Tài liệu Nghiên cứu so sánh tục ngữ tiếng Lào và tục ngữ tiếng Việt phần 1 trình bày các nội dung chính sau: Tổng quan về văn hóa - xã hội Việt Nam - Lào; So sánh nội dung tục ngữ Việt và tục ngữ Lào;... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.
Trang 1TH ae, ĐẠI HỌC QUỐC GIÁ HÀ NỘI
TUC bo việ7 Pele NGỮ LAO
Trang 2TS NGUYEN VAN THONG
SO SANH
TUC NGU LRO
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HA NOI
Trang 3TONG QUAN VAN HOA - XA HOI VIET NAM - LAO
1.1 Mỗi quan hệ lịch sử - xã hội Việt Nam - Lào ¡38
1.1.1 Sơ lược lịch sử - xã hội nước Lào
1.1.2 Mối quan hệ lịch sử - xã hội Việt Nam - Lào
1.2 Môi quan hệ văn hoá Việt Nam - Lào
trong bồi cảnh Đông Nam A
SO SANH NỘI DUNG TỤC NGỮ VIỆT VÀ TỤC NGỮ LÀO
2.1 Trình bày sự giống nhau và khác nhau 69
2.1.1 Tục ngữ Việt, Lào thể hiện nhận thức, trí thức
về tự nhiên, thiên nhiên; phản ánh quê hương, đất nước 69
2.1.2 Đúc kết kinh nghiệm về sản xuất, chăn nuôi.
Trang 42.1.3 Phản ánh các mối quan hệ gia đình, xã hội 94
2.1.4 Phê phản giai cáp thống trị và khẳng định những
phẩm chất tốt đẹp, chế giễu những thỏi hư, tật xdu 104
2.1.5 Phản ánh văn hoá ẩm thực của nhân dân LIL6
2.1.6 Tục ngữ Việt phản ánh thực tế người Việt
chịu ảnh hưởng Nho giáo 127
2.1.7 Tục ngữ Lào phản ánh thực tế người Lào
chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo 1314
2.1.8 Hiện tượng trái nghĩa trong tục ngữ Việ! „ 142
2.2 Giải thích sự giống nhau và khác nhau 2 WSO
Chương 3
SO SANH NGHỆ THUẬT TỤC NGỮ VIỆT VÀ TỤC NGỮ LÀC!
3.1 Trình bày sự giống nhau và khác nhau 161
Trang 6BANG CHU GIAI VA CAC CHU VIET TAT
TRONG CUON SACH
Ngắt đoạn
Tục ngữ
Ngất ý
Thành ngữ Nghiên cứu sinh Trước công mguyên
Đơn vị trung gian
Xuất bản
Đại học Quốc gia
Hà Nội Đại học Tổng hợp
Hà Nội
Trang 7Lời nói đầu
Quan hệ /iệt Nam - Lào là môi quan hệ láng giòng gắn bó
khăng khút, thủy chung trong suốt chặng đường lịch sử NỊ nay, môi quan hệ đó được hai Đảng, hai Nhà nước và nhân
dân hai nước nâng lên thành liên mình chiến đầu, tình hữu
nghị đặc biệt, sự hợp tác toàn diện trên tắt cả các lĩnh vực
Mối quan hệ đó đang không ngừng được củng có và phát triển trong thời đại ngày nay Hiện nay, có thêm nhiều người
Lào biết tiếng Việt đề hiểu hơn vẻ lịch sử, văn học và văn hóa
mỗi quan hệ Việt - Lào và sưu tâm, quảng bá những nét đẹp của văn hóa Lào vẫn còn khiêm tốn, chưa tương xứng với
thực tế môi quan hệ đặc biệt nói trên
Qua một số năm chiến đẩu, công tác ở Lào và nhiều năm
giảng dạy và tiếp xúc với người Lào ở Việt Nam, chúng tôi đã
đi điền dã và thu thập được một số lượng đáng kẻ những câu
tục ngữ Lào!, đã cảm nhận được một phân tâm thức của người
Lào trên mảnh đất thân yêu của họ Chúng tôi cũng đã công bố
một số công trình khoa học và bài viết nhất định về nó?
Trang 8Về tục ngữ của người Việt, trong giới nghiên cứu văm
hóa, văn học dân gian, đã có nhiều công trình, bài viết với một lực lượng khá hùng hậu và đã đạt được những thành tức
đáng kể Còn nghiên cứu so sánh tục ngữ Việt với tục ng;ữt
Lào trên cả hai phương điện nội dụng và hình thức là một đê) tài hoàn toàn mới Do vậy, việc ra đời một cuốn sách so sari
tục ngữ Việt, Lào là một việc làm cần thiết và hữu ich
Nhân đây, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Nhà xuất bảm Đại học Quốc gia Hà Nội, cảm ơn GS.TS Nguyễn Xuân Kinh, GSTS Phạm Đức Dương, GS.TŠ Lê Chí Quế cùng các bạm: đồng nghiệp Lào đã đọc và cho nhiều góp ý quý báu, chân tình
Hà Nội, ngày 01 tháng 5 năm 20/0
Nguyễn Văn Thông
Trang 9Mở đầu
Người Lào có câu xú pha xit? “May huồm co po huôm
xược" (Đay chung dây, cây chung khóm) Quan hệ Việt Nam
~ Lào như tre chung một bụi, nhur day chung một dây Hai
nước liền kể nhau về địa lý và có quan hệ bang giao thân thiết
lâu đời vì cùng nằm trên bán đảo Đông Dương thuộc vùng
Đông Nam Á Cho nên, bên cạnh những điểm khác nhau như
là sự tất yếu xuất phát từ bản sắc dân tộc, nền văn hoá hai
nước nói chung, tục ngữ hai nước nói riêng có những điểm
tương đồng như là bản chất chung trong quá trình sáng tạo
folklore nhân loại cũng như sự giống nhau do những điều kiện lịch sử, địa lý tự nhiên và những quan hệ giao lưu văn hoá mang lại Nghiên cứu sự giống nhau và khác nhau này, về
chính trị, sẽ góp phần khẳng định tính độc lập của mỗi dân
tộc; đồng thời, những yếu tố về địa lý, lịch sử, xã hội giống,
nhau giữa hai nước cũng tạo nên những nét giống nhau trong,
mỗi bang giao thân thiết giữa hai dân tộc; về khoa học, khong
KHÍ niệm sử pha xứ của người Lào đồng nghĩa với khải niệm sục ngữ và khái niệm thành ngữ của người Việt tức là trong xi pha xít cỏ hai bộ phân, một bộ phần là thẳnh ngữ, bộ phận còn lại là rục ngữ.
