ÔN TẬP TÂM LÝ HỌC HÀNH VI LỆCH CHUẨN Câu 1 Phân tích khái niệm TLHHVLC và 4 hướng tiếp cận (miêu tả, giải thích, dự báo, kiểm soát) Phân tích khái niệm TLHHVLC Tâm lý học là ngành khoa học nghiên cứu.
Trang 1ÔN TẬP TÂM LÝ HỌC HÀNH VI LỆCH CHUẨN
Câu 1: Phân tích khái niệm TLHHVLC và 4 hướng tiếp cận (miêu tả, giải thích, dự báo, kiểm soát)
Phân tích khái niệm TLHHVLC
Tâm lý học là ngành khoa học nghiên cứu về tâm trí và hành vi, tìm hiểu về các hiện tượng ý thức và vô thức, cũng như cảm xúc và tư duy
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về hành vi lệch chuẩn
- Lưu Song Hà cho rằng “Hành vi lệch chuẩn là hành vi chệch khỏi các quy tắc, chuẩn mực của nhóm hay của xã hội Hành vi lệch chuẩn có tính chất tương đối về văn hoá và lịch sử”.
- Từ điển Tâm lý học định nghĩa: “Hành vi lệch chuẩn là hệ thống hành vi hoặc các hành
vi riêng lẻ đối lập với các chuẩn mực đạo đức hoặc pháp luật đã được xã hội thừa nhận Những kiểu dạng hành vi lệch chuẩn chủ yếu là phạm pháp và những hành vi phi đạo đức nhưng chưa phải chịu trách nhiệm hình sự (say rượu, ăn cắp vặt…) Những hành vi lệch chuẩn thường là cơ sở hình thành các hành vi vi phạm pháp luật”.
Nhìn chung có thể thấy hành vi lệch chuẩn là những hành vi không phù hợp với chuẩn mực đạo đức, văn hóa, pháp luật, những quy định chung và cần điều chỉnh
Như vậy TLHHVLC là ngành khoa học nghiên cứu những hành vi được xem là lạ thường hay hiếm gặp
Một số hiểu lầm về HVLC phổ biến về những người bị tâm bệnh
- Dễ phát hiện được HVLC
- Rối loạn do di truyền
- Không thể điều trị cho họ
- Thiếu ý chí
- Không bao giờ đóng góp cho XH
- Luôn nguy hiểm
Vd: Hành vi bạo lực học đường, HS sử dụng rượu bia, chất kích thích
4 hướng tiếp cận
Miêu tả (Describe)
Miêu tả 1 trường hợp hành vi lệch chuẩn phải dựa trên quan sát hệ thống (systematic/ structuredob servation) bởi 1 chuyên gia, thường đi kèm với bệnh sử tâm lý
(psychological history) để chẩn đoán tâm thần ban đầu
Phân loại hành vi (behavioural categories) với cách mã hóa (coding scheme)
Trang 2 Sử dụng thiết bị quan sát như ghi âm, ghi hình, sơ đồ…
Chẩn đoán tâm thần (Psychodiagnosis) là một nỗ lực, đánh giá và đưa ra suy luận một cách hệ thống về rối loạn tâm lý của một cá nhân
Một chẩn đoán (diagnosis) không gì hơn ngoài việc dán nhãn (labels)
Nhãn chỉ mô tả một lát cắt thời gian, không phải những đổi trong thực tế cuộc sống
Giải thích (Explain)
Để giải thích hành vi lệch chuẩn, nhà tâm lý học phải xác định nguyên nhân của nó và cách dẫn đến hành vi đã được miêu tả
Thông tin đã được giải thích giúp mang đến nhiều lựa chọn cách thức điều trị
Dự đoán (Predict)
Dự đoán của một nhà trị liệu có thể xác định chính xác nguyên nhân gây khó khăn của thân chủ, họ nên dự đoán loại vấn đề mà thân chủ sẽ đối mặt trong quá trình trị liệu và những biểu hiện của thân chủ
Kiểm soát (Control)
Kiểm soát hành vi lệch chuẩn thông qua liệu pháp (therapy)
Liệu pháp là 1 chương trình can thiệp có hệ thống (systematic intervention) với mục đích thay đổi trạng thái hành vi, tình cảm (xúc cảm) và nhận thức của thân chủ
