Chương III VĂN HÓA TỔ CHỨC VÀ ĐỜI SỐNG TẬP THỂ I TỔ CHỨC NÔNG THÔN 1 1 Tổ chức nông thôn theo huyết thống Gia đình và Gia tộc Những người cùng quan hệ huyết thống, gắn bó mật thiết với nhau thành đơn.
Trang 1Chương III VĂN HÓA TỔ CHỨC VÀ ĐỜI SỐNG TẬP THỂ
I TỔ CHỨC NÔNG THÔN
1.1 Tổ chức nông thôn theo huyết thống: Gia đình và Gia tộc.
Những người cùng quan hệ huyết thống, gắn bó mật thiết với nhauthành đơn vị cơ sở là GIA ĐÌNH Gia đình là đơn vị cấu thành GIA TỘC Đối với người Việt, gia tộc là một cộng đồng gắn bó, có vai trò đôi khicòn quan trọng hơn cả gia đình Họ coi trọng các khái niệm liên quan đếngia tộc như:
Ở Việt Nam, làng và gia tộc (họ) có khi còn đồng nhất với nhau Dấuvết hiện tượng “làng là nơi ở của một họ” còn lưu lại trong hàng loạt tênlàng: Đặng Xá (nơi ở của họ Đặng), Ngô Xá, Đỗ Xá, Trần Xá, Nguyễn Xá,Châu Xá, Lê Xá Cho đến tận bây giờ, người già trong làng vẫn thíchsống theo lối đại gia đình, họ rất hãnh diện nếu đứng đầu một gia đình
“tam đại đồng đường” quần tụ được 4 đến 5 thế hệ Ở các dân tộc ítngười thường phổ biến tình trạng các thế hệ của một đại gia đình, một giatộc sông tập trung dưới một mái nhà dài – loại nhà này có thể dài tới trên
30 mét, với số lượng thậm chí tới hơn 100 người
Sức mạnh của gia tộc thể hiện ở tinh thần đùm bọc, thương yêunhau Người trong học có trách nhiệm cưu mang nhau về mặt vật chất
“sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì”; hỗ trợ nhau về trí tuệ lẫn tinh thần “Nó
Trang 2lú nhưng chú nó khôn”, và dìu dắt nhau, làm chỗ dựa cho nhau về mặtchính trị “một người làm quan, cả họ được nhờ”
Quan hệ huyết thống là quan hệ hàng dọc, theo thời gian Là cơ sở của tính tôn ti Người Việt có hệ thống tôn ti trực tiếp rất chi li, phân biệt
rạch ròi tới 9 thế hệ hay còn gọi là cửu tộc
Hệ thống cửu tộc này thuộc loại hiếm gặp trên thế giới, bởi trongtiếng Việt cả chín thế hệ đều chỉ biểu thị bằng những từ đơn tiết, điều đócho thấy sự phân biệt này đã hành thành rất lâu trước đây
Trong khi đó ở các ngôn ngữ phương Tây chỉ phân biệt 1 thế hệ phía trên
và 1-2 thế hệ phía dưới Đối với các thế hệ xa hơn thì được diễn giải bằng
từ ghép Ví dụ như: father(cha); grandfather (ông); great-grandfather(cụ); forefather (cụ kị) Hay ngay trong cả tiếng Trung Hoa cũng vậy.Tôn ti gián tiếp (con chú, con bác, anh em họ) cũng được quy địnhrất nghiêm ngặt Các cụ hay dạy con cháu “Xanh đầu con nhà bác, bạcđầu con nhà chú”; “Bé bằng củ khoai, cứ vai mà gọi” Có nghĩa là theothứ bậc trong họ tộc, những người ở chi trên là đàn anh, ở chi dưới là đàn
em Vì vậy, dù nhiều tuổi nhưng những người thuộc chi dưới vẫn là đàn
em của người ít tuổi ở chi trên nên quyền hành không bằng, phải chịu lép
vế (nguồn tham khảo Từ điển Thành ngữ Việt Nam).