Trang 10chỉ giúp cho những người quan tâm hiểu biết thêm về tục myeữ mỗi nước, hiểu rõ hơn những nét đẹp truyền thống trong :tâm
hồn và tính cách của chính mình và của người bạn láng giềng
mà còn góp phần làm sáng tỏ sự giống nhau kỳ lạ, đến từmg, chỉ tiết của một bộ phận tục ngữ hai dân tộc Qua đó, viề lý luận, sẽ góp phần làm rõ hơn bản sắc văn hoá của mí
tộc; về thực tiễn, cũng góp phan quảng bá nền văn hoá của
nước và thúc đẩy mối quan hệ láng giềng truyền thốmg
'Việt Nam - Lào ngày càng phát triển
Từ xa xưa, văn học dân gian Lào đã bắt đầu phát triển với
những câu chuyện kẻ, những bản trường ca, những câu thơ ILéto
hùng tráng mà mượt mà, những câu tục ngữ Lào thâm thúy mà
bóng bây, trong đó có công đóng góp vô cùng to lớn của đội ngũ sư sãi và “mỏ lăm” (nghệ sĩ dân gian) Lào Sư sãi Lào đã gop phần phát triển đạo Phật ở Lào và cũng là những ng:ười đáng được ghi tên trong văn học Phật giáo; còn các “mỏ lãm" (nghệ sĩ dân gian) Lào lại là những người có những đóng gép
quan trọng đối với nền văn học dân gian Lào
có ca daó, tục ngữ (sau này đã được tái bản nhiều lần) ĐÓ là
những công-Írình sưu tầm, biên soạn và giới thiệu tục ngữ rất
đáng quý Năm 1987, cuốn Văn học Lào dày 527 trang, rnột
công trình hợp tác giữa Uỷ ban Khoa học Xã hội Lào với
10
Trang 11
Viện Nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Uỷ ban Khoa học
Xã hội Việt Nam in tại Nhà xuất bản Quốc gia Lào (Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Viéng Chan in lại theo hình thức rônêô năm 1989), là một công trình đầu tiên ở Lào nghiên cứu dài hơi, tương đối có hệ thống, có độ tin cậy khoa học về văn học Lào từ trước đến nay Do phải giới thiệu một cách khái quát về văn học Lào, rên phần giới thiệu và nghiền cứu tục ngữ Lào còn quá sơ lược Vài chục năm nay, Chính phủ Lào đã dành sự quan tâm đặc biệt cho công tác giữ gìn,
phát triển nền văn học truyền thống của dân tộc Người Lào
đã đưa văn học dân gian Lào nói chung, tục ngữ Lào nói riêng vào chương trình giáo dục phỏ thông và đại học Do vậy, đã
có người sưu tầm, biên soạn tục ngữ Lào thành những tập từ điển mini mỏng, gồm vài chục câu đến vài trăm câu Cuốn Ven học phổ thông [208] của nhiều tác giả Lào, giới thiệu một
cách sơ lược tình hình văn học Lào, trong đó có văn học dân
gien dành cho học sinh hệ phổ thông trung học Lào của Nxb
Giáo dục Thể thao và Lễ nghỉ, xuất bản năm 1982; cuốn Câu the dân gian Lào [211] của Bò Xẻng Khăm, Xtc Xa Vang,
Bun Khién, được biên soạn chung, gồm nhiều phần, trong đó phìn tục ngữ gồm một số câu mới được sưu tầm, biên soạn khỏng theo chủ đẻ hoặc tiêu chí nào; cuốn Tực ngữ cổ truyền Là› [209] của Ma hả Xi La Vị La Vông, 63 trang, gồm năm phin (xuất bản lần đầu năm 1996, in 2000 cuốn) do Đa Ra
Căn Nạ Nha giới thiệu, riêng phần tục ngữ có 450 câu (sách được tái bản lần thứ ba, năm 2000, do Công Đươn Nẹt Tha
'Vông giới thiệu, in 3000 cuốn) bao gồm những câu tản mạn,
kh¿ng sắp xếp theo cách làm truyền thống; cuốn Từ rhông
dụng và tục ngữ Lào [212] của Xi Ri Xu Văn Na Xi, xuất bản
11
Trang 12năm 2000, 62 trang, gồm bón phần, riêng phần tục ngữt Lào
mới chỉ được dịch và đối chiếu từ 235 câu tục ngữ Anh; cuốn
Tục ngữ dân gian Lào [213] của Đuông Chin Van Na Bu Pha
xuất bản năm 2005 cũng được biên soạn với cầu trúc tương ty, Gần đây, Lãm Phon Xay Xa Na đã làm khóa luận tốt
đại học với đề tài Tìm hiểu tục ngữ Việt và xú phha xít
Lào về văn hoá Âm thực, 1999 [137] mới chỉ so sánh tục ngữ hai nước ở một khía cạnh của nội dung
Ở Việt Nam, văn học dân gian Lào nói chung, tục ngữ
Lào nói riêng chưa được nhiều người Việt Nam biết đến, vì
đội ngũ những người làm công tác sưu tầm, nghiên cứu chúng
ở Việt Nam chưa đông, việc giới thiệu chúng với độc giải Việt Nam cũng mới được khởi động Đinh Việt Anh [1], trong
chương 2 viết về văn học dân gian Lào, ngoài phan kháii quát chung, tác giả lần lượt khảo cứu từng thể loại, trong đió tục
ngữ Lào được nghiên cứu một cách thận trọng, khoa học
nhưng còn sơ lược Trong số không nhiều nhà folklore Lào
phải kể đến Nguyễn Năm với một số bài viết trong sách hoặc
trên các tạp chí chuyên ngành Cuốn Hợp tuyến văn học Lào
[140] dày 511 trang, do Nguyễn Năm giới thiệu khắc hoạa bức tranh chung vẻ tình hình văn học Lào qua các thời kỳ nhưng,
chưa nêu được đặc điểm của từng thể loại Nguyễn Đình
Phúc, tác giả cuốn ,Xú pha xít và lời nói giao duyên Lào [ 138],
lần đầu tiên sưu tầm, dịch nghĩa 691 câu tục ngữ Lào sang
tiếng Việt, giới thiệu, bình giảng sơ lược ở một vài khía cạnh của nội dung mà chưa đi sâu tìm hiểu toàn diện nội dung và nghệ thuật tục ngữ Lào Trong công trình tập thé Var sọc
Đông Nam Á [131], Lại Phi Hùng đã nhận diện một cách rất
18
Trang 13c ngữ trong môi tương quan thẻ loại của nền văn
chung, văn học dân gian
Hiển có bài “Sơ bộ tìm hiểu luật hiệp vẫn và vẫn trong xú pha
xít Lào” [55] và bài "Một số hình thức thể hiện tính hình tượng trong xú pha xít Lào” [36]; tác giả cuốn sách có bài:
“Tim hiểu tư tưởng Phật giáo ở Lào qua mảng xú pha xít Lào
về văn hoá ứng xử" [170] và bài “Phong cách ăn uống của
người Lào” [172] Ngoài ra, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường Tìm hiểu tục ngữ Việt và xú pha xit Lào [71] và hai
đề tài cấp Đại học Quốc gia Hà Nội: Từ điển thành ngữ và tục
ngit Viét - Lao [181] va Ti điển thành ngữ và tục ngữ Lào - Việt [183] của tác giả cuốn sách không chỉ tìm hiểu, so sánh
một số khía cạnh của tục ngữ hai nước mà còn sánh nghĩa
trong quan hệ đối ứng của chúng Luận văn thạc sĩ: Tìm hiểu
tục ngữ Việt và xú pha xít Lào về Văn hoá ứng xử [168] và các bài: “Tìm hiểu mảng tục ngữ Việt và xú pha xít Lào về văn hoá ứng xử” [169], “Về hiện tượng “nói ngược” trong tục ngữ Việt và xú pha xít Lào” [174], “Tìm hiểu lối nói của người Việt và người Lào qua tục ngữ” [180] “Tìm hiểu một
số kiểu hiệp vẫn trong tục ngữ Việt và Lào” [182], “Tìm hiểu
một số kiểu kết cấu so sánh của tục ngữ Việt và tục ngữ Lào”
[184] của tác giả cuốn sách, đã góp thêm tiếng nói về một số khía cạnh của tục ngữ, làm phong phú thêm mảng văn học so sánh ở Việt Nam Ngoài ra, còn nhiều tác giả biên soạn,
