ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬNMÔN PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA VÀ DỊCH VỤChương 1:Có ý kiến cho rằng, trên cơ sở nguyên tắc tự do thỏa thuận, hai bên đều là thương nhân Việt Nam trong một hợp đồng mua bán hàng hóa được xác lập và thực hiện tại Việt Nam có quyền thỏa thuận trong hợp đồng rằng, hợp đồng này chỉ chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự 2015. Căn cứ quy định pháp luật liên quan, hãy nhận xét về ý kiến trên.Ý kiến như trên là không đúng. Xét trong mối quan hệ giữa Luật thương mại và BLDS thì BLDS là luật chung còn Luật thương mại là luật riêng. Theo Điều 4 Luật thương mại 2005 về áp dụng Luật thương mại và pháp luật có liên quan, vì hai bên chủ thể tham gia đều là thương nhân Việt Nam tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa được xác lập và thực hiện tại Việt Nam, do đó phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật thương mại Việt Nam. Phải áp dụng quy định của Luật đặc thù trước, nếu luật đặc thù không có quy định thì áp dụng Luật thương mại, nếu Luật thương mại cũng không có quy định thì mới áp dụng BLDS.Bài tập :Bài tập 01: Hãy xác định pháp luật nào được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ hợp đồng sau? Giải thích?Công ty A (thương nhân Việt Nam, có trụ sở tại TPHCM) ký hợp đồng mua hàng của một thương nhân Pháp (thương nhân ở nước xuất khẩu) để bán cho một thương nhân Anh (thương nhân ở nước nhập khẩu) mà không làm thủ tục xuất khẩu và nhập khẩu tại Việt Nam và các bên thoả thuận chọn luật áp dụng là pháp luật thương mại của Pháp.HĐ MB HH quốc tế theo hình thức chuyển khẩu có thực hiện một phần trên lãnh thổ VN theo khoản 1 điều 1=> các bên có quyền thỏa thuận lựa chọn PL để điều áp dụng. Nên hợp đồng này sẽ chịu sự điều chỉnh của Luật ™ Pháp do thỏa thuận của các bên.Công ty B (doanh nghiệp có vốn đầu tư của Hàn Quốc và là DN chế xuất trong khu chế xuất Tân Thuận –TPHCM) ký hợp đồng mua bán hàng hoá với công ty C (trụ sở Quận 3, Tp.HCM), theo đó hàng hoá được bên bán đưa ra khỏi khu chế xuất để giao cho bên mua và các bên đã thoả thuận chọn luật áp dụng là pháp luật thương mại của Hàn Quốc.Công ty B có vốn Hàn Quốc được thành lập tại Việt Nam và là DN chế xuất trong khu chế xuất Tân Thuận – TPHCM, nên đây là thương nhân Việt Nam.Cspl: Khoản 4 Điều 16 Luật Thương mại 2005Đây là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (làm phát sinh nghĩa vụ của các bên phải tuân theo quy định pháp luật về điều kiện, thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu nhưng không phát sinh quyền chọn luật áp dụng của các bên do không phải là giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài) theo quy định tại Điều 28 Luật Thương mại 2005 dưới hình thức nhập khẩu vì đây là hoạt động giữa các thương nhân Việt Nam, được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam. Vì vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Luật Thương mại 2005, pháp luật Việt Nam được áp dụng.HĐ MB HH quốc tế theo hình thức nhập khẩu. Có ý kiến cho rằng: Cty B có vốn Đầu tư HQ. Người đại diện kí kết hợp đồng là người HQ. Thì HĐ MB HH giữa B và C có yếu tố nước ngoài. Đúng hay sai? → Theo K2 Đ663 BLDS. Xem xét tư cách TN có yếu tố NN hay ko chứ ko phải là xem xét cá nhân người đại diện là người NN. Vậy nên về mặt chủ thể ko có yếu tố NN, không làm phát sinh quyền chọn luật áp dụng của các bên mà phải áp dụng pháp luật VN. Công ty D (doanh nghiệp cung ứng dịch vụ công ích) ký hợp đồng cung cấp dịch vụ chăm sóc cây xanh cho công TNHHMTV Thảo Cầm Viên Sài Gòn.CSPL: Khoản 1 Điều 1 Luật Thương mại 2005, Khoản 1 Điều 2 LTM 2005.