Nhưng tính tôn ti dẫn đến mặt trái là óc gia trưởng Tổ chức
nông thôn theo huyết thống đi theo hướng ngày càng coi trọng vai trò củagia đình hạt nhân – gia đình một mẹ một cha, và một hoặc nhiều con, và
nuôi dưỡng tính tư hữu Kiểu gia đình này cũng ngày càng trở nên phổ
biến
1.2 Tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú: Xóm và Làng
Những người sống gần, có xu hướng liên kết chặt chẽ với nhau, LÀNG
và XÓM là sản phẩm của mối liên kết này
Việc tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú chính là bước thứ hai: Saukhi công xã thị tộc tan rã và chuyển thành công xã nông thôn thì cácthành viên trong làng không chỉ gắn bó với nhau về mặt huyết thống,quan hệ máu mủ mà gắn bó bằng những quan hệ sản xuất
Trang 3Tuy nhiên, những quan hệ sản xuất này ở Việt Nam cũng khác hẳnphương Tây K Marx từng có nhận xét về nông thôn phương Tây là “cáibao tải khoai tây” – mỗi củ khoai trong bao là một củ khoai tây Bởi vì cácgia đình sống gần nhau, tuy giữa họ có mối liên hệ nhưng lại sống theokiểu trang trại, quan hệ lỏng lẻo và phần nhiều mang tính xã giao
Còn ở Việt Nam, thứ nhất để đối phó với môi trường tự nhiên, đápứng nhu cầu cần đông người của nghề trồng lúa nước mang tính thời vụ,người dân Việt Nam truyền thống không chỉ cần đẻ nhiều mà còn làm đổicông cho nhau
Thứ hai, để đối phó với môi trường xã hội như trộm cướp, cả làngphải hợp sức lại mới có hiệu quả Chính vì thế mà người Việt liên kết vớinhau chặt chẽ tới mức “bán anh em xa, mua láng giềng gần” Nguyên tắcnày bổ sung cho nguyên tắc “một giọt máu đào, hơn ao nước lã” NgườiViệt Nam không thể thiếu anh em họ hàng, nhưng đồng thời cũng khôngthể thiếu được bà con làng xóm
Cách tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú dựa trên quan hệ hàng ngang, theo không gian Nó là nguồn gốc của tính dân chủ Bởi lẽ muốn
giúp đỡ nhau, muốn có quan hệ lâu dài thì phải tôn trọng, bình đẳng vớinhau Đó hình thức dân chủ sơ khai, dân chủ làng mạc; trong lịch sử nền
dân chủ nông nghiệp này có trước nền dân chủ tư sản phương Tây Tính dân chủ bình đẳng này kéo theo mặt trái là thói dựa dẫm, ỷ lại và thói đố
Trang 4Bên cạnh phường để liên kết những người cùng nghề ở nông thônViệt Nam và mở rộng ra là xã hội Việt Nam, còn có HỘI là tổ chức nhằmliên kết những người cùng sở thích, thú vui, đẳng cấp: Hội tư văn liên kếtcác quan văn cùng làng, Hội văn phả liên kết các nhà nho trong làngnhưng không làm quan, Hội võ phả của những người theo nghề võ, Hộichư bà của các cụ bà hay đi chùa
Phường và hội rất gần nhau, nhưng phường mang tính chất chuyên
môn sâu hơn và luôn được giới hạn trong qui mô nhỏ
Tổ chức nông thôn theo sở thích, nghề nghiệp là sự tổ chức theo
chiều ngang Đặc trưng của phường, hội mang tính dân chủ - những người
cùng phường hội có trách nhiệm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau
1.4 Tổ chức nông thôn theo truyền thống nam giới: Giáp
Đây là hình thức tổ chức có lẽ xuất hiện muộn sau này, tạo nên đơn
vị là GIÁP Trong giáp, đứng đầu giáp là ông cai giáp (câu đương); giúp việc cho cai giáp là các ông lềnh gồm có lềnh nhất, lềnh hai, lềnh ba.
Đặc điểm của Giáp:
+ Chỉ có đàn ông tham gia
+ Mang tính chất “cha truyền con nối” Cha ở giáp nào thì con vàogiáp ấy
Giáp phân biệt thành 3 lớp tuổi chủ yếu: ti ấu (từ nhỏ đến 18 tuổi), đinh (hoặc tráng: đinh = đứa, tráng = khỏe mạnh) và lão.
