn cứ pháp lý cho các chủ thể pháp luật đã giúp việc thực hiện pháp luật trở nên chính xác, hiệu quả, tiến gần tới việc xác lập trật tự pháp luật

12 Khoản 1, Điều 36, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013

13 Lê Vương Long, Những vấn đề về quan hệ pháp luật, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr 163

Trang 9

3 Đối với truy cứu trách nhiệm pháp lý

TCTNPL là một dạng áp dụng pháp luật đặc biệt mà trong đó các chủ thể có thẩm quyền xem xét áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật Trong TCTNPL, VBQPPL luôn hiện hữu và xác định các căn cứ pháp lý để tác động vào toàn bộ hoạt động này

Thứ nhất, VBQPPL xác định trình tự, thủ tục, chủ thể tiến hành TCTNPL TCTNPL là một dạng áp dụng pháp luật đặc biệt, do vậy cần được tiến hành theo những trình tự, thủ tục chặt chẽ, thống nhất được quy định trong các VBQPPL Bên cạnh đó, không phải ai cũng có thẩm quyền TCTNPL mà chỉ những chủ thể được quy định trong VBQPPL mới được phép thực hiện hoạt động TCTNPL đối với các chủ thể vi phạm pháp luật Những VBQPPL xác định những vấn đề này có thể kể đến các bộ luật, luật tố tụng trong lĩnh vực hình sự, dân sự, hành chính,… Chẳng hạn với vi phạm pháp luật dân sự, bộ luật tố tụng dân sự đặt ra các thủ tục giải quyết

vụ việc như khởi kiện, xét xử, thi hành bản án,… và quy định trình tự tiến hành các thủ tục đó, như với xét xử phải từ cấp sơ thẩm, đến phúc thẩm nếu bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị (thậm chí trong một số trường hợp đặc biệt có thể tổ chức giám đốc thẩm theo quy định của luật); song cũng xác định các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự (Tòa án, Viện kiểm sát), người tiến hành tố tụng dân sự (Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên)

Thứ hai, với bộ phận giả định, quy định, chế tài của các quy phạm pháp luật, VBQPPL xác định đâu là hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm ở mức độ nào và phải chịu hậu quả pháp lý ra sao Phần giả định đưa ra dự liệu về hoàn cảnh, điều kiện và chủ thể còn quy định nêu ra những khuôn mẫu, hành vi của chủ thể thông qua quyền

và nghĩa vụ pháp lý, từ đó giúp chủ thể có thẩm quyền, xác định các dấu hiệu vi phạm Với bộ phận chế tài lại đưa ra những biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật Là một hình thức của pháp luật nên VBQPPL đặt ra nhiều loại chế tài mang tính cưỡng chế, bắt buộc, các chế tài thường không cố định, nhằm tạo sự linh hoạt mà vẫn đảm bảo thống nhất trong việc truy cứu ở

Trang 10

từng địa phương trong cả nước Ví dụ, với hành vi không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông, tùy từng trường hợp có tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ sẽ bị phạt tiền từ 400.000 đến 600.000 đồng Trong khi đó, nếu sử dụng tập quán pháp, hoạt động TCTNPL sẽ xảy ra tình trạng mỗi nơi giải quyết một kiểu, không tuân theo một nguyên tắc nhất định nào, do tập quán ở mỗi nơi có sự khác biệt

Thứ ba, VBQPPL là nguồn để các chủ thể có thẩm quyền thực hiện truy cứu xem xét, đánh giá, đối chiếu các quy phạm pháp luật có trong những VBQPPL khác nhau, để đưa ra biện pháp cưỡng chế cá biệt phù hợp với từng vụ việc Lấy ví dụ, với hành vi trốn thuế, chiếu theo Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 đây là hành vi

vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hành chính, do vậy, khi TCTNPL các chủ thể trốn thuế sẽ chịu các biện pháp cưỡng chế hành chính Tuy nhiên, trốn thuế có thể trở thành hành vi phạm tội nếu thỏa mãn những dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định tại điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và phải chịu các biện pháp cưỡng chế nhà nước trong lĩnh vực hình sự như phạt tiền, phạt tù, Do đó, khi đã xác định được hành vi vi phạm pháp luật, muốn tiến hành TCTNPL chính xác, chủ thể có thẩm quyền phải dựa vào nhiều VBQPPL để so sánh, đánh giá vụ việc mà đưa ra các biện pháp cưỡng chế thỏa đáng

Thứ tư, VBQPPL xác định thời hiệu TCTNPL Thời hiệu TCTNPL là một yếu

tố quan trọng trong hoạt động truy cứu, là khoảng thời gian nhất định mà chủ thể vi phạm pháp luật có thể bị truy cứu trách nhiệm pháp lý, nếu hết thời hạn đó mà chưa truy cứu thì không được truy cứu nữa Tại nhiều VBQPPL chỉ ra những quy định chi tiết, rõ ràng về thời hiệu đối với việc TCTNPL Ví dụ, Bộ Luật hình sự 2015 (sửa

đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được

quy định như sau: a) 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;…” 14 Với những quy

định như vậy, một mặt giúp các chủ thể thực hiện truy cứu dễ dàng xác định được thời gian được phép thực hiện truy cứu đối với chủ thể vi phạm pháp luật hơn, một mặt tạo ra ràng buộc chính xác về thời gian để các cơ quan, nhà chức trách có thẩm quyền tăng cường thực hiện nhiệm vụ của mình trong hoạt động truy cứu

14 Khoản 2, Điều 27, Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Ngày đăng: 28/07/2022, 16:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, (Chủ biên: GS.TS. Nguyễn Minh Đoan, TS. Nguyễn Văn Năm), NXB Tư pháp, Hà Nội, 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật
Nhà XB: NXB Tư pháp
11. Đại học Quốc gia Hà Nội – Khoa Luật, Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, (Chủ biên: PGS.TS Hoàng Thị Kim Quế), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
12. Lê Vương Long, Những vấn đề về quan hệ pháp luật, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề về quan hệ pháp luật
Nhà XB: NXB Tư pháp
13. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
14. Nguyễn Thị Hồi, Các loại nguồn của pháp luật Việt Nam hiện nay, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 12 (128) tháng 8/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loại nguồn của pháp luật Việt Nam hiện nay
16. Tưởng Duy Lượng, Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 22 (374)/Kỳ 2, tháng 11/2018<http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=207658&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự trong Bộ luật Dân sự năm 2015
18. Phạm Minh Tuyên, Một số vướng mắc, bất cập từ những quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và xóa án tích, Học viện Tòa án, 07/01/2017<http://hvta.toaan.gov.vn/portal/page/portal/hvta/27676686/27677461 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vướng mắc, bất cập từ những quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và xóa án tích
1. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 Khác
2. Bộ luật dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Khác
5. Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 Khác
6. Luật phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 Khác
8. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 Khác
9. Nghị định số 123/2021/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải; giao thông đường bộ, đường sắt; hàng không dân dụng Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w