Đây là hợp đồng giữa 2 chủ thể là thương nhân và thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam nên sẽ áp dụng pháp luật Việt Nam.Công ty D là doanh nghiệp cung ứng dịch vụ công ích, theo Điều 9 Luật Doanh nghiệp 2020 doanh nghiệp cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích có các quyền và nghĩa vụ, vậy hợp đồng của công ty D với công ty TNHH MTV Thảo Cầm Viên Sài Gòn thuộc điều chỉnh của pháp luật Việt Nam.Đây là HĐ CƯ DV giữ cty hoạt động công ích với công ty TNHH. Cty B DN hoạt động công ích vẫn là một TN, hoạt động trên lãnh thổ VN và không có yếu tố NN. Như vậy, các bên đều là TN nên phải áp dụng luật TMhttps:drive.google.comdrivefolders1SvG1CeHMH2QwSry6liceHizRnet2diZlChương 2:Bài tập:Bài tập 02: Giá hàng hóa Sự việc:Trong hợp đồng mua bán hàng hóa ký ngày 3062018 giữa Công ty A (bên bán) và Công ty B (bên mua), cả hai đều có trụ sở tại TP. Hồ Chí Minh, các bên thỏa thuận Công ty A giao 10 tấn thép cuộn tấm cán nóng dày 2mm xuất xứ Hàn Quốc cho Công ty B vào ngày 1572018 với giá 12,5 triệu đồngtấn, thanh toán trong vòng 5 ngày kể từ ngày giao hàng. Hàng được giao đúng thỏa thuận vào ngày 1572018. Đến ngày 1672018, qua điện thoại, Công ty B đề nghị Công ty A giao thêm 5 tấn thép cùng loại, chậm nhất đến ngày 2072018 và công ty B sẽ thanh toán ngay cho cả hai lần giao hàng. Nhưng trong cuộc điện thoại đó hai bên không đề cập đến giá cả. Ngay sau khi giao thêm 5 tấn thép cùng loại vào ngày 2072018, Công ty A yêu cầu công ty B thanh toán giá 5 tấn thép giao đợt sau với giá 13,0 triệu đồngtấn với lý do giá thép cuộn tấm cán nóng xuất xứ Hàn Quốc trung bình trên thị trường vào ngày 2072018 là 13,0 triệu đồngtấn. Cụ thể:10 tấn x 12.500.000 đồng = 125.000.000 đồng+05 tấn x 13.000.000 đồng = 65.000.000 đồng= Tổng cộng: 190.000.000 đồng Công ty B chỉ chấp nhận trả tiền cho 5 tấn thép giao ngày 2072018 bằng với giá thép giao ngày 1572018 là 12,5 triệu đồngtấn, do Công ty B chỉ đặt thêm số lượng, còn giá cả thì phải như đã thỏa thuận đối với 10 tấn thép cuộn tấm cán nóng dày 2mm xuất xứ Hàn Quốc giao trước đó. Do vậy, công ty B chỉ phải thanh toán tổng cộng số tiền là 187.500.000 đồng, còn công ty A phải tự chịu rủi ro do biến động giá cả thị trường, mặt khác công ty A cũng có thể hưởng lợi nếu giá thị trường ngày 2072018 sụt giảm. Trái lại công ty A cho rằng trường hợp hai bên không thỏa thuận giá cả thì phải áp dụng giá thị trường.Câu hỏi: Anh (chị) hãy nêu ý kiến và lập luận ý kiến giải quyết bất đồng nêu trên giữa công ty A và công ty B.Đối với hợp đồng thứ nhất, theo thỏa thuận ngày 1572018 công ty A sẽ giao cho công ty B 10 tấn thép với giá 12,5 triệu đồngtấn, công ty B sẽ thanh toán cho công ty A trong vòng 5 ngày sau khi nhận hàng. Hợp đồng được thực hiện (công ty A giao thép đúng thời hạn và công ty B hẹn chậm nhất ngày 2072018 sẽ thanh toán – vẫn nằm trong thời hạn 5 ngày), do đó hai bên đã thực hiện đúng hợp đồng thứ nhất. Sau đó vào ngày 1672018 công ty B có yêu cầu công ty A giao thêm 5 tấn thép cùng loại, theo nhóm em đây là hành vi xác lập hợp đồng mới độc lập với hợp đồng thứ nhất. Trong hợp đồng này, công ty A và công ty B không thỏa thuận về giá bán đối với 5 tấn thép. Do đó, theo Điều 52 Luật thương mại 2005 và khoản 2 Điều 433 BLDS 2015 thì giá cả đối với 5 tấn thép này sẽ được định giá theo giá thị trường. Như vậy, công ty B phải thanh toán cho công ty A tổng cộng: 10 tấn 12,5 triệu đồng = 125 triệu đồng5 tấn 13 triệu đồng = 65 triệu đồngTổng = 125 + 65 = 190 triệu đồngĐầu tiên theo nguyên tắc thì phải xác định luật áp dụng trước. Cty A và Cty B đều là thương nhân và hợp đồng được 2 thương nhân thỏa thuận là hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng này thực hiện trên lãnh thổ VN, theo d1, k1d2, k1d4 thì luật áp dụng là luật TM 2005.trong trường hợp này thì 2 thương nhân đã xác lập 2 hợp đồng khác nhau, hợp đồng đầu tiên được xác lập về văn bản và hợp đồng thứ 2 được xác lập bằng lời nói và ko thỏa thuận về giá cả (k3 điều 421 BLDS).