Vinh dự tối cao của thành viên hàng giáp là lên lão Tuổi lên lão
thông thường là 60, tuy nhiên có nhiều làng quy định tuổi lên lão là 55hoặc 50, thậm chí có làng còn hạ tuổi lên lão xuống 49 Cách tổ chức thôn
theo “giáp” ra đời muộn, nhưng nó lại xây dựng trên nguyên tắc trọng tuổi già là truyền thống rất lâu đời.
Khác với nền văn hóa gốc du mục trọng sức mạnh, cư dân nôngnghiệp sống phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên cần những người giàu kinhnghiệm – điều chỉ có được ở tuổi già Ở các dân tộc miền núi, những nơi
không chịu ảnh hưởng văn hóa Trung hoa, từ xưa đến nay già làng, hội
Trang 5đồng già làng vẫn nắm toàn bộ quyền hành Ở vùng người Việt miền xuôi
thì quyền lực được giao lại cho lớp trẻ hơn, nhưng truyền thống trọng lão
vẫn được duy trì – người ta vẫn kính lão đắc thọ; kính già, già để tuổi cho.
Khi làng có việc, các cụ già tùy theo tuổi tác mà được ngồi nganghàng với quan viên chức sắc Quy định phổ biến là các cụ 60 ngang hàng
với tú tài, 70 ngang hàng với cử nhân, 80 ngang với tiến sĩ Có nơi tôn xưng gọi các cụ già là quan lão.
Giáp là một tổ chức mang tính hai mặt: bởi vì giáp vừa được tổ chức
theo chiều dọc (theo lớp tuổi) và vừa được tổ chức theo chiều ngang
(những người cùng làng)
+ Một mặt, giáp mang tính tôn ti; là môi trường tiên thân bằng tuổi
tác: sống lâu lên lão làng
+ Mặt khác, giáp mang tính dân chủ: tất cả thành viên cùng lớp tuổi
đều bình đẳng như nhau, cứ đến tuổi ấy thì sẽ có địa vị ấy
1.5 Tổ chức nông thôn theo đơn vị hành chính: Thôn và Xã
Về mặt hành chính, làng được gọi là XÃ (có khi một xã gồm nhiềulàng), xóm được gọi là THÔN (có khi một thôn gồm nhiều xóm) Ngoài ra
nông thôn Nam bộ còn có ấp (ấp là xã thôn lập ra ở nơi mới khai khẩn
hoặc thôn ở biệt lập)
Trong xã, sự phân biệt rõ rệt nhất là dân chính cư và dân ngụ cư (còn gọi là dân nội tịch và dân ngoại tịch) Dân chính cư là dân gốc làng ấy,
dân ngụ cư là dân từ nơi khác đến trú ngụ Sự phân biệt này hết sức gắtgao: dân chính cư luôn có đủ quyền lợi, còn dân ngụ cự bị miệt thị, khinh
rẻ Sự đối lập này là sản phẩm của cơ chế văn hóa nông nghiệp: đó là một
phương tiện duy trì sự ổn định của làng xã Dùng để hạn chế việc người
nông dân bỏ làng ra ngoài, cũng như hạn chế người ngoài vào sống ởlàng Bất kì ai, ở bất kì làng nào, nếu bỏ làng mình ra đi thì sẽ không đâudung nạp, sẽ rơi vào thân phận đáng sợ của dân ngụ cư
Ngoài ra, dân ngụ cư cũng có thể được công nhận là dân chính cưnếu thoả mãn hai điều kiện: thứ nhất đã cư trú ở làng từ 3 đời trở lên vàthứ hai là có một ít điền sản Điều kiện thứ nhất đảm bảo con cháu dân
Trang 6ngụ cư đã yên tâm với cuộc sống ở đây, điều kiện thứ hai đảm bảo sự gắn
bó với đất đai - ruộng đất, không dễ bỏ túi mang theo như tiền bạc được.Dân chính cư chia thành 5 hạng:
+ Chức sắc: những người đỗ đạt hoặc có phẩm hàm;
+ Chức dịch: những người đang làm việc trong xã;
+ Lão: những người thuộc hàng lão trong các giáp;
+ Đinh: những trai đinh trong các giáp;
+ Ti ấu: hạng trẻ con của các giáp.