nghiên cứu, so sánh, đối chiếu tục ngữ Việt với tục ngữ một
số nước trên thế giới để thấy được cái hay, cái đẹp của tục
13
Trang 14ngữ Việt Trước hết, phải kẻ đến các tập từ điển, luận văn, bài
viết so sánh, đối chiếu tục ngữ Việt với tục ngữ nước ngoài
Đó là các cuốn từ điển đa ngữ như: Tục ngữ Nga - Anh- Pháp '
- Việt [7] của Lê Đình Bích, Trần Quỳnh Dân; 7ực ngữ, thành ngữ trên thề giới [23] của Lê Du, Lê Hải; Tục ngữ các nước trên thế giới [S8] của Vương Trung Hiếu; Tục ngữ Anh - Pháp - Việt [99] của Nguyễn Gia Liên; Tục ngữ ta đối với tục
ngữ Tàu và tục ngữ Táy [192] của Nguyễn Văn Tố; Tực ngữ
Anh - Pháp - Việt và một số thành ngữ danh ngôn [200] của
Lê Ngọc Tú; Từ điển thành ngữ tục ngữ Pháp - Anh - Việt [203] của Thanh Vân, Nguyễn Duy Nhường, Lưu Hoài Và sau đó là các cuốn từ điển song ngữ như: Tục ngữ Nga - Việt [8] của Lê Đình Bích; Tựe ngữ và câu đó Đức - Việt [71] của Lương Văn Hồng; Từ điển thành ngữ - tục ngữ Việt - Pháp
[96] của Nguyễn Lân, Ngoài một vài cuốn dành một lượng, trang it di tìm hiểu một cách sơ lược tục ngữ hoặc thành ngữ - tục ngữ trên một số khía cạnh, còn phần lớn chỉ là những
cuốn từ điển song ngữ hoặc đa ngữ mà chưa có được những
câu tục ngữ đối ứng, chưa phân tích đầy đủ các mặt nội dung
và hình thức của chúng Các cuốn từ điển đối chiếu tục ngữ
Việt với tục ngữ một số nước đồng văn như: Từ điển thành
ngữ - tục ngữ Hoa - Việt [19] của Nguyễn Văn Khang; Tục ngữ Nhật - Việt [189] của Nguyễn Thị Hồng Thu; 7ừ điế
thành ngữ tục ngữ Hoa - Việt [197] của Lê Khánh Trường, Lê
Việt Anh cũng được trình bày tương tự Năm 2005, luận án
tiến sĩ Ngữ văn với đề tài Tìm hiểu văn hoá ứng xử Nhật 8ản
qua Kôtôwaza, có so sánh với tục ngữ Việt Nam [190] của Nguyễn Thị Hồng Thu lấy tục ngữ Nhật làm đối tượng nghiên
14
Trang 15cứu chủ yếu nhưng có so sánh với tục ngữ Việt Nam Tuy còn
chưa thật nhiều nhưng những công trình, bài viết nói trên cũng đã góp thêm cho mảng văn học so sánh ở Việt Nam một không khí học thuật mới
Nhìn chung lại, khi nghiên cứu văn học dân gian Lào nói chung, tục ngữ Lào nói riêng, các tác giả Việt Nam và Lào mới chỉ xem xét một cách đơn tuyến, tách rời; cách tiếp cận
chưa đặt trong tư duy bối cảnh, nghĩa là chưa đặt sự so sánh
tục hai nước trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á để tìm ra những điể lêm tương đồng và j biệt không chỉ trong tục ngữ mà
còn cả trong giao lưu, tiếp biến văn hoá giữa các dân tộc đó
Chưa có những công trình nghiên cứu so sánh, đối chiếu nội
dung tư tưởng, nghệ thuật và thi pháp của tục ngữ Việt và tục
ngữ Lào do vấn để nghiên cứu chúng theo phương pháp này còm mới Bởi vậy, thành tựu của việc so sánh tục ngữ Việt và
tục ngữ Lào đang còn trong giai đoạn khởi đầu, kết quả thu
được chưa nhiều
Tục ngữ là một bộ phận quan trọng của văn học dân gian được truyền miệng trong dân chúng từ lâu đời Tục ngữ của ngườ Việt từ lâu đã trở thành đối tượng khảo sát và nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu mang tính
chuyên sâu vẻ tục ngữ Tuy nhiên, việc nhận diện chính xác
về tục ngữ để có thể tiếp tục giải nghĩa và khảo sát các giá trị
văn kóa của tục ngữ vẫn là một việc làm cần thiết Ở đâa chứng tôi chỉ tập trung khảo sát, nghiên cứu và nhận diện tục ngữ tong mối tương quan với các thể loại khác
15
Trang 16Chúng ta sẽ xem xét tục ngữ trong mối tương quan với
các khái niệm gần gũi với thể loại này Việc xem xét này là
cần thiết, bởi sẽ giúp ta nhìn nhận được rõ hơn vẻ ranh giới thể loại tục ngữ như: giữa thành ngữ và tục ngữ, giữa tục ngữ
và ca dao, tục ngữ với ngạn ngữ, danh ngôn, phương ngôn
Vắ:: đề ranh giới giữa tục ngữ và thành ngữ cho đến nay
ở Việt Nam chưa có công trình nào giải quyết một cách toàn
diện và triệt để Khoảng đầu nhimg nim 70 cua thé ky XX, trên Tạp chí Ngôn ngữ có một số bài thảo luận về vấn dé may Một số học giả quan tâm phân biệt tục ngữ và thành ngữ trên
nhiều tiêu chí khác nhau
Trên 7ạp chí Ngôn ngữ, số 3 năm 1972, khi bàn về
“Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ”, Nguyễn Văn Miệnh
(1940 - 1995) đã cho rằng, về nội dung thành ngữ giới thiệu một hình ảnh, một hiện tượng, một trạng thái, một tính cách,
một thái độ; còn tục ngữ đi đến một nhận định cụ thẻ, một kết luận chắc chắn, một kinh nghiệm sâu sắc, một lời khuyên răn,
một bài học về tư tưởng và đạo đức Tác giả bài báo đã dựa trên hai tiêu chí nội dung và hình thức để kết luận: '*Có thé nói, nội dung của một thành ngữ mang tính chất hiện tượng,
còn nội dung của tục ngữ nói chung là mang tính chất quy
luật Từ sự khác nhau cơ bản về nội dung dẫn đến sự khác
nhau cơ bản về hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ là mỏt
cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh Tục ngữ thì khéc
hẳn Mỗi tục ngữ tối thiểu là một câu”
Đi theo một hướng khác, có “đối chiếu với thực tế” trên
cơ sở phân tích những ý kiến của Nguyễn Văn Mệnh theo tiêu chí nội dung và hình thức, nhà ngôn ngữ hgc Cu Dinh Ta cto
16
Trang 17răng, nội dung tục ngữ cũng như thành ngữ đều là sự đúc rút
kết tỉnh trí tuệ của quản chúng, dều từ sự khái quát hóa hiện thực đẻ rút ra bản chất quy luật mà có Theo ông, ý kiến của Nguyễn Văn Mệnh là “chưa xác đáng” vì đã dựa vào nội dung logic để chỉ ra và giải thích sự khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ Ông Cù Đình Tú còn khẳng định rảng chính chức ning lam nên sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ: "Thành ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ, còn tục ngữ xét về một mặt nào đó cũng là một hì tượng ngôn ngữ Thành ngữ là đơn vị có sẵn mang chức năng định danh Nói khác đi, dùng để gọi tên sự vật, tính chất, hành động VỀ mặt này mà nói, thành ngữ là những đơn vị
tương đương như từ Tục ngữ cũng giống như các sáng tạo
khác của văn học dân gian như ca dao, truyện cỏ tích, đều là các thông báo Nó thông báo một nhận định, một kết luận về
một phương diện nào đó của thế giới khách quan Do đó, mỗi
câu tục ngữ đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tưởng”