“giao thêm 5 tấn thép cùng loại”: căn cứ vào khoản 1 điều 113 BLDS thì cùng loài là cùng chất lượng chứ ko phải dẫn chiếu đến việc cùng giá. =) không có sự chỉ dẫn về giá mà chỉ có sự chỉ dẫn về chất lượngkhông có thỏa thuận về phương pháp xác định giá và cũng không có bất kì chỉ dẫn nào khác=> Giá của hàng hóa trong hợp đồng sau là giá của loại hàng hoá đó trong các điều kiện tương tự về phương thức giao hàng, thời điểm mua bán hàng hoá, thị trường địa lý, phương thức thanh toán và các điều kiện khác có ảnh hưởng đến giá.Lúc này Tòa án hoặc trọng tài phải thẩm định giá của ngày 1672020.Bài tập 03 Hợp đồng mua bán mè vàng
Trang 1ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN MÔN PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA VÀ DỊCH VỤ
Chương 1:
1 Có ý kiến cho rằng, trên cơ sở nguyên tắc tự do thỏa thuận, hai bên đều làthương nhân Việt Nam trong một hợp đồng mua bán hàng hóa được xác lập vàthực hiện tại Việt Nam có quyền thỏa thuận trong hợp đồng rằng, hợp đồng nàychỉ chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự 2015 Căn cứ quy định pháp luật liênquan, hãy nhận xét về ý kiến trên
Ý kiến như trên là không đúng Xét trong mối quan hệ giữa Luật thương mại vàBLDS thì BLDS là luật chung còn Luật thương mại là luật riêng Theo Điều 4Luật thương mại 2005 về áp dụng Luật thương mại và pháp luật có liên quan, vìhai bên chủ thể tham gia đều là thương nhân Việt Nam tham gia hợp đồng muabán hàng hóa được xác lập và thực hiện tại Việt Nam, do đó phải chịu sự điềuchỉnh của pháp luật thương mại Việt Nam Phải áp dụng quy định của Luật đặc thùtrước, nếu luật đặc thù không có quy định thì áp dụng Luật thương mại, nếu Luậtthương mại cũng không có quy định thì mới áp dụng BLDS
HĐ MB HH quốc tế theo hình thức chuyển khẩu có thực hiện một phần trên lãnhthổ VN theo khoản 1 điều 1=> các bên có quyền thỏa thuận lựa chọn PL để điều
áp dụng Nên hợp đồng này sẽ chịu sự điều chỉnh của Luật ™ Pháp do thỏa thuậncủa các bên
Trang 22 Công ty B (doanh nghiệp có vốn đầu tư của Hàn Quốc và là DN chế xuấttrong khu chế xuất Tân Thuận –TPHCM) ký hợp đồng mua bán hàng hoá với công
ty C (trụ sở Quận 3, Tp.HCM), theo đó hàng hoá được bên bán đưa ra khỏi khuchế xuất để giao cho bên mua và các bên đã thoả thuận chọn luật áp dụng là phápluật thương mại của Hàn Quốc
Công ty B có vốn Hàn Quốc được thành lập tại Việt Nam và là DN chế xuất trongkhu chế xuất Tân Thuận – TPHCM, nên đây là thương nhân Việt Nam
Cspl: Khoản 4 Điều 16 Luật Thương mại 2005
Đây là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (làm phát sinh nghĩa vụ của các bênphải tuân theo quy định pháp luật về điều kiện, thủ tục xuất khẩu, nhập khẩunhưng không phát sinh quyền chọn luật áp dụng của các bên do không phải là giaodịch thương mại có yếu tố nước ngoài) theo quy định tại Điều 28 Luật Thươngmại 2005 dưới hình thức nhập khẩu vì đây là hoạt động giữa các thương nhân ViệtNam, được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam
Vì vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Luật Thương mại 2005, pháp luật ViệtNam được áp dụng
HĐ MB HH quốc tế theo hình thức nhập khẩu
Có ý kiến cho rằng: Cty B có vốn Đầu tư HQ Người đại diện kí kết hợp đồng làngười HQ Thì HĐ MB HH giữa B và C có yếu tố nước ngoài Đúng hay sai?