Hai hàng trên cùng tạo thành một bộ phận gọi là quan viên hàng xã
và thường được chia thành ba nhóm: kì mục (có trách nhiệm bàn bạc tập thể và quyết định công việc của xã), kì dịch hay lí dịch (thường do Hội
đồng kì mục cử ra, có trách nhiệm thi hành mọi quyết định của hội đồng
kỉ mục), kì lão (những người cao tuổi nhất trong xã có vai trò tư vấn cho
Hội đồng kì mục)
Trực tiếp làm việc, tiếp xúc với dân, với quan trên là lí dịch Ba hạngdân bên dưới – lão, đinh, ti ấu – là đối tượng quản lí của lí dịch Đây chính
là ba lớp tuổi nằm trong các giáp do các giáp cai quản
Nhờ biết dựa vào giáp như một tổ chức truyền thống hoàn toàn tự
nguyện và rất ổn định (do mang tính cha truyền con nối) nên bộ máy hành chính của các làng xã Việt Nam cổ truyền rất gọn nhẹ Đứng đầu ban lí dịch là lí trưởng (hay xã trưởng), dưới ông ta có phó lí (giúp việc), hương trưởng (lo việc công ích) và trương tuần (hay xã tuần, lo việc an ninh tuần phòng) Phương tiện quản lí của lí dịch chỉ có hai loại sổ: sổ đinh và sổ điền (một tay nắm nhân lực, một tay nắm kinh tế).
Cách thức tổ chức bộ máy hành chính xã thôn Việt Nam như vậy đãđược hình thành dần dần như một sản phẩm lịch sử của quá trình pháttriển văn hóa dân tộc
1.6 Tính cộng đồng và tính tự trị: hai đặc trưng cơ bản của nông thôn Việt Nam
Trang 71.6.1 Tính cộng đồng hình thành từ việc tổ chức nông thôn đồng
thời theo nhiều nguyên tắc khác nhau; là sự liên kết các thành viên tronglàng lại với nhau, mỗi người hướng tới người khác – đây là đặc trưngdương tính, hướng ngoại
Sản phẩm của tính cộng đồng ấy là một tập thể mang tính tự trị:
làng nào biết làng ấy, các làng tồn tại khá biệt lập với nhau và phần nàođộc lập với triều đình phong kiến Mỗi làng là một “vương quốc” nhỏ khép
kín, có luật pháp riêng (mà các làng gọi là hương ước) và “tiểu triều đình” riêng (gồm hội đồng kì mục là cơ quan lập pháp và lí dịch là cơ quan hành pháp; nhiều làng tôn xưng bốn cụ cao tuổi nhất làng là tứ trụ) Sự biệt lập
đó tạo nên truyền thống phép vua thua lệ làng Tình trạng này thể hiện
quan hệ dân chủ đặc biệt giữa nhà nước phong kiến với làng xã ở ViệtNam
Ông Phạm Văn Đồng từng nhận định: “Trong lịch sử lâu đời của dântộc, làng vừa có tính đẳng cấp phong kiến (= tôn ti), vừa có tính cộng
đồng (= dân chủ) rất đáng quý Lúc bấy giờ câu nói “Phép vua thua lệ làng” có cái đạo lí chân chính của nó thể hiện một dạng dân chủ mà phải
biết nhìn với con mắt lịch sử thì mới thấy hết ý nghĩa độc đáo”