Câu 2: Trình bày 4D theo góc độ thực hành lâm sàng đối với hành vi lệch chuẩn (DSM IV)
Distress (khó chịu)
Phần lớn những người tìm đến sự giúp đỡ của các nhà trị liệu đều gặp khó khăn vè thể chất và tâm lý Nhiều phản ứng thể chất xuất phát từ 1 thành phần tâm lý mạnh mẽ, trong số đó có những rối loạn như hen suyễn, cao huyết áp, và ung nhọt cũng như là triệu chứng của cơ thể tới mức mệt mỏi, buồn nôn, đau đớn và tim đập nhanh Phiền muộn có thể cũng biểu thị phản ứng cảm xúc cực đoan hoặc kéo dài, trong đó lo âu và trầm cảm là phổ biến và thường gặp nhất Dĩ nhiên, nó là bình thường nếu 1 người cảm thấy chán nản sau khi chịu mất mát hoặc thất vọng Nhưng nếu phản ứng quá dữ dội, phóng đại và kéo dài đến mức cản trở khả năng hoạt động đầy
đủ của người đó, nó có thể được coi là bất thường
Deviance (độ lệch)
Độ lệch có liên quan chặt chẽ nhất đến việc sử dụng trung bình thống kê Các tiêu chí thống kê đánh giá mức độ bình thường với những hành vi xảy ra thường xuyên nhất trong dân số Do đó
sự bất thường được định nghĩa là những hành vi ít xảy ra nhất Hành vi kỳ lạ hoặc bất thường là
Trang 3sự lệch lạc bất thường so với tiêu chuẩn hành vi được chấp nhận (chẳng hạn như hành vi chống đối xã hội) hoặc nhận thức sai lệch về thực tế (chẳng hạn như hành vi chống đối xã hội) Tiêu chí này có thể cực kì chủ quan, nó phụ thuộc vào cá nhân được chẩn đoán, vào bác sĩ chẩn đoán
và vào bối cảnh văn hóa cụ thể
Một số hành vi tình dục, phạm pháp và giết người là những ví dụ về những hành vi mà xã hội chúng ta coi là bất bình thường Nhưng các chuẩn mực xã hội khác xa với chuẩn mực tĩnh và chuẩn mực hành vi không thể coi là tuyệt đối Sự thay đổi trong thái độ của chúng ta đối với tình dục của con người là một ví dụ điển hình
Vd: Nhiều tạp chí và phim ảnh của Mỹ hiện công khai trưng bày có thể người khỏa thân và trò giải trí ở hộp đêm ngực trần và không đáy hầu như không đáng tin Các hành vi tình dục khác nhau được miêu tả rõ ràng trong các bộ phim được xếp hạng trong NC-17 và phụ nữ được tự do hơn khi đặt câu hỏi về vai trò tình dục truyền thống và hành động quyết đoán hơn khi bắt đầu quan hệ tình dục Sự thay đổi trong hành vi như vậy gây khó khăn cho việc tuân theo tiêu chẩn chuẩn mực bình thường
Tuy nhiên, một số hành vi thường có thể được đánh giá là bất thường trong hầu hết các tình
huống Trong số đó có mất phương hướng nghiêm trọng, ảo giác và hoang tưởng Mất phương hướng là nhầm lẫn về danh tính, địa điểm hoặc thời gian Những người bị mất phương hướng có thể không biết họ đang ở đâu, hoặc thời đại lịch sử họ đang sống Ảo giác là ấn tượng sai, có thể
là dễ chịu hoặc khó chịu – liên quan đến các giác quan Những người bị ảo giác có thể nghe thấy, cảm giác hoặc nhìn thấy những thứ không thực sự ở đó, chẳng hạn như giọng nói buộc tội
họ về những hành động thấp hèn, côn trùng bò trên cơ thể họ hoặc những sự xuất hiện quái dị
Ảo tưởng là niềm tin sai lầm được cá nhân kiên định giữ vững bất chấp bằng chứng khách quan
mâu thuẫn Ảo tưởng về sự vĩ đại là niền tiên rằng một người là một nhân vật cao quý, chẳng hạn như Chúa Jesus hoặc Joan…; ảo tưởng về sự ngược đãi là niềm tin rằng một người bị người