→ Theo K2 Đ663 BLDS Xem xét tư cách TN có yếu tố NN hay ko chứ ko phải làxem xét cá nhân người đại diện là người NN Vậy nên về mặt chủ thể ko có yếu tố
NN, không làm phát sinh quyền chọn luật áp dụng của các bên mà phải áp dụngpháp luật VN
3 Công ty D (doanh nghiệp cung ứng dịch vụ công ích) ký hợp đồng cungcấp dịch vụ chăm sóc cây xanh cho công TNHHMTV Thảo Cầm Viên Sài Gòn.CSPL: Khoản 1 Điều 1 Luật Thương mại 2005, Khoản 1 Điều 2 LTM 2005
Đây là hợp đồng giữa 2 chủ thể là thương nhân và thực hiện trên lãnh thổ ViệtNam nên sẽ áp dụng pháp luật Việt Nam
Trang 3Công ty D là doanh nghiệp cung ứng dịch vụ công ích, theo Điều 9 Luật Doanhnghiệp 2020 doanh nghiệp cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích có các quyền
và nghĩa vụ, vậy hợp đồng của công ty D với công ty TNHH MTV Thảo CầmViên Sài Gòn thuộc điều chỉnh của pháp luật Việt Nam
Đây là HĐ CƯ DV giữ cty hoạt động công ích với công ty TNHH Cty B- DNhoạt động công ích vẫn là một TN, hoạt động trên lãnh thổ VN và không có yếu tố
NN Như vậy, các bên đều là TN nên phải áp dụng luật TM
Trong hợp đồng mua bán hàng hóa ký ngày 30/6/2018 giữa Công ty A (bên bán)
và Công ty B (bên mua), cả hai đều có trụ sở tại TP Hồ Chí Minh, các bên thỏa thuận Công ty A giao 10 tấn thép cuộn tấm cán nóng dày 2mm xuất xứ Hàn Quốc cho Công ty B vào ngày 15/7/2018 với giá 12,5 triệu đồng/tấn, thanh toán trong vòng 5 ngày kể từ ngày giao hàng
Hàng được giao đúng thỏa thuận vào ngày 15/7/2018 Đến ngày 16/7/2018, qua điện thoại, Công ty B đề nghị Công ty A giao thêm 5 tấn thép cùng loại, chậm nhấtđến ngày 20/7/2018 và công ty B sẽ thanh toán ngay cho cả hai lần giao hàng Nhưng trong cuộc điện thoại đó hai bên không đề cập đến giá cả
Ngay sau khi giao thêm 5 tấn thép cùng loại vào ngày 20/7/2018, Công ty A yêu cầu công ty B thanh toán giá 5 tấn thép giao đợt sau với giá 13,0 triệu đồng/tấn với
lý do giá thép cuộn tấm cán nóng xuất xứ Hàn Quốc trung bình trên thị trường vàongày 20/7/2018 là 13,0 triệu đồng/tấn Cụ thể:
Trang 4dày 2mm xuất xứ Hàn Quốc giao trước đó Do vậy, công ty B chỉ phải thanh toán tổng cộng số tiền là 187.500.000 đồng, còn công ty A phải tự chịu rủi ro do biến động giá cả thị trường, mặt khác công ty A cũng có thể hưởng lợi nếu giá thị trường ngày 20/7/2018 sụt giảm Trái lại công ty A cho rằng trường hợp hai bên không thỏa thuận giá cả thì phải áp dụng giá thị trường.
ty A giao thép đúng thời hạn và công ty B hẹn chậm nhất ngày 20/7/2018 sẽ thanhtoán – vẫn nằm trong thời hạn 5 ngày), do đó hai bên đã thực hiện đúng hợp đồngthứ nhất Sau đó vào ngày 16/7/2018 công ty B có yêu cầu công ty A giao thêm 5tấn thép cùng loại, theo nhóm em đây là hành vi xác lập hợp đồng mới độc lập vớihợp đồng thứ nhất Trong hợp đồng này, công ty A và công ty B không thỏa thuận
về giá bán đối với 5 tấn thép Do đó, theo Điều 52 Luật thương mại 2005 và khoản
2 Điều 433 BLDS 2015 thì giá cả đối với 5 tấn thép này sẽ được định giá theo giáthị trường Như vậy, công ty B phải thanh toán cho công ty A tổng cộng:
10 tấn* 12,5 triệu đồng = 125 triệu đồng
5 tấn * 13 triệu đồng = 65 triệu đồng
Tổng = 125 + 65 = 190 triệu đồng
- Đầu tiên theo nguyên tắc thì phải xác định luật áp dụng trước Cty A và Cty
B đều là thương nhân và hợp đồng được 2 thương nhân thỏa thuận là hợp đồngmua bán hàng hóa, hợp đồng này thực hiện trên lãnh thổ VN, theo d1, k1d2, k1d4thì luật áp dụng là luật TM 2005
- trong trường hợp này thì 2 thương nhân đã xác lập 2 hợp đồng khác nhau,hợp đồng đầu tiên được xác lập về văn bản và hợp đồng thứ 2 được xác lập bằnglời nói và ko thỏa thuận về giá cả (k3 điều 421 BLDS)
“giao thêm 5 tấn thép cùng loại”: căn cứ vào khoản 1 điều 113 BLDS thì cùng loài
là cùng chất lượng chứ ko phải dẫn chiếu đến việc cùng giá =) không có sự chỉdẫn về giá mà chỉ có sự chỉ dẫn về chất lượng
không có thỏa thuận về phương pháp xác định giá và cũng không có bất kì chỉ dẫnnào khác
=> Giá của hàng hóa trong hợp đồng sau là giá của loại hàng hoá đó trong các điềukiện tương tự về phương thức giao hàng, thời điểm mua bán hàng hoá, thị trườngđịa lý, phương thức thanh toán và các điều kiện khác có ảnh hưởng đến giá
Trang 5Lúc này Tòa án hoặc trọng tài phải thẩm định giá của ngày 16/7/2020.