Từ năm 1944, trong Việt Nam văn học sử vếu (1944), nhà giáo Dương Quảng Hàm viết: “Một câu tục ngữ phải có ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì, còn thành ngữ chỉ là những lời nói sẵn có để ta tiện dùng mà diễn
đạt một ý hoặc tả một trạng thái gì cho màu mè” Biểu lộ sự
đồng ý với ý kiến trên, nhà văn Vũ Ngọc Phan (1904 - 1987) nhắn mạnh: “Thành ngữ chỉ là một bộ phận của câu, nó gọn gàng, tiện cho việc sử dụng, nhưng tự nó không diễn đạt hết
kinh nghiệm,
Trang 18
Các tác giả Chu Xuân Diên Lương Văn Đang và Phương Trí trong 7c ngữ Việt Nam (1975) cũng cho rằng, thành ngữ
là những khái niệm và tục ngữ là những phán đoán và kếtt luận: “Những tri thức ấy khi ta rút lại thành những khái niệm: thì ta có thành ngữ, còn khi được trình bày, được diễn đạt thành những phán đoán thì ta có tục ngữ" Khi phân biệt tục: ngữ với thành ngữ, không phải không còn những người nhằm: lẫn về khái niệm Có người còn xóa nhòa ranh giới giữa chúng Song nhiều tác giả đã lưu tâm đến sự giao thoa giữai thành ngữ và tục ngữ Nói cách khác, đã xuất hiện những đơn:
vị trung gian (ĐVTG) giữa tục ngữ và thành ngữ Các ý kiến:
nói trên đều khá thống nhất cho rằng, tục ngữ có cấu trúc là một câu; còn cấu trúc của thành ngữ là một cụm từ có định
(còn gọi là ngữ) Thành ngữ tiếng Việt khi là một danh ngữ:
“Cây cao bóng cả", "Cây nhà lá vườn", *Bễ bạc rừng vàng” (Mỗi thành ngữ có hai về mà mỗi về có cấu trúc một
danh ngữ: cây cao, bóng cả; cây nhà, lá vườn; bể bạc, rừng vàng, ); khi là một động ngữ: "Đội đó vá tới”, "Lội suối trèo non”, “dn chắc mặc bén” (Hai vé thành ngữ, mỗi về là một động ngữ: Đội đá, vá trời: lội suối, trèo non; ăn chắc, mặc bẻn ); lúc lại là một tính ngữ: *Nhạt nữ: nước ốc”,
“Dot dic can mai”, "Móng mày hay hạt” (nhạt, đốt, mỏng )
Một số thành ngữ có cấu trúc C-V hoặc 'C-V-B mà không thể
thành tục ngữ được, bởi chúng kết hợp rất hạn chế với những,
yếu tố định trước (tiền ngôn): “Gà trồng muôi con”, ®Cá nằm
trên thớt", "Éch ngôi đáy giêng Trước chúng, vắng các tiễn giả định: “(cảnh) Gà (rồng nuôi con”, "cảnh/như Cá nằm
trén thot”, "như/chẳng khác gì ÉẾch ngôi đáy giếng” Cấu tạo kiểu này dễ gây sự lẫn lộn giữa câu và cụm từ
Trang 19
Theo Nguyễn Thái Hòa
ö khoảng 36 trường hợp ÐĐVT tiền ại dưới cả hai dạng: tục ngữ và thành ngữ vì khó phân tbiệt đó là tục ngữ tỉnh lược hay là thành ngữ mở rộng Thí dụ:
CC thăm vấn mới bán thuyền (Người) thăm ván bán thuyền
1 Đừng có mạch, viicn có lái (ở đây) tai vách mạch dừng
Cếch tgủi đáp giống coi trời bằng vung - (Như) ếch ngôi đáy giêng
Không phải thành ngữ nào cũng được triển khai thành tục rngữ và tục ngữ nào cũng rút lai dé trở thành thành ngữ Phải
ccharg cach str dung nói trên mang dấu ấn của màu sắc tu từ
tron: nói năng hoặc trong các van ban hang ngay? Đôi khi sự
**lưỡng tính” này còn đo thêm một số phó từ: thi, md, lại, mà Lại, Thí dụ:
CGiòicười tươi khóc (hiện tượng) — Giòn cười thì rươi khóc (quy luật) (Gặp hăng hay chớ (hiện tượng) Gặp chăng thì hay chớ (quy luật) Trưng chọi với đá (hiện tượng) _ Trứng mà lại chọi với đá (quy luật)
Trong Thành ngữ tiếng Việt, các soạn giả Nguyễn Lực,
ILươg Văn Đang lại lưu ý đến sự thâm nhập lẫn nhau của
nmột›ộ phận trong tục ngữ và thành ngữ Do vậy, đã có một ssố tường hợp sự phân biệt thật khó rạch ròi: “Trên thực tế có
mmột:ố đơn vị thành ngữ giống nhau, có khi thành ngữ lồng,
wao iay xen kẽ vào tục ngữ" Thí dụ: ,
- Cây sâu cuốc bằm (ThN),
Cay sau cuốc bẫm, thóc đầy lẫm, khoai đầy bồ (TN)
18
Trang 20+ Dở đở ương ương (ThN)
- Khôn cho người ta rái (sq), dai cho người ta thương dở
dở ương ương cho người ta ghét (TN)
+ Đẹp như tiên (ThN)
- Dep như tiên không tiền cũng xác (TN),
Trong mỗi câu tục ngữ đó đều có một bộ phận được cấu
tạo từ thành ngữ Tuy vậy, không hiểm trường hợp cùng một câu nhưng người này cho là thành ngữ, còn người kia lại cho
là tục ngữ Các câu: “Cốt nhục xương tàn” “Nôi da xáo thịt”
được Hoàng Tiến Tựu cho là tục ngữ, còn Nguyễn Lực, Lương Văn Đang và Nguyễn Như Ý lại xếp vào thành ngữ Công trình Tuc ngit Nga - Việt của Lê Đình Bích đã đi theo
hướng phân tích cấu trúc và chức năng để phân biệt: Thanh ngữ thuần ngôn ngữ cụm từ cố định có chức năng điịnh
danh, tục ngữ là những câu khái quát có chức năng thông báo Thành ngữ chỉ trình bảy một khái niệm thông qua miêu tả mòt hiện tượng nào đó một cách rất hình ảnh chỉ nêu một hiện
tượng bể ngoài chỉ cọ sát về ngôn ngữ (nghe - hiểu); còn tục
ngữ nêu bật bản chất hiện tượng đó một cách thâm trằm, sáu
sắc, cô đọng đi sâu vào bản chất bên trong, đánh thức mặt tr
duy (nghe - và nhận thức) Tác giả kết luận: *Tục ngữ là cáu khái quát, cô đúc đến tối giản về mặt từ ngữ nên thường được
hiểu ngầm trong khi đó thành ngữ là cụm từ có định, chỉt chẽ vẻ cầu trúc, không thể xen vào một hệ từ nào”
Trong Thi pháp ca dao, tác giả Nguyễn Xuân Kính đi
phân biệt: "Thành ngữ là những đơn vị có sẵn mang chứ:
năng định danh, dùng để gọi tên sự vật hoặc để chỉ tính chá,
hành động Về mặt này, thành ngữ là những đơn vị tươn:
30
Trang 21+sở têu chì nhận thức luận đề phân biệt:
nội dung trọn vẹn được khuôn đúc lại trong,
¡một mệnh đề tuy rút ngắn nhưng hoàn chỉnh Thành ngữ là
ssan 3hâm của cách nói ví von phổ biến trong nhân dân Điều
‹đó ảm cho thành ngữ và tục ngữ tuy phân biệt với nhau
¡nhung nhiều khi chúng cũng thâm nhập lẫn nhau về mặt thể loại Do đó, có trường hợp một thành ngữ nhất định cũng có tthễ (ược dùng như một câu tục ngữ”
Lê Chí Quế đã giải thích sự khác nhau cơ bản giữa thành
¡ngữvà tục ngữ là sự khác nhau về chức năng: “Thành ngữ là
inhững đơn vị có sẵn mang chức năng định danh, nói khác đi
«din; dé gọi tên sự vật, tính chất, hành động Về mặt này mà
¡nôi thành ngữ là những đơn vị tương đương như từ Tục ngữ
‹đứn; về ngôn ngữ học có chức năng khác hẳn so với thành
¡ngữ Tục ngữ cũng như các sáng tạo khác của dân gian đều
là e thông báo Nó thông báo một nhận định, một kết luận
›về nột phương diện nào đó của thế giới khách quan”
Trong Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, dưới góc nhìn của
imétaha tir vung học, nhà giáo Nguyễn Văn Tu đã nhận xét:
`*Tụ ngữ, phương ngôn và ngạn ngữ có liên quan đến thành
mmgữzà quán ngữ Chúng không phải là đối tượng của từ vựng
mà à đối tượng của văn học dân gian Nhưng vì chúng là đơn
21
Trang 22vị có sẵn trong ngôn ngữ được dùng đi dùng lại để trao đổi tư tưởng cho nên chúng dính dáng đến vấn dé cum từ có địmh Thực ra, chúng là những câu hoàn chỉnh chỉ một nội dung đẩy
đủ, không cần những thành phan cú pháp nào cả” Theo Từ
điển tiếng Việt, thành ngữ là “tổ hợp từ có định đã quen dùmg,
mà nghĩa thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó”
Nhìn chung lại, ý của nhiều nhà nghiên cứu kha
thống nhất khi cho rằng, thành ngữ là một cụm từ có định, còn tục ngữ là một câu Có một số đơn vị tục ngữ duge cau tạo như một cụm danh từ hoặc cụm động từ v.v nhưng vẫn
là câu mang ý nghĩa trọn vẹn, như: “Tác đất tắc vàng” 5
gây tre, mẹ gây vông” Trai lai, không ít thành ngữ có cấu tạo như là một câu nhưng không phải là câu, như: “ước đồ
lá khoai", “Mèo mù vớ cá rắn”, "Trứng đẻ đầu ding”, “Chuct
sa chĩnh gạo” Tuy nhiên, giữa hai khái niệm “thành ngữ” (idioms) và “tục ngữ” (proverbs) còn có những ý kiến khác nhau vì từng tác giả tiếp cậ
an chúng ở những góc độ khác nhau, với những mục đích không giống nhau
Hai khái niệm “ca dao” (folk songs) va “tuc ngit” (proverbs)
cho đến nay vẫn còn có những cách phân biệt chưa thống nhất Thực tế cho thấy, nhiều tác giả đã sưu tập và biên soạn
chung tục ngữ với ca đao, tuy họ đã phân biệt tục ngữ và ca
đao là hai loại hình khác nhau Ngoài một số nét giống nhau, giữa tục ngữ và ca dao còn có nhiều điểm khác nhau
Khi tuyển chọn và giới thigu Tuc ngữ ca dao Việt Nam,
Mã Giang Lân đã khẳng định: “Nếu như tục ngữ thiên về lý
trí đúc kết kinh nghiệm về cuộc sống thì ca dao thiên vẻ tình 22
Trang 23cán nếu tục ngữ thường dừng lại ở nhận thức “cái vốn có” thì -a dao thường tiên thêm một bước nữa rất quan trọng là bộc lộ nguyện vọng của nhân dân đối với vii
thực” Ca dao không chỉ phản ánh "cái đã còn đẻ xuất
nên có” Tuy không vạch rõ ranh giới giữa tục ngữ và
ca (ao nhưng Chủ Xuân Diễn trong ăn học dân gian tập I (193) đã đưa za một tiêu chỉ mới để phân biệt tục ngữ và cá đạc *Tục ngữ thiên về lý trí (nội dung triết lý dân gian), ca đạc thiền vẻ tỉnh cảm (nội dung trữ tình dân gian), nhưng giữa hai thể loại đó không phải là không có những trường hợp
thân nhập lẫn nhau Khi những câu tục ngữ có thêm yếu tố
can xúc thì tục ngữ đã tiếp cận với ca dao nhiều câu vốn là
ca lao nhưng đồng thời cũng được dùng như tục ngữ” Sự
“lương tính” này của tục ngữ, không chỉ được thể hiện với thàh ngữ mà còn với cả ca đao nữa Tác giả Lê Đình Bích
gói thêm một tiếng nói làm phong phú hơn những ý kiến
phín biệt tục ngữ với ca dao Ông cho rằng: *Ca dao là những câuhát dân gian dùng để miêu tả, tự sự, diễn đạt tình cảm, Ca đac bao giờ cũng mang tính trữ tình thuần tuý, đó là thứ tư duy hình tượng dân gian tỉnh tế, biểu hiện những tình cảm sâu
lắn: trong tâm hồn con người Tục ngữ ngược lại, đó là những phát biểu trực tiếp những kinh nghiệm, những chân lý rút a từ cuộc sống Tục ngữ thiên về mặt nhận thức, biểu hiện những đúc kết hàm súc của trí tuệ loài người” Ý kiến xác
đám trên còn giải thích sự đan xen giữa tục ngữ và ca dao, đôichi ranh giới giữa chúng thật khó phân biệt một cách rạch ròi.bởi có những câu tục ngữ và ca dao hoàn toàn giống nhau
về Iình thức kết cấu, nhất là cấu trúc 6 - 8, người này xếp vào
tục \gữ nhưng người khác lại cho là ca dao Thí dụ:
Trang 24Nghèo hèn giữa chợ ai chơi
Giàu trong hang múi có người đến thăm (củ)
Câu cá đao này mang tính khái quát cao, có thể được sử dụng như câu tục ngữ vì nó có hơi hướng của câu tục ngữ:
“Giàu sơn lâm lắm kẻ tìm đến, khó giữa chợ chẳng ma nào
nhìn" Nếu giữa thành ngữ và tục ngữ có những ĐVTG thì giữa tục ngữ và ca dao cũng xảy ra trường hợp tương tự Khi những nhà nghiên cứu văn học dân gian lấy nội dung làm tiêu chí phân biệt thì sẽ xuất hiện những câu người này bảo là tục ngữ, người kia nói là ca dao Thí dụ các câu: “Chưỏn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng bay vừa thi ram”, “Théim đông hông tây dựng may, ai ơi đợi đến ba ngày hãy đi” được coi là ca dao nói về thời tiết hay là câu tục ngữ chỉ thời tiết cũng đều đúng cả Do đặc điểm “lưỡng tĩnh” này mà cách
phân biệt tục ngữ với ca dao cũng chưa hoàn toàn thống; nhát Chẳng hạn, dạng thức của câu: “Chim rời ai đễ đếm lômg, nuôi con ai nỡ (dễ) kể công tháng ngày”(1) và câu:
cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chả) ra”(2) được một số nhà nghiên cứu xếp cùng loại tục ngữ nói
về công ơn cha mẹ đối với con cái, nhưng Chu Xuân Diên đã xếp câu (1) vào mục tục ngữ nói về “cha mẹ - con cái”, cồn 'Vũ Ngọc Phan cho câu (2) vào mục ca đao nói về “cha mẹ, con cái, họ hàng” Vì vậy, khi phân biệt, không thể chỉ căn cứ vào cấu trúc mà còn phải dựa vào chức năng và nội dung của chúng, điều làm nên diện mạo khác nhau giữa chúng 'Nhiều trường hợp một câu ca dao thể lục bát nhưng đan cài trong nó một bộ phận là thành ngữ hoặc tục ngữ Thí dụ:
Trang 25- Xin dimg bat ca hai tay
Cá lội đưới nước, chỉm bay lên trời (Cd)
Có công mài sắt có ngày nên kim (Cd)
+ Chi nga em nang (ThN)
- Tưởng rằng chị ngã em nang
Chẳng hay chị ngã em mừng em reo (Cd)
3t nhằm lẫn thường ở những câu hai về lục bát kiểu này
Để thân biệt, ngoài căn cứ vào nội dung, cơ sở hình thức rất
iết, đó là khi hai về được viết thành hai dòng thơ thì
của nó ít nhiều bị giảm đi và xét trên toàn cục
“tinl ca dao” lai tang lên Có người nói đến số tiếng (chữ) tron; thành ngữ, tục ngữ và ca dao Theo chúng tôi, số chữ tối thiết trong một câu ca dao thường là một cặp lục bát (ca dao thể he bát, pồm 14 tiếng, 2 dòng) như:
"Anh đi anh nhớ quê nhà
ấu trúc tối giản nhất của một câu tục ngữ cũng phải có 3
âm tết, chẳng han: “Tham thì thâm”, “Túng thì tính", “Cơm
chấn cơm”; còn cẫu trúc ngắn nhất của thành ngữ cũng gồm
3 tiếp như các thành ngữ có dạng thức so sánh: *Nhanh như cắt",*Nhát nhự cáy”, "Đông nhự kiến" hoặc đứng độc lập,
có hìh thức kết cấu giống một câu đơn, có chủ-
j rõ rằng mà : *Cá cắn
đới hạn thành ngữ ở cấp độ dưới câu, ki