khác ngược đãi là nạn nhân của một âm mưu
Dysfunction (rối loạn chức năng)
Trong cuộc sống hằng ngày, mọi người được kỳ vọng sẽ hoàn thàn nhiều vai trò khác nhau – như học sinh hoặc giáo viên, với tư cách là công nhân và người chăm sóc, với tư cách là cha mẹ, người yêu và bạn đời của nhau Các vấn đề về cảm xúc đôi khi cản trở việc thực hiện các vai trò này, và hậu quả là dẫn đến rói loạn về chức năng vai trò có thể được sử dụng như một dấu hiệu của sự bất thường Do đó một cách để đánh giá rối loạn chức năng là so sánh hiệu suất của một
cá nhân với các yêu cầu của một vai trò
Một cách liên quan khác để đánh giá rối loạn chức năng là so sánh hiệu suất của một cá nhân với tiềm năng của họ
Vd: một ác nhân có điểm IQ 150 nhưng không đạt kết quả học tập ở trường có thể bị coi là kém hiệu quả (cái mác người không thành công thường được gắn cho những học sinh có chỉ số thông
Trang 4minh cao nhưng bị điểm kém ở trường) Tương tự, một nhân viên làm việc năng suất đột nhiên trở nên kém năng suất có thể đang gặp căng thẳng về cảm xúc Điểm yếu chính của phương pháp này là khó đánh giá chính xác tiềm năng
Làm thế bào để biết rằng liệu 1 người có đang hoạt động hết khả năng của người đó? Để trả lời câu hỏi này, các nhà Tâm lý học, giáo dục học và nhà kinh doanh chủ yếu sử dụng các bài trắc nghiệm để kiển tra khả năng và trí thông minh, cụ thể là những nỗ lực để đánh giá tiềm năng và
dự đoán hiệu suất trong trường hoặc công việc
Dangerousness (sự nguy hiểm)
Dự đoán sự nguy hiểm của thân chủ đối với bản thân và những người khác trở thành một phần không thể tránh khỏi trong thực hành lâm sàng Kể từ khi tòa án tối cáo California ra phán quyết vào năm 1076 rằng các nhà trị liệu có trách nhiệm đánh giá mức độ nguy hiểm của thân chủ (đối với bản thân và những người khác) và để bảo vê các nạn nhân bị hướng đế, nhà tâm lý học đã cố gắng đưa ra rủi ro – các thủ tục đánh giá và xác định những hành động mà nhà trị liệu phải thực hiện để tuân thủ “nghĩa vụ bảo vệ” Chắc chắn, trường hợp của Cho là một ví dụ minh họa về mức độ cần thiết của các chuyên gia sức khỏe tâm thần để đánh giá chính xác nguy cơ bạo lực Mặc dù có nỗi sợ hãi bạo lực ở những người bị rối loạn tâm thần nhưng đó là một thống kê rất hiếm Hơn nữa, việc dự đoán mức độ nguy hiểm không dễ dàng và không có tiêu chí rõ ràng liên quan đến nó Một trong những yếu tố có nguy rủi ro lớn nhất, ví dụ như hành vi bạo lực trước đó (chẳng hạn như cố gắng tự sát và hành hung thể xác) Chúng ta đã biết, Cho không chứng minh điều này trong lịch sử của anh ấy
Câu 3: Mô hình là gì? Trình bày các hướng giải thích HVLC theo tiếp cận 1 chiều (sinh lý, tâm lý, XH, văn hóa XH)
Mô hình là phép loại suy mà các nhà khoa học dùng để mô tả hoặc giải thích một hiện tượng
hoặc quá trình mà họ không thể quan sát trực tiếp
Các hướng giải thích HVLC theo tiếp cận 1 chiều
Tiếp cận sinh học (Biological models)
HVLC do di truyền (genetic) và não (brain) gây ra