Tính cộng đồng và tính tự trị chính là hai đặc trưng bao trùm nhất,quan trọng nhất của làng xã, chúng tồn tại song song như hai mặt củamột vấn đề
1.6.2 Biểu tượng truyền thống của tính cộng đồng là sân đình – bến
nước – cây đa
Làng nào cũng có một CÁI ĐÌNH Đó là biểu tượng tập trung nhất
của làng về mọi phương diện Đình thực ra là một tên gọi mới, phổ biếntrong người Việt miền xuôi để chỉ nhà rông (một khái niệm cũ, một kiếntrúc truyền thống rất lâu đời mà cho đến tận ngày nay vẫn còn tồn tại).Đình là:
+ Trung tâm hành chính: nơi diễn ra mọi công việc quan trọng, nơi
hội họp, thu sưu thu thuế, nơi giam giữ và xử tội phạm nhân…
Trang 8+ Trung tâm văn hoá: nơi tổ chức hội hè, ăn uống, biểu diễn chèo
tuồng
+ Trung tâm về mặt tôn giáo: Thế đất, hướng đình được xem là
quyết định vận mệnh cả làng; đây cũng là nơi thờ thần Thành Hoàng bảotrợ cho dân làng
+ Trung tâm về mặt tình cảm: nói đến làng là nghĩ đến đình với tất
cả những tình cảm gắn bó thân thương nhất: Qua đình ngả nón trôngđình, Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu…
Do ảnh hưởng của trung Hoa, đình từ chỗ là nơi tập trung của tất cảmọi nghi dần dần chỉ còn là chốn lui tới của đàn ông Bị đẩy ra khỏi đình,
phụ nữ quần tụ lại nơi BẾN NƯỚC (ở những làng không có sông chảy qua
thì có GIẾNG nước) – chỗ hàng ngày chị em gặp nhau cùng rửa rau, vogạo, giặt giũ, chuyện trò
CÂY ĐA cổ thụ mọc um tùm ở đầu làng, gốc cây có miếu thờ lúc nào
cũng khói hương nghi ngút – đó là nơi hội tụ của thánh thần: thần cây da,
ma cây gạo, cú cáo cây đề; Sợ thần sợ cả lây da Cây đa, gốc cây có quánnước, còn là nơi nghỉ chân gặp gỡ chỉ những người đi làm đồng, nhữngkhách qua đường… Nhờ khách qua đường, gốc cây đa trở thành cánh cửa
sổ liên thông làng với thế giới bên ngoài
Biểu tượng truyền thống của tính tự trị là LŨY TRE Rặng tre bao kín
quanh làng, trở thành một thứ thành lũy kiên cố bất khả xâm phạm: đốtkhông cháy, trèo không được, đào đường hầm thì vướng rễ không qua(chính vì vậy mà tiếng Việt gọi rặng tre là luỹ, thành luỹ) Luỹ tre là mộtđặc điểm quan trọng làm cho làng xóm phương Nam khác hẳn ấp lí TrungHoa có thành quách đắp bằng đất bao bọc
Tính cộng đồng và tính tự trị là hai đặc trưng gốc rễ, chúng là nguồngốc sản sinh ra hàng loạt ưu điểm và nhược điểm về tính cách của ngườiViệt Nam:
1.6.3 Tính cộng đồng nhấn mạnh sự ĐỒNG NHẤT.
Hệ quả tốt:
Trang 9- Do đồng nhất (cùng hội cùng thuyền, cùng cảnh ngộ) nên người
Việt Nam luôn có tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái rất cao.
