“Đồng chí” – Chính Hữu 1 “Đồng chí” – Chính Hữu ĐỒNG CHÍ – Chính Hữu – A Tìm hiểu chung 1 Tác giả Chính Hữu Tên thật Trần Đình Đắc, bút danh Chính Hữu Quê Can Lộc – Hà Tĩnh Là nhà thơ – chiến sĩ trong.
Trang 1ĐỒNG CHÍ
– Chính Hữu –
A Tìm hiểu chung:
1 Tác giả: Chính Hữu
- Tên thật: Trần Đình Đắc, bút danh: Chính Hữu
- Quê: Can Lộc – Hà Tĩnh
- Là nhà thơ – chiến sĩ trong suốt thời gian chống Pháp – Mĩ
- Làm thơ từ 1947 và hầu như chỉ viết về người lính và chiến tranh
- Phong cách thơ: bình dị, cảm xúc dồn nén, vừa thiết tha, trầm hùng
lại vừa sâu lắng, hàm súc
- Năm 2000, ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về
văn học nghệ thuật
2 Tác phẩm:
a) Hoàn cảnh sáng tác:
- Bài thơ sáng tác mùa xuân năm 1948, thời kì đầu của cuộc kháng
chiến chống Pháp, sau khi tác giả đã cùng đồng đội của mình tham
gia chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc (thu đông 1947) đẩy lùi
cuộc tấn công quy mô lớn của giặc Pháp lên chiến khu Việt Bắc
b) Xuất xứ:
- Bài thơ được in trong tập “Đầu súng trăng treo” (1966)
c) Ý nghĩa nhan đề:
- Nhan đề “Đồng chí” là một nhan đề hay và ấn tượng
“Đồng” là cùng, “chí” là chí hướng “Đồng chí” là những
người cùng chung chí hướng, lý tưởng
Người trong cùng một đoàn thể chính trị hay tổ chức cách mạng
thường gọi nhau là “đồng chí” Từ sau Cách mạng tháng Tám
1945, “đồng chí” là cách xưng hô quen thuộc trong các cơ quan,
đoàn thể, đơn vị bộ đội
Vì vậy, “đồng chí” chính là biểu tượng cho tình cảm cách mạng
và thể hiện sâu sắc tình đồng đội – một loại tình cảm mới, đặc
biệt xuất hiện và phổ biến trong những năm tháng kháng chiến
Nhan đề góp phần thể hiện tư tưởng và chủ đề của tác phẩm
d) Bố cục: 3 phần
Phần 1 (7 câu đầu): Cơ sở hình thành tình đồng chí
Phần 2 (10 câu tiếp): Những biểu hiện, sức mạnh của tình đồng chí
Phần 3 (3 câu cuối): Biểu tượng đẹp của tình đồng chí e) Mạch cảm xúc:
- Bài thơ tập trung thể hiện vẻ đẹp và sức mạnh của tình đồng đội,
đồng chí, nhưng ở mỗi đoạn, sức nặng của tư tưởng và cảm xúc được dẫn dắt để dồn tụ vào những dòng thơ gây ấn tượng sâu đậm (đó là dòng thơ thứ 7 “Đồng chí!”, dòng thơ thứ 17 “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” và dòng thơ cuối “Đầu súng trăng treo”) f) Thể loại: thơ tự do
g) Giải nghĩa từ:
Tri kỉ: “tri” là biết, “kỉ” là mình, “tri kỉ” là biết mình, đôi bạn thân
thiết (hiểu bạn như hiểu chính mình)
Sương muối: là những hạt sương nhỏ, trắng xóa như muối đọng lại
trên cỏ hay mặt đất Ở miền Bắc nước ta về mùa đông, những ngày trời rét thường hay có sương muối
Nước mặn đồng chua: vùng đất nhiễm mặn ở ven biển và vùng đất
có độ phèn chua cao đây là những vùng đất khó canh tác
B Tìm hiểu chi tiết:
1 Cơ sở hình thành tình đồng chí (7 câu đầu):
(1) Trong bảy câu đầu bài thơ “Đồng chí”, nhà thơ Chính Hữu đã lí giải
cơ sở hình thành tình đồng đội, đồng chí thắm thiết của những người lính cách mạng:
“Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ Đồng chí!”