Những cấu trúc liên quan nhiều đến HVLC bao gồm thalamus, hypothalamus, reticular,
activating system, limbic system, cerebrum Ngoài ra các cấu trúc khác ở não giữa và não sau liên quan các rối loạn tâm thần
-Đồi thị (thalamus): là “trạm trung chuyển” ( relay station) để truyền các xung thần kinh từ phần này sang phần khác của não như cảm giác (trừ khứu giác), vận động, cảm xúc và trí nhớ
-Vùng dưới đồi (hypothalamus): vùng dưới đồi điều tiết (regulate) các động lực của cơ thể như đói, khát, tình dục và các tình trạng cơ thể (nhiệt độ, cân bằng hoocmon)
Trang 5-Hệ lưới hoạt hóa thần kinh (reticular activating system): RAS tham gia và việc ngủ, thức dậy và các phản ứng chiến hay biến (chống trả hay bỏ chạy, fight-or-flight) Một số rối loạn như PTSD xảy ra do RAS hoạt động quá mức gây ra giật mình quá mức, tăng động
-Hệ viền (limbic system): hệ viền liên quan đến việc trải nghiệm và thể hiện các cảm xúc và động cơ như niềm vui, nỗi sợ, hung tính, kích thích tình dục và đau
-Đại não (cerebrum): trẻ ADHD có sự trì hoãn trong phát triển độ dày của đại não đặc biệt ở thùy trán (prefrontal) nơi kiểm soát quá trình chú ý và kế hoạch vận động so với trẻ không ADHD
Theo sinh học, rối loạn tâm thần của Steve là do 1 số dạng trục trặc sinh học gây ra Các vấn đề của Steve nằm ở khuynh hướng di truyền có thể dẫn đến rối loạn tâm thần, sự mất cân bằng hóa học của não, hoặc có lẽ do bất thường về cấu trúc trong cấu tạo thần kinh của anh ấy Thực tế là anh ta mắc chứng tâm thần phân liệt hoang tưởng và rối loạn cảm xúc lưỡng cực (cả 2 rối loạn đều có thể xuất hiện ở những người có mối quan hệ huyết thống) dường như ủng hộ một lời giải thích như vậy Mặc dù các giải thích sinh học thừa nhận rằng các ảnh hưởng từ môi trường là quan trọng, nhưng chúng được coi là thứ yếu trong biểu hiện của bệnh tâm thần
Tiếp cận tâm lý
Từ góc độ tâm lý, có nhiều cách để giải thích hành vi của Steve Những lời giải thích theo Tâm
lý học sẽ nhấn mạnh rằng các vấn đề của Steve nằm trong những trải nghiệm thời thơ ấu của anh
ấy Anh ấy không có khả năng đối mặt với cảm xúc thù địch mãnh liệt của chính mình đối với cha mình (sợ bị thiến) và khao khát tình dục chưa được giải quyết với mẹ Những lời giải thích
về hành vi sẽ lần ra gốc rễ vấn đè của Steve từ hành vi của anh ấy Nhiều hành vi mà anh ấy đã học được là không phù hợp và accs hành vi của anh ấy kém hữu ích và hiệu quả Những lời giải thích khác có thể nhấn mạnh sự phát triển của những niềm tin phi lý và suy nghĩ méo mó của Steve dẫn đến “trò chơi trí óc” (Hiểu sai về thực tế)
Tiếp cận xã hội
Từ góc độ xã hội hoặc mối quan hệ xã hội, vấn đề của Steve nằm trong hệ thống gia đình, đó là đơn vị chính của phan tích Mặc dù Steve đang biểu hiện các rối loạn, cha và mẹ của nah ấy cũng đang mắc phải, và các triệu chứng bệnh lý của họ được phản ánh trong Steve Miễn là Steve là “bệnh nhân được xác định và ông bà V có thể tiếp tục tự lừa dối nhau rằng tất cả đều ổn giữa họ Rõ ràng là mối quan hệ giữa Steve và cha mẹ anh, và mối quan hệ giữa cha và mẹ anh
là không lành mạnh Mà việc Steve thường xuyên bị cha bắt nạt và không nhận được sự hỗ trợ