Bài tập 03 Hợp đồng mua bán mè vàng
Ngày 10/8/2016 giữa Công ty TNHH Thành Cường (gọi tắt là bên A) do ông LâmChấn Cường, chức vụ giám đốc làm đại diện và Doanh nghiệp tư nhân PhươngNam I do bà Ngô Thị Mai Hoa, chủ doanh nghiệp làm đại diện đã cùng nhau kýkết hợp đồng mua bán số 01-MV/PN-TC với nội dung:
Bên A bán cho bên B mè vàng xô, số lượng 500 tấn (+/- 10%);
Đơn giá trước thuế: 8.080.000 đồng/tấn; thuế VAT 5%: 404.000 đồng/tấn, thànhtiền 8.484.000 đồng/tấn, tổng giá trị hợp đồng là 4.242.000.000 đồng (+/- 10%).Phương thức giao nhận hàng: hàng được giao theo từng đợt, chậm nhất đến ngày25/8/2016, địa điểm tại bến Trần Văn Kiểu, Tp.HCM
Phương thức thanh toán: Thanh toán ngay 100% bằng tiền mặt hoặc chuyển khoảntheo từng đợt giao nhận hàng
Ngoài ra các bên còn thỏa thuận nếu có tranh chấp không tự giải quyết được thìđưa ra Tòa Kinh tế TAND tỉnh An Giang để giải quyết
Quá trình thực hiện hợp đồng: Ông Cường trình bày ông đại diện cho Công tyThành Cường ký kết hợp đồng mua bán với DNTN Phương Nam I và đã thực hiệnhợp đồng đã giao cho DNTN Phương Nam I tổng cộng 633 tấn mè vàng (ôngCường không cung cấp được biên bản giao hàng) và DNTN Phương Nam I đãthanh toán được gần 300.000.000 đồng, còn nợ 5.194.190.000 đồng, nay yêu cầuDNTN Phương Nam I trả dứt điểm số nợ còn lại, không yêu cầu tính lãi Trongquá trình thực hiện hợp đồng không có mặt bà Điệp, bà Điệp không còn là thànhviên của Công ty Thành Cường
Bà Hoa trình bày DNTN Phương Nam I có ký hợp đồng mua bán mè vàng vớiCông ty Thành Cường; nhưng người thực hiện hợp đồng là bà Điệp, bà Điệp làthành viên Công ty Thành Cường DNTN Phương Nam I đã thanh toán xong tiềnhàng thể hiện bằng “Bản đối chiếu công nợ” ngày 15/11/2016 do bà Điệp ký nhận
Do đó DNTN Phương nam I không chấp nhận thanh toán nợ theo yêu cầu củaCông ty Thành Cường
Bà Điệp trình bày DNTN Phương Nam I là chỗ quen biết làm ăn cũ nên khoảngtháng 8/2016 DNTN Phương Nam I ứng tiền trước cho bà để mua hàng, bà liên hệvới Công ty Thành Cường chỉ để làm thủ tục ký kết hợp đồng và xuất hóa đơnVAT Bà đã giao hàng cho DNTN Phương Nam I tổng cộng 633 tấn mè vàng, sốtiền tạm ứng của DNTN Phương Nam I là 5.287.150.000 đồng bà đã thanh toánxong, bà không đồng ý phải trả lại số tiền này cho DNTN Phương Nam I
Ngày 15/11/2016 hai bên đã lập Bản đối chiếu giao nhận và thanh toán tiền hàng,đại diện bên giao hàng là bà Điệp; đại diện bên nhận hàng là ông Huỳnh Văn Tài
Trang 6với nội dung: Căn cứ Hợp đồng kinh tế số 01-MV/PN-TC ngày 10/8/2006 giữaCông ty Thành Cường và DNTN Phương Nam I; căn cứ thực tế giao nhận vàthanh toán tiền hàng, bên bán đã giao cho bên mua: 633.000 kg mè vàng, kèm theo
7 hóa đơn VAT với tổng giá trị đã bao gồm thuế VAT: 5.384.190.000 đồng; phầnthanh toán: bên mua đã ứng tiền cho bà Điệp 5.287.150.000 đồng; ông Cường trựctiếp nhận 289.306.000 đồng; tổng cộng 5.576.456.000 đồng Đối trừ bên mua đãchuyển thừa 192.266.000 đồng
Bà Điệp đã trả lại cho bên mua số tiền 192.266.000 đồng
Bên bán đã giao hàng và xuất hóa đơn cho bên mua; bên mua đã thanh toán đầy đủtiền hàng và tiền thuế cho bên bán Hai bên không còn nợ gì nhau kể từ ngày kýbiên bản
Ngày 29/6/2017 Công ty Thành Cường đã có đơn khởi kiện đối với DNTNPhương Nam I tới Tòa Kinh tế TAND tỉnh An Giang đề nghị thu hồi hơn 5 tỷđồng để có tiền trả nợ khách hàng và thuế Nhà nước
YÊU CẦU:
Anh (chị) hãy căn cứ sự việc nêu trên và quy định pháp luật để đề ra đường lối giảiquyết vụ án của Tòa án
Đã giải:
Trong tình huống trên có hai hợp đồng tồn tại:
Hợp đồng thứ nhất là giữa Cty TNHH Thành Cường và DNTN Phương Nam I doông Cường và bà Hoa ký kết ngày 10/06/2018