Trang 2(2) Với giọng điệu thơ thủ thỉ, tâm tình như lời kể chuyện, hai câu thơ
đầu mở ra đã bắt nhịp cho không khí giản dị, đơn sơ của thi phẩm:
“Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”
(3) Bằng việc sử dụng thật khéo léo các hình ảnh hoán dụ, thành ngữ
“nước mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá”, nhà thơ Chính Hữu đã
khắc họa nên cơ sở đầu tiên hình thành tình đồng chí – cùng chung
giai cấp, chung hoàn cảnh khó khăn
(4) Họ ra đi từ nơi ven biển đất phèn chua ngập mặn, nơi trung du sỏi
đá khô cằn – đều là những miền quê nghèo và lam lũ
(5) “Quê hương anh” và “làng tôi” ấy tuy cách xa nhau nhưng trong kết
cấu câu thơ song hành cùng thủ pháp đối rất chỉnh đã cho thấy sự
soi chiếu để rồi nhận ra sự tương đồng trong cảnh ngộ của bao
người lính, giúp cho họ trở nên gần gũi và thấu hiểu lẫn nhau
(6) Có lẽ vì vậy mà từ hai phương trời xa lạ, “anh” và “tôi” đã gặp gỡ
nhau trở nên thân thiết bởi cùng chung tiếng gọi Tổ quốc:
“Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”
(7) Cái hay của nhà thơ là đặt anh và tôi trong cùng một dòng thơ chứ
không còn tách riêng như hai câu trước
(8) Và chẳng biết tự bao giờ, cuộc kháng chiến đã trở thành sợi chỉ đưa
các anh từ lạ thành quen rồi trở thành đôi tri kỉ, giữa những con
người ấy chính là sự gắn kết trọn vẹn cả về lí tưởng và nhiệm vụ
chiến đấu:
“Súng bên súng, đầu sát bên đầu
(9) Bằng nghệ thuật điệp ngữ, hoán dụ “súng”, “bên”, “đầu” trong câu
thơ đối xứng, nhà thơ đã diễn tả tình đồng đội, đồng chí gắn bó keo
sơn trong mọi hoàn cảnh - những người lính sẵn sàng kề vai, sát
cánh bên nhau, cùng giành độc lập, tự do cho Tổ quốc
(10) Hơn thế nữa, tình đồng chí của họ còn được nảy nở và phát
triển bền chặt nhờ có sự gắn bó, chan hòa, chia sẻ những gian lao
trong cuộc đời người lính:
“Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”
(11) Giữa cái lạnh thấu xương của màn đêm nơi chiến trường thì hình ảnh “đêm rét chung chăn” quả là một hình ảnh tả thực hết sức cảm động trong đời sống tình cảm của người lính bởi “chung chăn”
là chung cái khắc nghiệt, khó khăn, chung hơi ấm để vượt qua buốt giá
(12) Chính sự chia ngọt sẻ bùi ấy đã trở thành niềm vui, thắt chặt tình cảm của những người đồng đội trở thành đôi tri kỉ - đôi bạn thân thiết, hiểu bạn như hiểu mình
(13) Khép lại bài thơ là hai tiếng “Đồng chí” vang lên thật đặc biệt, như một nốt nhấn giữa bản giao hưởng làm bừng sáng cả bài thơ, thể hiện cảm xúc dồn nén, chân thành, khẳng định một thứ tình cảm thiêng liêng mới mẻ của cuộc đời người lính, đồng thời cũng như một bản lề nâng cao ý thơ đoạn trước và mở ra ý thơ cho đoạn sau
(14) Tóm lại,…., chỉ với bảy câu thơ – Chính Hữu đã nêu lên…
Câu hỏi đọc hiểu:
Cho đoạn thơ sau:
“Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ Đồng chí!”
1) Chỉ rõ một thành ngữ được sử dụng trong đoạn thơ trên Giải thích ý nghĩa của thành ngữ đó
- Thành ngữ: “nước mặn đồng chua”
- Ý nghĩa: vùng đất nghèo ven biển bị nhiễm phèn, nhiễm mặn khó
làm ăn
2) “Tri kỉ” trong đoạn thơ trên có ý nghĩa gì? Xét về nguồn gốc, từ
“tri kỉ” thuộc loại từ nào?