25
Trang 26
cau”, “Bung bảo dạ", “Chết đầu nước”, ®Ăn phải đĩa", `'Bẻ
hạt tiêu”, “Chạy đằng trời”, "Chết nhăn răng", “Cho cin cảm” thậm chí chỉ còn lại 2 tiếng như: “bể đấu” hay “dau bể" (được rút gọn từ thành ngữ “Bãi bể mương dâu) Số
lượng âm tiết trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao chưa thẻ
phản ánh được hết đặc trưng của chúng Tiêu chí cơ bản là vẫn phải căn cứ vào nội dung và chức năng của chúng: tục ngữ thiên về lý trí, ca dao thiên về tình cảm
Trong Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, dưới góc nhìn của một nhà từ vựng học, nhà giáo Nguyễn Văn Tu cho rằng:
*Tục ngữ, phương ngôn và ngạn ngữ có liên quan đến thành ngữ và quán ngữ Chúng không phải là đối tượng của từ vựng
mà là đối tượng của văn học dân gian Nhưng vì chúng là đơn
vị có sẵn trong ngôn ngữ được dùng đi dùng lại để trao đổi tư
tưởng cho nên chúng dính dáng đến vấn đề cụm từ cố định
Thực ra, chúng là những câu hoàn chỉnh chỉ một nội dung đầy
đủ, không cần những thành phần cú pháp nào cả”
Theo cách gọi cổ xưa của người Trung Quốc thì ngạn
ngữ cũng là tục ngữ Ngạn ngữ là những câu nói xưa, cho ta những bài học về lẽ phải và đạo lý Ngạn ngữ có tính giáo dục cao, thường bằng từ Hán - Việt chỉ có một nghĩa đen nên
chưa mắt hẳn xuất xứ Trong Vấn đề cấu tạo từ tiếng Việt
hiện đại (1976), Hồ Lê đã phân biệt tục ngữ với ngạn ngữ như sau: "Tục ngữ là những câu cố định mang một nội dung đúc
kết kinh nghiệm sản xuất hoặc đối nhân xử thế Còn ngạn ngữ
là những tổ hợp từ có tính vững chắc về cấu tạo và tính ý nghĩa dùng để nêu lên một bài học về lẽ phải, về đạo lý và mang tính chất giáo duc, vi du nhu: “An quả nhớ kẻ trồng
26
Trang 27câi "Uống nước nhớ ngườn”, *Đi môi ngày đằng học một
Danh ngôn là câu nói của các nhà chính trị, danh nhân,
nh văn, nhà thơ, nhà triết học nỗi tiếng Danh ngôn thường
tất rau chuốt, có một bộ phận dùng quer: được xếp vào tục
ngỉ mà không để ý dến tác giả: “Học, học nữ
(LêNin), "Không có gì quý hơn déc lap te do” (Hồ Chí
Minh), ®Hạnh phúc là đấu tranh" (C Mác)
học mãi”
Phương ngôn là tục ngữ mang tính địa phương: “Chơi
lang Dau dau lâu không con” (Bac Ninh), “An thi
tréc ddy néc thi van lang” (Nghé An- Ha Tinh), “Chép nga
Côi Tiên, mưa liên một trộ` (Quảng Trị
Cách ngôn chỉ có một nghĩa đen Cách ngôn mang phong các: chức năng giáo dục: "Học thấy không tày học ban”,
*Tie học lễ hậu học văn”
Châm ngôn là những lề luật, tiêu chuẩn được chọn làm
phương châm hoạt động của cá nhân Châm ngôn được dùng
có nh chất cá nhân và mang phong cach chife nang: “Hanh phú: là đấu tranh" (C.Mác), "Càng khó khăn, càng vui thí” (Ohawa)
Trước Cách mạng tháng Tám, theo Nguyễn Văn Ngọc, vì
số lượng và chất lượng còn quá ít oi nên chưa có sự phân biệt rạchròi, dứt khoát giữa tục ngữ và thành ngữ, giữa tục ngữ và
ca do Thậm chí Nguyễn Văn Tố còn xoá nhoà ranh giới giữa tục gữ và thành ngữ Từ 1943, lần đầu tiên Dương Quang
27
Trang 28Hàm đặt ra vấn đề phân biệt tục ngữ và thành ngữ Nhưng từ
sau Cách mạng tháng Tám dén nay, một số người làm công tác
nghiên cứu văn học dân gian và ngôn ngữ học đã chú ý phân
biệt tục ngữ và thành ngữ, mở đầu là Nguyễn Văn Mệnh, Cù
Đình Tú Những năm gần đây, một số tác giả như Nguyễn Lân, Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào, Bùi Hạnh Cẩn, Bích Hằng, Việt Anh khi sưu tập tư liệu để làm từ điển lại có
xu hướng nhập chung tục ngữ và thành ngữ làm một Tuy nhiên, giữa tục ngữ và thành ngữ, tục ngữ và ca dao, giữa tục ngữ và các khái niệm khác như ngạn ngữ, danh ngôn, phương ngôn, cách ngôn đều có những ranh giới nhất định, song những, ranh giới ấy cũng thật khó phân biệt một cách rõ ràng Những ĐVTG mang yếu tố “lưỡng tính” đó có thể vừa là tục ngữ, vừa
là thành ngữ hoặc vừa là tục ngữ, lại vừa là ca dao Không hy vọng tìm được một định nghĩa tục ngữ, thành ngữ và ca dao thật chuẩn mực, song để phân biệt chúng, theo chúng tôi, cần dựa vào các tiêu chí sau đây:
- Về hình thức, thành ngữ là những cụm từ cố định (tương đương với từ), còn tục ngữ được thẻ hiện bằng câu
- Về nội dung, thành ngữ thẻ hiện khái niệm (chỉ một hiện
tượng hoặc một tính chất), còn tục ngữ thể hiện phán đoán
~ Về chức năng, thành ngữ có chức năng định danh, còn tục ngữ có chức năng thông báo
Đôi khi sự nhầm lẫn thường ở những câu tục ngữ hai về
lục bát được thể hiện bởi 2 dòng thơ Để phân biệt ngoài căn
cứ vào nội dung thì cơ sở hình thức rất dễ nhận biết, đó là khi hai về được viết thành hai dòng thơ thì "tính tục ngữ” của nó
28
Trang 29Thiết nghĩ, vẻ cơ bản thành ngữ là hiện tượng ngôn ngữ thuộc
phạm trù ngôn ngữ học Còn tục ngữ tuy có những mặt được
khoa học ngôn ngữ nghiên cứu nhưng vẫn là hiện tượng ý thức xã hội và thuộc phạm trù văn học đân gian Do vậy,
người ta vẫn quen gọi thành ngữ của người Việt là "thành ngữ
tiếng Việt mà không gọi là "thành ngữ Việt Nam”, gọi tục ngữ của người Việt là “tục ngữ người Việt" mà không gọi là
"tục ngữ tiếng V
Sau khi phân tích những sự "chưa hoàn chỉnh” trong
c ngữ của một số nhà nghiên cứu, trong môi
oại, chúng ta có thể xác định nội dung, bản
chất thê loại của tục ngữ như sau:
~ Tục ngữ là những câu hoàn chỉnh diễn đạt một ý tron
vẹn có cầu cầu tạo là các kết cấu hai trung tâm;
Trang 30~ Tục ngữ là tổng thể thi ca nhỏ nhất
Theo tương đối luận, giữa các nền văn hoá không có sự
hơn, kém mà chỉ có sự giống và khác nhau Do vậy, chúng tôi
sẽ không đi tìm sự hơn kém giữa tục ngữ Việt với tục ngữ Lào mà thống kê, phân tích, so sánh nội dung và nghệ thuật
của hai hệ thống tục ngữ Việt và Lào để phát hiện sự tương,
đồng và khác biệt, chỉ ra nguyên nhân của sự giống nhau và
khác nhau, qua đó làm rõ bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc
trong bối cảnh Đông Nam Á Đồng thời, kết quả nghiên cứu
của cuốn sách sẽ còn góp phần đẻ nhân dân hai nước Việt Nam - Lào không chỉ hiểu nhau hơn mà còn góp phần quảng
bá nền văn hóa của mỗi nước và thúc đẩy mi quan hệ láng giềng truyền thống Việt - Lào ngày càng phát triển
- Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của cuốn sách là 16.098 câu tục ngữ của người Việt trong bộ Kho rằng tục ngữ người Việt (2 tập) [90] do Nguyễn Xuân Kính chủ bié