Hợp đồng thứ hai là giữa bà Điệp và Cty TNHH Phương Nam I Trong trường hợpnày bà Điệp là bên bán và DNTN Phương Nam I là bên mua
Đối với hợp đồng thứ nhất, Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Cty TNHH ThànhCường và DNTN Phương Nam I được xác lập bằng văn bản Người ký kết hợpđồng theo thỏa thuận của hai Doanh nghiệp Đối tượng của hợp đồng là mè vàng,hợp đồng này xét theo quy định của Luật TM thì bên bán có nghĩa vụ giao hàng,chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa
vụ thanh toán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận (K8 Điều 3LTM 2005) Theo đó khi thực hiện hợp đồng thì bên bán không thực hiện nghĩa vụgiao hàng mà khi bà Điệp mua mè giao hàng cho DNTN Phương Nam thì trongbiên bản đối chiếu trong đó xác lập bên giao là bà Điệp, tức bên bán là bà Điệpbên mua là DNTN PN I Thế thì Cty TNHH Thành Cường không chứng minhđược đã giao hàng mà có chuyện bà Điệp nhờ Cty TNHH Thành Cường ký hợpđồng với DNTN PN I để xuất hóa đơn trên tổng số hàng bà Điệp đã giao Rõ ràngtrong trường hợp này giao dịch giữa cty TNHH Thành Cường và DNTN PN I làkhông có thật Đây là giao dịch giả tạo theo quy định tại Điều 124 BLDS nhằmche giấu giao dịch thật giữa bà Điệp và DNTN PN I
Hợp đồng giữa Cty TNHH Thành Cường và DNTN Phương Nam I là hợp đồngmua bán hàng hóa chịu sự điều chỉnh của LTM nhưng LTM lại không quy địnhđiều kiện để hợp đồng có hiệu lực nên theo K3 Điều 4 LTM 2005 ta áp dụng
Trang 7BLDS để xem xét hợp đồng có hiệu lực hay không? Và theo điều 124 BLDS thìhợp đồng giữa Cty TNHH Thành Cường và DNTN Phương Nam I là hợp đồng giảtạo nên sẽ bị vô hiệu Tòa án sẽ giải quyết theo trường hợp hợp đồng bị vô hiệu làkhôi phục là tình trạng ban đầu và các bên hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận.DNTN Phương Nam đã nhận hóa đơn của Cty TNHH Thành Cường thì trả lại, còn
TC trả lại tiền đã nhận cho DNTN PN I và không chấp nhận yêu cầu của CtyTNHH Thành Cường
Mở rộng: Vấn đề pháp lý đọc thêm để nắm rõ hơn còn câu trả lời ở trên đã đầy đủrồi
Còn hợp đồng giữa bà Điệp và DNTN PN I không hề vi phạm quy định của phápluật Về chủ thể, bà Điệp là người có đủ NLHVDS Đói tượng của hđ là mè vàng(không là hàng hóa pháp luật cấm theo ) hợp đồng này không rơi vào các trườnghợp bị vô hiệu nên vẫn có hiệu lực Trường hợp này không tranh chấp nên Tòa án
sẽ không xem xét vì hợp đồng không có tranh chấp, tòa án chỉ tuyên hợp đồnggiữa Cty TNHH Thành Cường và DNTN Phương Nam I bị vô hiệu) thêm nữa là
cả ba người này có thể sẽ bị chịu TNHS vì tội mua bán hóa đơn được quy địnhtrong BLHS
Cần biết thêm: Tại sao bà Điệp không tự mình mà phải nhờ Thành Cường xuấthóa đơn để làm gì?? Trong khi bà Điệp là cá nhân đủ NLHVDS, đối tượng củaHợp đồng là mè vàng, không thuộc loại hàng hóa bị cấm thì bà Điệp vẫn nhờ CtyTNHH TC ký hợp đồng
Vì trong thực tiễn hoạt động của DN, DN phải thực hiện nghĩa vụ thuế với nhànước, có rất nhiều loại thuế nhưng quan trọng nhất là thuế thu nhập Doanh nghiệptùy vào từng loại nhành nghề kinh doanh Trung bình sẽ là 20%/ lợi nhuận Làmthế nào để nhà nước biết được DN họ có bao nhiêu lợi nhuận? Cách tính lợi nhuận
sẽ là lấy Doanh thu – chi phí Vậy doanh thu là bao nhiêu? Và lợi nhuận là baonhiêu? Đó là lý do nhà nước quản lý vấn đề này Đó cũng là lý do mà khi cácdoanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh thì họ phải thực hiện kết toán theohóa đơn, chứng từ (hóa đơn, chứng từ có nghĩa là khi mà họ muốn bán hàng hóa rangoài thì họ phải có hóa đơn mua vào nếu bán hàng ra mà không có hóa đơn muavào thì hành hóa ở trong kho của họ sẽ là hàng hóa bất hợp pháp và quản lý thịtrường có thể kiểm tra và thu hồi bất cứ khi nào Vì đó là hàng hóa không cónguồn gốc, hóa đơn, chứng từ do đó mà tất cả hoạt động của DN bao giờ người tamua hàng cũng có hóa đơn vào và bán hàng ra thì họ xuất hóa đơn đầu ra