từ mẹ là những thủ phạm chính
Tiếp cận văn hóa – xã hội
Bối cảnh xã hội và văn hóa nơi các vấn đề của Steve nảy sinh phải được xem xét để hiểu được tình thế tiến thoái lưỡng nan của anh ấy Anh là một người Mỹ da trắng gốc Scotland, sinh ra
Trang 6trong một gia đình giàu có về thành tích cá nhân và khả năng cạnh tranh Chẳng hạn, người ta có thể tranh luận rằng cha của Steve coi trọng tính cạnh tranh và thành tích cá nhân của người Mỹ ở mức cực đoan Anh đã thfanh công bằng chính nỗ lực củ bản thân, nhưng không may, thành công của anh lại phải trả giá bằng tình cảm của gia đình Hơn nữa, bởi vì Steve không sống theo những chuẩn mực của nam tính, anh ấy đã coi cha mình là một kẻ thất bại Để thực sự hiểu về Steve, chúng ta phải nhận ra rằng các yếu tố đa văn hóa – chủng tộc, dân tộc, giới tính Kinh tế -
xã hội, khuynh hướng tình dục,… là những yếu tố mạnh mẽ Do đó, chúng ảnh hưởng đến các loại cảng thẳng văn hóa – xã hội mà Steve có thể gặp phải và những cách mà anh ta sẽ biểu hiện các rối loạn
Câu 4: Đánh giá là gì? Phân tích hình thức đánh giá HVLC thông qua quan sát và trắc nghiệm tâm lý
Đánh giá là quá trình thu thập thông tin và đưa ra kết luận về các đặc điểm, các kỹ năng, khả
năng, hoạt động tình cảm, và các vấn dề tâm lý của cá nhân nói chung để sử dụng trong việc phát triển chẩn đoán Các công cụ đánh giá là cần thiết để nghiên cứu và thực hành sức khỏe tâm thần Nếu không có chúng, dữ liệu không thể được thu thập và nhà Tâm lý học không thể tiến hành nghiên cứu có ý nghĩa, phát triển lý thuyết hoặc tham gia vào liệu pháp tâm lý Thu thập
dữ liệu nhất thiết phải sử dụng các công cụ để ghi lại một cách có hệ thống các quan sát, hành vị hoặc tự báo cáo của các cá nhân Bốn phương tiện đánh giá chính có sẵn cho các bác sĩ lâm sàng là: quan sát, phỏng vấn, kiểm tra tâm lỹ và kiểm kê và kiểm tra thần kinh Nói chung, đánh giá nên được thực hiện bằng nhiều phương pháp và thử nghiệm để có được cái nhìn chính xác hơn
về khách hàng
Phân tích hình thức đánh giá HVLC
1 Quan sát
Quan sát là tri giác một cách có mục đích nhằm xác định đặc điểm của đối tượng, quan sát các hành vi bên ngoài của đối tượng như hành vi, lời nói, cử chỉ, điệu bộ… để từ đó rút ra các quy luật bên trong của đối tượng
Quan sát hành vi công khai cung cấp phương pháp cơ bản nhất để đánh gái hành vi bất thường
Quan sát lâm sàng có thể kiểm soát hoặc tự nhiên Các quan sát được kiểm soát (hoặc tương tự) xảy ra trong phòng thí nghiệm, phòng khám, hoặc môi trường giả tạo (nhân tạo) khác
Các quan sát tự nhiên được thực hiện trong khung cảnh tự nhiên như phòng học, văn phòng, khu bệnh viện hoặc tại nhà… hơn là trong phòng thí nghiệm
Các quan sát có thể có cấu trúc cao và cụ thể, như khi một người quan sát ghi nhận tần suất nói lắp xảy ra ở 1 thân chủ Đôi khi thân chủ được yêu cầu đóng vai các tương tác xã hội và những tương tác này được đánh giá Trong những buổi hẹn trước, các quan sát có thể ít chính thức và
cụ thể hơn, như khi bác sĩ lâm sàng chỉ đơn giản là tìm kiếm bất kỳ một hành vi bất thường nào