Trang 3- Ý nghĩa của từ “tri kỉ”: “tri” là biết, “kỉ” là mình, “tri kỉ” là biết
mình, đôi bạn thân thiết (hiểu bạn như hiểu chính mình)
- Xét về nguồn gốc, từ “tri kỉ” thuộc loại từ Hán Việt
3) Vì sao có thể nói dòng thơ thứ bảy trong đoạn thơ trên là một
dòng thơ đặc biệt?
- Có thể nói dòng thơ thứ bảy trong đoạn thơ trên là một dòng thơ
đặc biệt vì:
Về cấu tạo: dòng thơ đó chỉ gồm một từ có hai tiếng kết hợp với
dấu chấm than
Về ý nghĩa: Câu thơ ngân vang như một tiếng gọi tha thiết lại vừa
tạo thành một nốt nhấn, khẳng định về một tình cảm rất đỗi thiêng
liêng của những người lính: tình đồng chí Hai tiếng “đồng chí”
giản dị, đẹp đẽ, là điểm hội tụ, kết tinh của bao tình cảm đẹp: tình
giai cấp, tình bạn, tình người
Về vị trí: như một bản lề gắn kết hai phần bài thơ làm nổi rõ một
kết luận: cùng chung hoàn cảnh xuất thân, có cùng lí tưởng, nhiệm
vụ thì trở thành đồng chí của nhau Đồng thời nó cũng khép lại ý
của đoạn trước và mở ra ý ở mười câu sau: đồng chí còn là những
biểu hiện cụ thể và cảm động trong sự sẻ chia tình cảnh và tình
cảm của nhau, sẻ chia bao gian khổ, khó khăn
4) Nêu cấu trúc sóng đôi được sử dụng trong đoạn thơ trên và nêu
tác dụng
- Hai câu thơ đối nhau về ý:
“Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”
Tác dụng: Sự tương xứng “quê hương anh – làng tôi”, “nước mặn
đồng chua – đất cày lên sỏi đá” không chỉ tạo nên sự hài hòa về mặt
ngữ âm và cấu trúc câu mà còn khắc họa được sự tương đồng trong
cảnh ngộ xuất thân nghèo khó, hay chính là cơ sở hình thành tình đồng
chí, tạo nên sự đồng điệu giữa những người lính
- Hai câu thơ đối xứng trong từng vế câu:
“Súng bên súng, đầu sát bên đầu”
Tác dụng: làm nổi bật hoàn cảnh chiến đấu khắc nghiệt nhưng những người lính vẫn luôn sát cánh bên nhau, cùng nhau chiến đấu
2 Những biểu hiện cụ thể và sức mạnh của tình đồng đội, đồng chí
(10 câu tiếp):
Những biểu hiện cụ thể và sức mạnh của tình đồng đội, đồng chí đã được nhà thơ Chính Hữu khắc họa thật rõ nét trong bài thơ “Đồng chí”
a) Biểu hiện thứ nhất: Trước hết, “đồng chí” hiện lên chính là sự
cảm thông sâu xa những tâm tư nỗi lòng của nhau:
“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”
- Từ những câu thơ nói về cảnh ngộ, ta đã nhận thấy sự thay đổi lớn
lao trong quan niệm và nhận thức của những người lính:
Vốn là những con người xuấy thân từ nông thôn, đối với họ, ruộng nương và căn nhà là cả cơ nghiệp, tài sản quý giá vậy
mà họ sẵn sàng chấp nhận hi sinh, tạm gác lại những tính toan riêng tư để đi đánh giặc
Tác giả đã sử dụng rất đắt từ ngữ mộc mạc, giản dị nhưng giàu sức gợi – “mặc kệ” – để diễn tả thái độ dứt khoát, quyết tâm của người lính ra đi khi lí tưởng đã rõ ràng, mục tiêu đã lựa chọn đồng thời cũng cho thấy sự hy sinh một cách thầm lặng của các anh vì Tổ quốc
Họ ra đi để lại cả trời thương nhớ, và phải nặng lòng biết bao thì người lính mới có thể biết quê hương cũng đang nhớ mong
họ
Ở đây, hình ảnh “giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” vừa được sử dụng như một phép hoán dụ, vừa được sử dụng như một hình ảnh nhân hóa, để nói quê hương nhớ người lính mà thực chất là người lính nhớ quê nhà – nỗi nhớ hai chiều ngày càng da diết
Trang 4 Vậy là người lính đã chia sẻ với nhau mọi tâm tư, nỗi niềm, chia sẻ
cả những chuyện thầm kín, riêng tư nhất