Họ coi mọi người trong cộng đồng như người thân trong nhà: tay đứt ruộtxót; chị ngã em nâng, lá lành đùm lá rách…
- Do đồng nhất (giống nhau) nên người Việt Nam có tinh thần tập thể rất cao, hoà đồng vào cuộc sống chung Đây cũng chính là ngọn nguồn của nếp sống dân chủ - bình đẳng (thể hiện ở các nguyên tắc
tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú, nghề nghiệp, giáp)
- Sự đồng nhất (giống nhau) còn dẫn đến tính hay dựa dẫm, ỷ lại
vào tập thể ở người Việt Nam: Nước trôi thì bèo trôi, Nước nổi thì thuyềnnổi Tệ hơn nữa là Cha chung không ai khóc; Lắm sãi không ai đóng cửachùa…
- Đi đôi với thói dựa dẫm, ỷ lại là tư tưởng cầu an (an phận thủ thường) và cả nể, làm gì cũng sợ rút dây động rừng nên thường chủ
trương đóng cửa bảo nhau…
- Trầm trọng không kém là thói cào bằng, đố kị, không muốn cho
ai hơn mình (để tất cả đều đồng nhất, giống nhau!): Xấu đều hơn tốt lỏi,Khôn độc không bằng ngốc đàn; Chết một đống còn hơn sống mộtngười…
=> Những thói xấu này dẫn đến việc ở Việt Nam, khái niệm “giá trị”trở nên hết sức tương đối (khẳng định đặc điểm tính chủ quan của lối tưduy nông nghiệp): Cái tốt, nhưng là cái tốt riêng rẽ thì trở thành xấu;ngược lại, cái xấu nhưng là xấu tập thể thì trở nên bình thường
1.6.4 Tính tự trị chú trọng nhấn mạnh SỰ KHÁC BIỆT Khởi đầu là
sự khác biệt của cộng đồng (làng, họ) này với cộng đồng (làng, họ) khác
Trang 10Hệ quả tốt:
- Sự khác biệt – cơ sở của tính tự trị – tạo nên tinh thần tự lập cộng đồng: mỗi làng, mỗi tập thể phải tự lo liệu lấy mọi việc => dẫn đến truyền thống cần cù, đầu tắt mặt tối, bán mặt cho đất bán lưng cho
trời
- Nếp sống tự cấp tự túc: mỗi làng tự đáp ứng được mọi nhu cầu
cho cuộc sống của làng mình; tự đảm bảo được nhu cầu về ăn (mỗi nhà
có vườn rau, chuồng gà, ao cá) và nhu cầu về ở (có bụi tre, rặng xoan,gốc mít)
Hệ quả xấu:
- Óc tư hữu, ích kỉ: Bè ai nấy chống; Ruộng ai người nấy đắp bờ;
Thân ai nấy lo, bò ai nấy giữ… chính người Việt cũng tự phê phán thói tưhữu ích kỉ này: Của mình thì giữ bo bo, của người thì để cho bò nó ăn; Củangười bồ tát, của mình buộc lạt…
- Óc bè phái, địa phương cục bộ: làng nào biết làng ấy, chỉ lo vun
vén cho địa phương mình: Trống làng nào làng ấy đánh, Thánh làng nàolàng ấy thờ; Trâu ta ăn cỏ đồng ta; Ta về ta tắm ao ta, Dù trong dù đục aonhà vẫn hơn…
- Óc gia trưởng – tôn ti: tự thân tính tôn ti không phải là xấu,
nhưng khi nó gắn liền với óc gia trưởng, tạo nên tâm lý quyền huynh thếphụ, áp đặt ý muốn cho người khác, tạo nên tư tưởng thứ bậc vô lí: Sốnglâu nên lão làng; Áo mặc không qua khỏi đầu, thì nó trở thành một lực cảnđáng sợ cho sự phát triển xã hội, nhất là khi mà thói gia đình chủ nghĩa(những người có quyền lực, có vị trí lãnh đạo tạo lợi thế hay ban đặc âncho những người trong gia đình hoặc bà con thân thuộc) vẫn đang là mộtcăn bệnh lan tràn
Đặc điểm môi trường sống quy định đặc tính tư duy Cả hai quy địnhtính cách của dân tộc Cuộc sống nông nghiệp lúa nước và lối tư duy biếnchứng, như ta đã biết, dẫn đến sự hình thành nguyên lí âm dương và lốiứng xử nước đôi Cho nên tính chất nước đôi chính là một đặc điểm tínhcách của dân tộc Việt Người Việt đồng thời vừa có tinh thần đoàn kết