Trang 7đó của thân chủ Trong tình huống như vậy, các quan sát và giải thích hành vi có thể khá chủ quan về bản chất
Quan sát hành vi thường được thực hiện cùng với một cuộc phỏng vấn
Vd: Một nhà tâm lý học lâm sàng được đào tạo để theo dõi các dấu hiệu hoặc tín hiệu bên ngoài
và các hành vi biểu hiện có ý nghĩa chuẩn đoán Chế độ ăn mặc chung của thân chủ (gọn gàng, thông thường, luộm thuộm, lòe loẹt), đáng kể, vết sẹo hoặc hình xăm và thâm chí lựa chọn đồ trang sức có thể tương quan với các đặc điểm tính cách hoặc có lẽ, với sự rối loạn Tương tự như vậy, các hành vi biểu cảm khác nhau, chẳng hạn như tư thế, nét mặt, các mẫu ngôn ngữ và lời nói, chữ viết tay, sự thể hiện thông qua nghệ thuật đồ họa đều có thể tiết lộ những đặc điểm nhất định trong cuộc sống của thân chủ
Case study
Margaret (37 tuổi) là một bệnh nhân trầm cảm đến khám tại khoa tâm thần của bệnh viện Cô ấy gần đây đã được cho nhập viện để điều trị Nhìn thoáng qua có thể thấy rằng Margaret đã không chăm sóc bản thân trong nhiều tuần Mặt và tay của cô ấy bị bẩn Mái tóc dài của cô ấy vốn đã được búi lên sơ qua, nhưng đã rũ 1 phần xõa sang 1 bên và bây giờ xõa xuống vai trái Đôi già tennis beat-up của cô ấy chỉ còn 1 nửa trên đôi chân không có vớ của cô ấy Vẻ ngoài xấu xí và
tư thế khom lưng của cô ấy khiến người ta tin rằng cô ấy già hơn nhiều so với tuổi
Trong lần đầu tiên được phỏng vấn, Margaret ngồi như thể cô ấy không còn sức để giữ thẳng người Cô ấy đã tránh giao tiếp bằng mắt với người phỏng vấn và nhìn chằm chằm xuống sàn Khi được hỏi, cô ấy thường trả lời ngắn gọn bằng những cụm từ: “Có” , “Không”, “Tôi không biết”, “Tôi không quan tâm” Có những khoảng ngừng dài giữu các câu hỏi và câu trả lời của cô
ấy Mỗi câu trả lời dường như là 1 sự nỗ lực rất lớn từ cô ấy
Một số nhà Tâm lý học dựa vào những người đánh giá được đào tạo; phụ huynh, giáo viên hoặc các bên thứ 3 khác để thực hiện các quan sát và thu thập thông tin để đánh giá và phỏng đoán Một số người khác thì thích quan sát của riêng họ hơn quan sát của bên thứ ba Bất kể là ai, khi tiến hành quan sát đều có 2 vấn đề có thể xảy ra
Đầu tiên, người quan sát phải kiểm tra tính hợp lệ của các diễn giải của chính họ về các hành vi của bệnh nhân Điều này đặc biệt quan trọng khi bệnh nhân đến từ một nền văn hóa khác với nền văn hóa của người quan sát
Thứ hai, những người quan sát phải cố gắng giảm thiểu tác động của những quan sát của
họ đối với những hành vi của bệnh nhân Nỗ lực này là cần thiết vì một người nhận thức được việc được quan sát hoặc đánh giá có thể thay đổi cách họ thường phản ứng lại, hiện
tượng này được gọi là tính phản ứng
Trang 8Vd: những người lái xe biết rằng họ đang bị xe cảnh sát quan sát có thể cẩn thận hơn trong việc tuân thủ luật giao thông
Khi tiến hành quan sát cần:
-Định nghĩa các phân loại hành vi dự định sẽ thu thập trước khi quan sát
-Hướng dẫn người quan sát dùng một hệ thống mã hóa
-Sử dụng một hoặc nhiều thiết bị hỗ trợ thu thập dữ liệu quan sát (vd; máy quay hình, chụp ảnh )
Ưu điểm: mang đến những thông tin cụ thể, khách quan.