Quay lại với tình huống, thương nhân cần phải có hóa đơn đầu vào cho nên mặc
dù quen biết với bà Điệp, nhưng bà Điệp không phải là thương nhân, bà Điệpkhông xuất được hóa đơn nên phải nhờ Cty TNHH Thành Cường ký hợp đồng đểxuất hóa đơn để hợp thức hóa đơn hàng mà bà Điệp bán cho DNTN PN I Và CtyTNHH Thành Cường cũng không phải làm không mà TC thực hiện việc này sẽđược hưởng cái tiền VAT (VAT là khoản thuế mà bên sau cùng phải trả Ví dụnha: mua vào với giá 100tr, bán ra với giá 120, lợi nhuận sẽ là 20tr thì VAT là10%/20 người mua phải trả, họ được khấu trừ ở hóa đơn đầu vào và đầu ra)
Trang 8Bài tập 04: Hợp đồng cung cấp lắp đặt hệ thống thiết bị lạnh băng chuyền
Sự việc:
Công ty A và Công ty B giao kết hợp đồng ngày 27/07/2017 với nội dung Công ty
A cung cấp, vận chuyển và lắp đặt cho Công ty B một hệ thống thiết bị lạnh băngchuyền IQF 500kg/giờ ± 5%, tôm từ 16-20 con/pound; tôm tươi lột vỏ nạp liệubằng cách sắp tay; tôm tươi có vỏ, tôm luộc nạp liệu tự động; nhiệt độ đầu ra trungtâm sản phẩm là -18oC; tổng giá trị hợp đồng bao gồm cả cung cấp, vận chuyển,lắp đặt và thuế giá trị gia tăng (5%) là 137.550 USD Hợp đồng còn quy định vềphương thức giao nhận, phương thức thanh toán và thời gian bảo hành (12 tháng,
kể từ ngày nghiệm thu bàn giao) Thực hiện hợp đồng, Công ty B đã tạm ứng mộtphần tiền hàng cho Công ty A theo thỏa thuận Từ tháng 7 đến tháng 9-2017, Công
ty A hoàn thành việc lắp đặt cho Công ty B băng chuyền IQF 500kg/giờ
Theo trình bày của Công ty A, trong khi chưa nghiệm thu, Công ty B đã sử dụngbăng chuyền đông lạnh này vào sản xuất mặt hàng nghêu với công suất 600kg/giờ.Sau hơn 1 năm, kể từ ngày đưa máy vào hoạt động, Công ty B vẫn không chịunghiệm thu và thanh toán tiền hàng còn lại, mặc dù Công ty A liên tục yêu cầu Dovậy, Công ty A đã khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty B thanh toán tiền hàng
và tiền lãi do chậm thanh toán
Theo trình bày của Công ty B, việc chưa nghiệm thu là do hệ thống thiết bị lạnhbăng chuyền IQF 500kg/giờ không đạt đúng công suất đã thỏa thuận Công ty B
đã nhiều lần yêu cầu Công ty A phải hiệu chỉnh lại hệ thống theo đúng chất lượng
đã ký kết Trong suốt quá trình hiệu chỉnh máy, Công ty A chưa lần nào lập đượcbiên bản xác nhận máy chạy đạt được công suất như thỏa thuận trong hợp đồng.Hai bên cũng đã nhiều lần tổ chức nghiệm thu máy, nhưng không thành và đếnngày 22/7/2019 (thời điểm khởi kiện ra Tòa), hai bên vẫn chưa thống nhất đượcvới nhau về cách thức nghiệm thu máy Vì vậy, một trong những yêu cầu củaCông ty B là Công ty A phải đảm bảo đúng yêu cầu kỹ thuật của hệ thống thiết bịlạnh như đã cam kết trong hợp đồng, sau khi Công ty A đảm bảo các yêu cầu kỹthuật thì Công ty B sẽ thanh toán tiền hàng còn lại Công ty B cũng không chấpnhận việc trả tiền lãi vì cho rằng Công ty A mới là người vi phạm hợp đồng TheoCông ty B, thực tế máy đã sử dụng một thời gian, nếu công suất không đạt được
Trang 9mức 500kg/giờ thì cũng phải đạt ở mức có thể chấp nhận được (theo kết quả giámđịnh do Toà án trưng cầu thì công suất chỉ đạt 114,75kg/giờ)
Yêu cầu:
Trong Th này hai bên đều là TN, đối tượng của hợp đồng là thiết bị lạnh băngchuyền, đây là hàng hóa theo quy định của LTM Nên hợp đồng này áp dụng LTM
để giải quyết
1 a/ Trong trường hợp khiếu nại về chất lượng hàng hóa của Công ty B
là có cơ sở thì hành vi không thanh toán tiền hàng còn lại của Công ty B có phù hợp với quy định của pháp luật không? Giải thích?