- Phần tục ngữ Lào gồm 691 câu trong cuốn Xứ pha vít
và lời nói giao duyên Lào [138] của Nguyễn Đình Phúc cũng
là đối tượng nghiên cứu chủ yếu
Tuy nhiên, nếu lấy 16.098 câu tục ngữ Việt (một lượng
câu quá lớn) để so sánh với 691 câu tục ngữ Lào (một lượng
câu còn rất hạn chế) thì sự chênh lệch về tư liệu là rất lớn Để
khắc phục sự “khập khiễng” khó tránh khỏi này, cách tốt nhất
là, "khuôn” chúng lại ở những nội dung cơ bản và hình thức chủ yếu, thông qua những tỷ lệ so sánh có tính chất tương đối
~ Thuật ngữ "tục ngữ Việt" mà chúng tôi đề cập đến
trong cuốn sách đồng nghĩa với “tục ngữ cỗ truyền" của
người Việt (người Kinh);
30
Trang 31Khai niệm “tục ngữ Lào” trong cuốn sách tương đương
với "tục ngữ cô truyé
của người Lào Thay (Lào Lim) Như trên đã nói, nội dung phản ảnh của tục ngữ Việt và tục ngữ Láo là vô cùng phong phú, nghệ thuật của chúng cũng rất da dạng Do vậy, chúng tôi không tìm hiểu, so sánh
ching theo “di
và hình thúc chủ yếu ˆ mà theo *điểm”, ở một số nội dung cơ bản
Nghiên cứu ngôn ngữ của một dân tộc là nhằm giải mã tâm thức dân tộc đó thông qua hệ thống các tin hiệu ngôn ngữ trong bối cảnh văn hoá Vì vậy, trong cuốn sách này, ngoài việc tiếp thu thành tựu nghiên cứu của các tác giả đi trước,
chúng tôi không chỉ sử dụng những kiến thức chuyên ngành
ma con tiếp cận đến những tri thức liên ngành và đa ngành từ
nhân học, văn hoá, khảo cô học, dân tộc học, văn học, địa lý,
Chuong 1:1 Ông quan văn hoá - xã hội Việt Nam - Lao
Chương 2: So sánh nội dung tục ngữ Việt vả tục ngữ Lào
Chương 3: So sánh nghệ thuật tục ngữ Việt và tục ngữ Lào
31
Trang 33Chương I
TỎNG QUAN VĂN HOÁ - XÃ HỘI
VIỆT NAM - LÀO
1.1 Mối quan hệ lịch sử - xã hội Việt Nam - Lào
1.1.1 Sơ lược lịch sử - xã hội nước Lào
Thời phong kiến, xã hội Lào thuộc chế độ quân chủ tập
quyên Đây là thời kỳ dài nhất trong lịch sử nước Lào và
là thời gian chủ yếu để ra đời những câu tục ngữ cổ truyềi
Lịch sử nước Lào còn thấp thoáng hình ảnh và chiến tích của các vị vua, những người mà tên tuôi còn được lưu giữ qua các
truyền thuyết và kỳ tích Nói một cách khác, các truyền thuyết
Lào còn lại đều thấy thấp thoáng hình ảnh những ông vua trong lịch sử nước Lào
Ở Lào, có ba vị vua được ghi danh trong lịch sử nước
Lào dưới hình thức huyền thoại và truyền thuyết Người thứ
nhất là Khún Bu Lôm người mở đầu cho các dòng họ vua
Lào được phản ánh trong truyền thuyết Khún Bu Lôm, Khún
Bu Lo Theo dã sử, Khún Bu Lôm từ phía Bắc xuống giành
quyền làm chủ đầu tiên vùng Mường Xoa (Luông Pha Băng
33
Trang 34
ngày nay), von là nơi có cuộc gặp gỡ lịch sử tất yếu giữa người Kha (Lào Thơng) và người Lao - Thay (Lao Lim) dén
đây sinh sống *Nị than” (truyền thuyếU) Khún 8u Lôm, Khúm
Bu Lo cũng tương tự như huyền thoại Lạc Long Quan va du
Cơ của người Việt Người Lào coi Khún Bu Lôm là thánh Tỏ
của dân tộc Lào, người mở đầu cho lịch sử Lào từ thế kỷ thư
VIII ma Xiêng Đôông Xiêng Thoòng (Luông Pha Băng) được chọn làm kinh đô
Người thứ hai được ghi danh trong lịch sử Lào là Chậu Pha Ngim (1316 - 1371) Nam 1353, với uy quyền và tài năng của mình, Phà Ngừm đã lên ngôi vua, lấy Luông Pha Băng làm kinh đô Năm 1356 ông đem quân đánh dẹp các
mường ở phía Bắc và quay về Xi lêng Đôông Xiêng Thoòng
(Kinh đô Luông Pha Băng) rồi tiếp tục hành quân tiến về Viêng Chăn, đánh đẹp các mường ở đó và thống nhất quốc gia Lạn Xạng làm một vào năm 1357 Phà Ngừm đã thống
nhất quốc gia Lạn Xạng và tổ chức lễ mừng chiến thắng khai
sinh quốc gia Lạn Xạng tại Viêng Chăn Trong buổi lễ long
trọng đó, ngoài việc tuyên dương công trạng quân đội, tổ chức lại bộ máy chỉ huy cai trị hành chính theo các mường, Pha Ngừm đã có một "Lời huấn thị” lịch sử, còn được ghi trong chính sử mà người Lào coi như là bản hiến pháp đầu
Trang 35thì những ý tưởng của Phả Ngừm, thiên đỗ từ Luông Pha Bang xuống Viêng Chan (cách 210 km) mang theo tượng Phật sắng ngọc bích (cao 0,70 em), cho xây *®Vắt Pha kẹo" (Chủ: ngọc) để an vị tượng Phật đó dỏng thời dựng *Thạt Luôn” (Tháp lớn) năm 1566 lưu giữ xá lợi là một sợi tóc
(hay not đốt xương?) của Dức Phật Vua Tha Thi Rat
băng tà trong một cuộc thả loạn người Kha ở phía Nam năm 1572 Sau đó là thời kỳ hỗn quan, hỗn quân vô
chính phủ của nước Lào Mãi đến nửa đầu thé kỷ XVII mới
tái lậ được sự ôn định dưới triều vua Sou Ri NaVong Sa (163' - 1694), một đại vương của nước Lào trị vì hơn 50 năm, 1gười
nhất :ủa quốc gia Lạn Xạng Dưới triều đại Sou Ri NaVong
Sa, Mêng Chăn là trung tâm Phật giáo lớn, nơi sư säi các
nước Khơme, Phù Nam hay Xiêm (Thái Lan) đến tu học Từ
đó đết nay, Viêng Chăn luôn là thủ đô, một trung tâm chính
trị, knh tế, văn hoá của nước Lào thống nhất quốc
gia Lin Xang cia Pha Ngirm (1357) va sự kiện dời đô của Sệt Tha “hi Rat (1553) 1a hai biển cố lớn có ảnh hưởng sâu sắc khôn; chỉ về chính trị mà còn đến đời sống văn hoá, văn học
Lào lơn cả Giờ đây, vương quyền đã gắn chặt với một biểu tượng mới bao trùm lên tất cả các mường là ông Phật
Trong số ba vị vua anh minh và có nhiều chiến tích nói
trên tì Chậu Phà Ngừm để lại nhiều dấu ấn sâu đậm nhất
Tron; Historie du Laos francais, Paul de Boulanger coi Pha Ngừn là một vị vua tài giỏi về quân sự, luôn luôn ở trong hàng quân Không lúc nào sợ hãi ( ) Phả Ngừm cũng đã
dùng sức mạnh hoặc chỉ bằng uy danh của mình đã khuất
35
Trang 36phục tất cả các dân tộc ở bán đảo Đông Dương trừ hai nước Việt Nam và Campuchia Vị hoàng để vĩ đại đó là người sáng
lập thật sự nước Lan Xạng thống nhất Đó là một nhân vật kỳ
lạ và phi thường, không ngờ lại xuất hiện trong lịch sử một dân tộc vốn yêu chuộng trật tự và yên ồn Bằng nhiều cách, Phà Ngừm đã quy tụ được thủ lĩnh của các địa phương, các vùng miễn, từ những đồng bằng phía Tây, những thung lũng
và núi non phía Bắc đến những cao nguyên phía Nam gắn kết
lại dưới một cái tên chung: nước Lan Xang Dat nước Lào
xuất hiện theo bước chân chinh phạt của người anh hùng dân tộc Phà Ngừm để bước vào một giai đoạn lịch sử mới đầy náo động mà trước đó là cả một thời kỳ dài phát triển gần như âm