Trang 11tương trợ lại vừa có óc tư hữu, ích kỉ và thói cào bằng; vừa có tính tập thểhòa đồng lại vừa có óc bè phái, địa phương; vừa có nếp sống dân chủ bìnhđẳng lại vừa có óc gia trưởng tôn ti; vừa có tinh thần tự lập lại vừa xemnhẹ vai trò cá nhân; vừa có tính cần cù và nếp sống tự cấp tự túc lại vừa
có thói dựa dẫm, ỷ lại Tất cả những cái tốt và cái xấu ấy cứ đi thành từngcặp và đều tồn tại ở người Việt Nam; bởi lẽ tất cả đều bắt nguồn từ hai
đặc trưng gốc trái ngược nhau là tính cộng đồng và tính tự trị Tùy lúc
tùy nơi mà mặt tốt hoặc mặt xấu sẽ được phát huy: Khi đứng trước nhữngkhó khăn lớn, những nguy cơ đe doạ sự sống còn của cả cộng đồng thì cáinổi lên sẽ là tinh thần đoàn kết và tính tập thể; nhưng khi nguy cơ ấy qua
đi rồi thì thói tư hữu và óc bè phái địa phương có thể lại nổi lên
Thành phần dân cư thường hay biến động, người dân không bị gắnchặt với quê hương Vì nơi đây còn nhiều miền đất chưa khai phá, ngườidân có thể rời làng tìm đến chỗ dễ làm ăn hơn
Tính cách người dân Nam Bộ phóng khoáng do được thiên nhiên Nam
Bộ ưu đãi, khí hậu ổn định, hầu như ít gặp thiên tai bất thường: Làm baonhiêu ăn nhậu bấy nhiêu, được đến đâu hay đến đó
Làng Nam Bộ có cấu trúc mở cộng với tính cách người dân phóngkhoáng nên vùng này dễ tiếp nhận hơn những ảnh hưởng từ bên ngoàicủa văn hoá phương Tây (kể cả những ảnh hưởng tiêu cực từ thời Pháp,Mĩ)
Tuy nhiên, dù hay biến động nhưng người Nam bộ vẫn sống thành
làng thấp thoáng bóng tre, mỗi ngôi làng vẫn có một ngôi đình để thờ Thành Hoàng (dù đó chỉ là một vị thần chung chung) Hằng năm, họ lại tụ
Trang 12họp lại để tổ chức lễ hội tại đình làng với quy mô lễ hội không hề nhỏ Dù
cách làm ăn thoáng, dễ dãi nhưng nhìn chung thì người Nam bộ vẫn rất
cần cù, kinh tế có phát triển thế nào thì họ vẫn coi trọng tính cộng đồng, tình làng nghĩa xóm được họ coi trọng thứ hai trong bậc thang ưu tiên khi chọn nơi cư trú: nhất cận thị, nhị cận lân, tam cận giang, tứ cận lộ, ngũ cận điền (thứ nhất gần chợ, thứ hai gần hàng xóm, thứ ba gần sông, thứ
tư gần đường lộ, thứ năm gần ruộng)
II PHẦN 2 : TỔ CHỨC QUỐC GIA
2.1/ Từ Làng tới Nước và việc quản lí xã hội
- Đối với người Việt, nông nghiệp là Đất và nuôi cấy lúa là Nước
“ĐẤT-NƯỚC” là thế quân bình âm dương, nhưng Việt nam thiên về tính
âm nên chỉ cần “Nước” không thôi đã đủ đại diện.
- Nước là đơn vị quan trọng thứ hai sau Làng Từ Làng ra tới Nước, tađược từ ghép “Làng Nước” và xử sự theo tục ngữ “Sống ở làng, sang ởnước”
Làng – là một đơn vị cơ sở và là không gian sinh hoạt văn hóachính yếu của người Việt, là một thiết chế phức hợp, vừa chứa những yếu
tố khởi nguyên của công xã vừ chiu tác động của những thay đổi chế độ
xã hội ; Là một hệ thống thống riêng ( kinh tế, xã hội, ) gồm những yếu
tố hợp thành, theo GS Hà Văn Tấn có thể chia làm 2 loại:
+ Liên làng - mối liên hệ giữa các hệ thống tương đương
+ Siêu làng – mối liên hệ giữa làng hay cộng đồng
2.1.1/ Trong hệ thống tổ chức xã hội việt nam, đơn vị trung gian
giữa làng và nước ( cấp vùng, tỉnh) là không quan trọng thể hiện ở chỗ :+) Tên gọi đơn vị trung gian luôn thay đổi ( Bộ, Quận, Châu, Lộ,Đạo,Trấn,…)
+) Địa giới của chúng hông ổn định ( Thời Hùn Vương có 15 bộ, Lí –
24 bộ, Trần – 12 lộ, Lê- 5 đạo, Lê thánh tông – 12 thừa tuyên, Gia Long –
23 trấn,….)