Nhược điểm: phương pháp này chỉ có thể áp dụng hiệu quả đối với nhóm khách thể nhỏ, đòi hỏi
nhiều thời gian và khó tiến hành trên số lượng lớn khách thể
VD: HVLC của vị thành niên đang cai nghiện ma túy tại trung tâm cai nghiện có thể quan sát
được: Lệch chuẩn tự xâm hại hay còn gọi là hội chứng “tự hành hạ bản thân”, hội chứng “thích đau” có thể thấy như bấm lỗ mũi, tai, cắt rạch cơ thể, đốt tóc, đập đầu vào kính…
VD: Chế độ ăn mặc chung của khách hàng (gọn gàng, thông thường, cẩu thả, mỏng manh),
không thể có dấu hiệu sẹo hoặc hình xăm, và thậm chí lựa chọn đồ trang sức có thể tương quan với các đặc điểm tính cách hoặc, có lẽ, với sự rối loạn Tương tự như vậy, các hành vi biểu cảm khác, chẳng hạn như tư thế, nét mặt, ngôn ngữ và các mẫu lời nói, chữ viết tay và biểu cảm tự sướng thông qua nghệ thuật đồ họa đều có thể tiết lộ các đặc điểm nhất định trong cuộc sống của khách hàng
2 Trắc nghiệm tâm lý
Trắc ngiệm tâm lý là phương pháp dùng để đo lường một cách khách quan tâm lý con người Có trắc nghiệm dùng ngôn ngữ, hình ảnh, tranh vẽ hoặc các hành vi khác Phương pháp trắc nghiệm đòi hỏi bài trắc nghiệm phải có độ tin cậy, có tính hiệu lực và được chuẩn hóa
Một vài trắc nghiệm tâm lý:
-Trắc nghiệm phóng chiếu nhân cách (Projective personality tests): là bài kiểm tra trong đó
người được kiểm tra được trình bày với các kích thích không rõ ràng như là vết mực, tranh ảnh hoặc những câu không đầy đủ và được yêu cầu trả lời theo một cách nào đó
+Trắc nghiệm vết mực Rorschach (The Rorschach Inklot Test)
Bài kiểm tra Rorschach bao gồm mười thẻ hiển thị thiết kế khe mực đối xứng Các thẻ được trình bày lần lượt để những người tham gia, những người được hỏi những gì họ nhìn thấy trong các blog và đặc điểm nào của các vết mực khiến họ thấy điều đó
Trang 9Vd : nhìn thấy mắt hoặc mông có thể ám chỉ khuynh hướng hoang tưởng; động vật sai lầm có
thể ngụ ý khuynh hướng hiếu chiến; máu có thể ngụ ý mạnh mẽ không kiểm soát những cảm xúc; thức ăn có thể bao hàm nhu cầu phụ thuộc; và mặt nạ có thể ngụ ý tránh tiếp xúc cá nhân +Trắc nghiệm năng lực nhận thức chủ đề tổng quát (TAT, The Thematic Apperception Test)
-Bảng liệt kê tự báo cáo (Self-report inventories): một công cụ đánh giá yêu cầu người được
kiểm tra trả lời bằng văn bản cụ thể các câu hỏi hoặc lựa chọn những phản hồi cụ thể thừ những lựa chọn thay thế
+Bảng liệt kê nhân cách đa chiều Minnesota (MMPI, The Minnesota Multiphasis Pesonality
Inventory)
+Thang đánh giá trầm cảm của Beck (BDI, The Beck Depression Inventory)
-Trắc nghiệm trí thông minh (Intelligence Test): Các bài kiểm tra trí thông minh có thể cung
cấp thông tin có giá trị về hoạt động trí tuệ và có thể giúp các nhà tâm lý học đánh giá tình trạng chậm phát triển trí tuệ và sa sút trí tuệ
+Thang đo lường trí thông minh của người trưởng thành (WAIS, The Wechsler Adult
Intelligence Scale)
+Kiểm tra trí thông minh chuẩn Stanford-Binet (Stanford-Binet Scale)
Câu 5: Phân tích độ tin cậy và độ hiệu lực trong nghiên cứu về HVLC?