thầm Phà Ngừm yêu cầu vua Khơme cử hai mươi ba nhà sư,
ba nhà bác học mang theo tượng Phật, kinh sách, cây bò đề
sang Lào Cùng đi còn có các thợ lành nghẻ vẻ rèn, nấu đỏng, đúc tượng, kim hoàn Vua Khơme còn tặng vua Lào một số
nhạc cụ Như vậy, tuy là gián tiếp nhưng Lào đã tiếp nhận mạnh mẽ văn hoá Án, gần gũi về văn hoá với các nước láng, giềng phía Tây và Đông Nam Á như Thái Lan, Miển Điện, Khơme Tuy nhiên, ảnh hưởng văn hoá của các nước này tới Lào hãy còn hạn hẹp, bởi văn hoá Ấn - Phật lúc này vẫn còn
do những nhà sư và những người từ Khơme mang đến nên chỉ
loanh quanh ở kinh đô mà thôi Mặt khác, truyền thống Mường Xoa tuy được nâng lên thành truyền thống toàn quốc nhưng chưa kịp được hội nhập vào nền văn hoá chung Văn
hoá Án - Phật tuy thế, cũng còn xa lạ và chưa gắn kết được với truyền thống dân gian bản địa
36
Trang 37
“ừ thuở Phả Ngừm lập quốc gia Lạn Xạng thể
(135), các tộc người từ mường dẫn quy tụ lại, hướng về ky XIV
Mường Xóa, tức kinh đô Luông Pha Băng Từ đó, mỗi dân tộc vị bộ tộc đã từng bước xây dựng cuộc sống văn hoá riêng của nình, gia nhập vào đại gia đình các bộ tộc Lào: từ cách thức dựng nhà ở (nhà sản), việc xây dựng các hệ thống mương phai đưa dẫn nước vào đồng ruộng đến những lời ca,
điệu núa tiếng hát, những dam tang, dam cưới, lễ hội truyền
thôn; đều mang những dáng vẻ riêng
“ao giữa thể kỷ XIV, sau khi lên ngôi (1353), Pha Ngừm đứngra thống nhất các mường cát cứ, chia rẽ trước đây thành
quốc gia Lạn Xạng thống nhất để hình thành một nhà nước
tập quyển (trên cơ sở một nền nông nghiệp lúa nước cổ
truyền) có cơ cầu ruộng rẫy với thống thuỷ lợi (mương,
- phả - lái - lin) mém dẻo và thích nghỉ với điều kiện tự
nhiêt, khác với hệ thống mương phai của Đại Việt (kết hợp với lệ thống đê điều đồ sộ ở miền Bắc và kênh rạch chẳng, chịt ‹ miền Nam)
Nhu vay, sự kign Pha Ngirm lên ngôi (năm 1353) và lập
ra qiốc gia Lạn Xang thống nhất (năm 1357) đã mở ra một
thời :ÿ mới của lịch sử quốc gia dân tộc và lịch sử văn hoá van 19¢ Lao Cé thé coi đây là một cột mốc quan trọng khi xem cét những chặng đường lớn của văn hoá văn học Lào
`ư dân Lào Thay ngoài thể nghiệm mô hình kinh tế - xã
hội lia nước như nói trên còn tổ chức xã hội hai cấp: bản -
mườig Người đứng đầu mỗi bản là "phò bản” (bố bản) Bộ máy quản lý còn đậm dau ấn "dân chủ công xã” với chế độ già kng Rugng đất thuộc về của công do ông “phd ban” 1a
37
Trang 38
người đại diện (*Đin ạt nha, na phò bán”: "Đất của quan ruộng làng của trưởng bản") (TN Lào) Vì có sự phân quyền
trong quản lý đất đai nên hình thành chế độ bóc lột, xã hội
phân chia thành đẳng cấp quý tộc và bình dân Trong mỗi bản gồm nhiều gia đình hạt nhân (từ gia đình lớn mẫu hệ trong công xã thị tộc phân nhỏ thành gia đình nhỏ phụ hệ trong công xã nông thôn) Mỗi bản đều có ma làng (phi bản) do
thầy mo (thầy cúng) đảm nhiệm Thầy mo cũng là người nhưng vì được học hành, nắm được phép thuật nên hiểu được tiếng nói của thế giới ma (phì)
Trong quá trình tích hợp xã hội lớn hơn mường, người ta
vẫn dùng từ mường để chỉ các vương quốc, thậm chí một
quốc gia như mường Lào, mường Thái với cấu trúc ba
bản, mường, mường luồng (mường lớn) Người đứng
mường lớn được gọi là chậu xi vít (vua) dựa trên quan hệ huyết thống đã lập bộ máy trung ương tập quyền cai quản từ trên xuống dưới
38
Trang 39Cho đến ngây nay
Theo Truyén co Ba Na (Nxb Van hoc 1965, tr.2), chang Léo (Lào) đã vượt Trường Sơn sang Việt Nam phối hợp với
Ngọc để tiêu diệt xà tình Truyện Ca Phúc (Truyện dân
gian Lào, Nxb Văn hoá, 1962) của người Lào lại khắc hoạ
hình tượng một chàng trai Việt, vốn cùng quê hương của chang Ngoc sang Lao tim diệt quỷ quái Thao Xun Các câu chuyện trên đã ngợi ca tình nghĩa anh em Việt - Lào qua những hình tượng tiêu biểu của văn học dân gian Như vậy, văn học dân gian cũng có thể được coi là nguồn tư liệu quan trọng và phong phú trong việc phản ánh tình đoàn kết Việt Nam - Lào,
Tuy nhiên, cũng thật khó khăn khi di tìm sự kiện lịch sử
và thời điểm đầu tiên ghi nhận mối quan hệ Việt - Lào Như trên đã nói, thư tịch ghi chép được là rất muộn so với sự thật lịch sử Nhiễu sự kiện lịch sử qua đi rất lâu sau này mới được ghỉ chép lại
Qua các bản dịch sau này về Dự địa chí của Nguyễn Trãi (TK XV), Vân đài loại ngữ, Phủ biên tạp lục, Kiến văn tí lựe của Lê Quý Đôn (TK XVII) và một số nguồn sử li khác, có thể thấy quan hệ buôn bán, giao lưu giữa người Lào
và người Việt có từ rất sớm Sách 72w địa chí đã so sánh y
39
Trang 40phục của những tộc người sống vùng biên giới Cao Lạng (Việt Nam) và Quảng Tây (Trung Quốc) "giống như người Lao”; Van dai loại ngữ cho rằng, gỗ bạch đàn của Lào đã có mặt trên thị trường Việt Nam từ thời Trần; người Lào thường mang trâu bò sang khu vực phía Tây Nghệ Tĩnh để bán; Nguyễn Trải đã kể tên những mặt hàng khá phong phú và nỗi
tiếng của Lào như tê giác, voi, sáp trắng, vải chiên, chiêng
đồng tốt nhất cũng có mặt ở Việt Nam Chiêng đồng gidng
như trống đồng của Việt Nam, được người Lào coi là đồ quốc phẩm dùng trong việc bang giao hoặc để trao đỏi Nhiều dân
tộc ít người vùng Tây Nguyên (Việt Nam) còn giữ được những chiếc chiêng Lào dùng đánh trong những ngày hội của buôn làng Lê Quý Đôn còn cho biết nguồn gốc của cây thuốc
hút mà người Việt Nam mang về trồng và hay dùng được du
nhập từ Lào nên gọi là cây thuốc Lào
Nguyễn Hào Hùng [127, tr.95], khi trích dẫn một số nguồn sử liệu của Nguyễn Trãi và Lê Quý Đôn nói trên đã cho rằng, người Việt Nam sớm có những nhận xét về người
Lào như “người Lào thuần hậu chất phác”, trong giao dịch
buôn bán thì “họ vui lòng đổi chác” Nguyễn Trãi đã từng nhận xét “tiếng Lào là tiếng họng”, còn y phục thì người Lào
lấy vải cuốn vào mình như áo cà sa nhà Phật
Những tư liệu lịch sử trên đây là một trong rất nl ng
chứng nói lên mối quan hệ mật thiết hàng ngày giữa nhân dan
Việt Nam và nhân dân Lào Nhìn chung, “tong thời kỳ cổ
trung đại, nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào đã có quan hệ
đi lại và trao đổi hàng hoá vật phẩm với nhau Người Việt
Nam đã biết đến nhiều mặt hàng nổi tiếng của Lào như các
40