b) Biểu hiện thứ hai: Không chỉ có vậy, sức mạnh của tình đồng chí
còn được vun đắp, tạo dựng nên bởi sự chia sẻ những gian lao,
thiếu thốn trong cuộc đời người lính:
“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày”
- Bằng bút pháp miêu tả hết sức chân thực, có sức biểu cảm cao, nhà
thơ Chính Hữu đã vẽ lên bức tranh hiện thực sống động, phản ánh
những gian khổ của bộ đội ta trong những năm đầu của cuộc kháng
chiến chống Pháp
- Các anh đã cùng nhau trải qua những cơn sốt rét nơi rừng sâu trong
hoàn cảnh thiếu thốn thuốc men, người bệnh tật hoành hành, thiếu
đi cả những tư trang tối thiểu giữa mùa đông giá lạnh “áo rách”,
“quần vá”, “chân không giày”
- Cấu trúc thơ gắn kết giữa “anh” và “tôi”, kết hợp cùng nghệ thuật
liệt kê và phép đối, càng tô đậm hơn những khó khăn chồng chất
khó khăn đồng thời diễn đạt sâu sắc sự gắn bó đồng cam cộng khổ
của những người lính
- Họ quên mình, truyền cho nhau hơi ấm, sức mạnh để vượt qua
những gian khó, hoàn thành nhiệm vụ:
“Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”
- Chỉ hai từ “thương nhau” và cái nắm tay giản dị thế thôi nhưng lại
có sức mạnh vô biên xóa nhòa đi tất cả những gian lao, thiếu thốn,
giúp họ vững vàng chiến đấu vì Tổ quốc, bảo vệ quê hương
NGHỆ THUẬT: Lời thơ giản dị, chân thực mà thật đẹp, xúc động
về tình đồng đội, đồng chí của những người lính cách mạng…
Câu hỏi đọc hiểu
Cho đoạn thơ sau:
“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày”
1) Chỉ rõ và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong
câu thơ “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”
- Biện pháp tu từ: hoán dụ, nhân hóa
Hoán dụ: “giếng nước gốc đa”
Nhân hóa: “nhớ”
- Tác dụng:
Khiến cho lời thơ mang đậm chất dân gian
Hình ảnh nhân hóa, hoán dụ trong câu thơ “Giếng nước
gốc đa nhớ người ra lính” không chỉ gợi về quê hương, về
hậu phương của người lính, ý thơ nói về quê hương nhớ người lính mà ta như thấy được nỗi nhớ của người lính dành cho quê hương, đó là nỗi nhớ hai chiều
Như vậy, đồng chí tức là sự cảm thông sâu xa cho những nỗi miềm tâm tư thầm kín của nhau
2) Từ “đôi” trong đoạn thơ thuộc từ loại gì? Vì sao tác giả không dùng từ “hai” thay vì từ “đôi”?
- Từ “đôi” trong đoạn thơ là danh từ chỉ đơn vị (từ “hai” là số từ)
- Tác giả không dùng từ “hai” thay vì từ “đôi” mặc dù cả hai từ đều chỉ số lượng hai người bởi vì từ đôi cho ta thấy được sự hòa hợp, đồng nhất của hai người lính, tuy mỗi người một quê hương, miền
Trang 5đất khác nhau và xa lạ với nhau nhưng họ đã về đây đứng chung hàng ngũ, có cùng lí tưởng và mục đích chiến đấu bảo vệ Tổ quốc Còn từ hai mang ý nghĩa chỉ hai người riêng rẽ chứ không gắn kết như từ “đôi”
3) Trong chương trình Ngữ văn 9, cũng có một câu thơ khác viết
về cái bắt tay của những người lính Hãy ghi lại câu thơ đó và cho biết câu thơ em vừa ghi có điểm tương đồng gì về ý nghĩa
với câu thơ “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”
- Câu thơ “Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi” (“Bài thơ về tiểu đội xe
không kính” – Phạm Tiến Duật)
- Cả hai câu thơ đều miêu tả cái bắt tay của những người lính trong
hoàn cảnh khó khăn, thử thách của chiến tranh Cái bắt tay thể hiện tình đồng đội keo sơn, gắn bó Tình cảm ấy tiếp thêm động lực, sức mạnh giúp người lính vượt lên thử thách, khó khăn