Độ tin cậy:
- Là một mức độ mà một thủ tục hoặc một bài kiểm tra chẳng hạn như một công cụ đánh giá hoặc chương trình phân loại sẽ mang lại kết quả như nhau, kết quả lặp lại theo cũng một hoàn cảnh Có nhiều loại độ tin cậy (Robinson, Shaver, & Wrightsman, 1991)
- Độ tin cậy của kiểm tra-kiểm tra lại xác định liệu một phép đo có mang lại kết quả giống nhau hay không khi được đưa cho một cá nhân tại hai thời điểm khác nhau
Ví dụ: nếu chúng ta thực hiện một phép đo mức độ lo lắng cho một cá nhân vào buổi sáng và
sau đó kiểm soát lại phép đo đó trong ngày, thì phép đo sẽ đáng tin cậy nếu kết quả cho thấy sự nhất quán hoặc ổn định (nghĩa là, nếu kết quả giống nhau) từ một điểm này đến thời điểm khác Kết quả không nhất quán có thể phản ánh những thay đổi thực sự trong hành vi của từng cá nhân chứ không chỉ là một kết quả kém chắc chắn Tuy nhiên, trong những trường hợp như vậy, độ tin cậy của thử nghiệm-kiểm tra lại kém
-Sự nhất quán theo câu hỏi (Internal reliability): Trong độ tin cậy liên quan đến tính nhất quán
bên trong, một thước đo được coi là đáng tin cậy nếu các phần khác nhau của phép đo mang lại kết quả tương tự hoặc nhất quán
Trang 10Ví dụ, nếu phản ứng đối với các mục khác nhau về mức độ lo lắng không liên quan đến nhau,
các mục này không đáng tin cậy vì chúng có thể đo lường những thứ khác nhau, không chỉ lo lắng
-Sự nhất quán theo thời gian (Test-Retest reliability): xác định liệu một phép đo có mang lại
kết quả tương tự khi được thực hiện cho một cá nhân tại hai thời điểm khác nhau
Ví dụ: nếu chúng tôi thực hiện đo mức độ lo lắng cho một cá nhân vào buổi sáng và sau đó kiểm
soát lại biện pháp sau đó trong ngày, phép đo là đáng tin cậy nếu kết quả cho thấy sự nhất quán hoặc ổn định ( nếu kết quả giống nhau) từ thời điểm này sang thời điểm khác Kết quả không nhất quán có thể dẫn đến những thay đổi thực sự trong hành vi của cá nhân chứ không chỉ là một thước đo kém Tuy nhiên, trong những trường hợp như vậy, độ tin cậy của phép đo lại kém
-Sự nhất quán theo người đánh giá (Interracter reliability): xác định tính nhất quán của các
phản hồi giữa những người đánh giá khác nhau khi thực hiện biện pháp
Ví dụ: giữa hai bác sĩ lâm sàng được đào tạo để chẩn đoán cá nhân theo một sơ đồ phân loại nhất định Tuy nhiên, một bác sĩ lâm sàng chẩn đoán rối loạn của bệnh nhân là tâm thần phân liệt và người còn lại chẩn đoán là thiểu năng trí tuệ Có một vấn đề về độ tin cậy giữa hai người
đánh giá
Ý nghĩa của độ tin cậy: Nếu không có các chẩn đoán đáng tin cậy:
-Việc xác định chính xác các yếu tố nguy cơ đối với bệnh lý gần như không thể
-Có thể dẫn đến những diễn giải sai về cấu trúc, diễn biến tự nhiên, bản chất của sự thay đổi triệu chứng và hiệu quả điều trị của các rối loạn
-Làm tăng đáng kể khả năng kết quả không lặp lại
-Là điều cần thiết cho độ hiệu lực của chẩn đoán
Độ hiệu lực:
- Độ hiệu lực là mức độ mà một thử nghiệm hoặc thủ tục thực sự thực hiện chức năng mà nó
được thiết kế để thực hiện Nếu một biện pháp được dùng để đánh giá trầm cảm thay vì đánh giá lo lắng, thì biện pháp đó cho thấy tính hiệu lực kém đối với trầm cảm Như trong trường hợp độ tin cậy, có một số cách để xác định tính hợp lệ Điều quan trọng nhất là giá trị dự đoán, liên quan đến tiêu chí, cấu trúc và nội dung
Hiệu lực dự báo (Predictive validity): đề cập đến khả năng của một thử nghiệm hoặc biện pháp
để dự đoán hoặc báo trước cách một người sẽ cư xử, phản hồi hoặc thực hiện
VD: Các trường cao đẳng và đại học thường sử dụng điểm kiểm tra thành tích trung học của ứng
viên để dự đoán điểm đại học trong tương lai của họ Nếu điểm kiểm tra có giá trị dự đoán tốt,