(Việc không thanh toán tiền hàng là không đúng với quy định của pl vì nghĩa vụcủa bên mua là phải thanh toán như thỏa thuận trong hợp đồng (ĐIều 50 LTM).Thỏa thuận như nào thì thực hiện như vậy trừ trường hợp rơi vào cái TH bên mua
đc quyền tạm ngừng thanh toán, lúc đó mới đc tạm ngừng thanh toán Có 2Trường hợp tạm ngừng thanh toán: Điều 51, và áp dụng chế tài tạm ngừng thựchiện hợp đồng
(Trong th này đc sử dụng điều 51 hoặc áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợpđồng Tuy nhiên áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng thì phải có thỏathuận trong HĐ Nên để tạm ngừng thanh toán mà chỉ áp dụng điều 51 k là k đủ, vìcòn chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng)
=>Trong TH này áp dụng k3 điều 51 thì lúc này sẽ tạm ngừng thực hiện việc thanhtoán cho đến khi bên bán khắc phục đc xong việc hàng hóa k phù hợp trong thỏathuận HĐ Chứ k đc k thanh toán, vẫn phải thanh toán và chỉ đc quyền tạm ngừngthực hiện thanh toán thôi sau khi bên bán khắc phục xong thì phải thanh toán.Bên mua có nghĩa vụ thanh toán như thỏa thuận trong hợp đồng theo Điều 50 Luậtthương mại 2005
Theo khoản 3 Điều 51 trong trường hợp này công ty B chỉ được quyền tạm ngừngthanh toán chứ không được không thanh toán
b/ Nếu các bên thỏa thuận nghĩa vụ thanh toán tiền hàng còn lại của bên mua chỉ phát sinh sau khi các bên ký biên bản nghiệm thu hàng hóa thì nghĩa vụ thanh toán của bên mua có phát sinh trong các trường hợp sau đây không? Giải thích?
Điều 50 luật ™ quy định bên mua có nv thanh toán như đã thỏa thuận trong HĐnên các bên thỏa thuận nghĩa vụ thanh toán tiền hàng còn lại của bên mua chỉ phát
Trang 10sinh sau khi các bên ký biên bản nghiệm thu hàng hóa như vậy thời điểm phát sinhnghĩa vụ thanh toán ký văn bản nghiệm thu xong thì bên mua sẽ phải trả tiền Khi
đó mới phát sinh NV thanh toán của bên mua
Trường hợp 1: Bên bán giao hàng hóa phù hợp với hợp đồng nhưng bên mua không tiến hành nghiệm thu dù bên bán đã có yêu cầu;
Trong TH này chưa ký biên bản nghiệm thu thì chưa có nghĩa vụ thanh toán Tuynhiên, bên mua vi phạm nghĩa vụ tiếp nhận hàng
Cần biết: Biên bản nghiệm thu gồm hai loại: Biên bản kiểm tra và Biên bản bàngiao (Nghiệm thu thực tế là việc kiểm tra hh, kt xem hh có phù hợp đúng thư thỏathuận trong hđ hay k?, nếu phù hợp thì ghi vào biên bản nghiệm thu là phù hợp Kphù hợp thì ghi k phù hợp)
-> Biên bản nghiệm thu gồm biên bản kiểm tra hàng hóa và biên bản giao nhận hh.Vậy thì trong TH này nghĩa vụ thanh toán của bên mua chưa phát sinh Nhưng bênmua lại vi phạm nghĩa vụ kiểm tra hh (tiếp nhận hh) Do vi phạm nghĩa vụ đó nênbên bán có quyền áp dụng các chế tài tại điều 292 khi có đủ căn cứ, điều kiện ápdụng các chế tài đó
Trường hợp 2: Hàng hóa được giao trên thực tế không phù hợp với hợp đồng nhưng các bên đã ký biên bản nghiệm thu hàng hóa
Đã ký biên bản nghiệm thu thì nghĩa vụ thanh toán đã phát sinh Nhưng hàngkhông đúng chất lượng thì bên bán vẫn phải chịu trách nhiệm về chất lượng củahàng hóa, bên mua có quyền áp dụng chế tài và áp dụng quyền tạm ngừng thanhtoán (k3 điều 51)
2 Do hàng hóa không đúng chất lượng như đã thỏa thuận, Công ty B cho rằng nếu phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì Công ty B có quyền yêu cầu giảm giá, theo đó chỉ thanh toán theo đúng giá trị thực của hàng hóa tại thời điểm lắp đặt Quyền yêu cầu giảm giá trong trường hợp này có phù hợp với quy định của pháp luật không? Giải thích?.
Bên bán giao hàng k đúng như thỏa thuận trong hợp đồng do đó bên bán vi phạmnghĩa vụ giao hàng (Điều 34) => bên mua từ chối nhận hàng tại khoản 2 điều 39
và có quyền áp dụng các chế tài tại điều 292 chứ không có quyền yêu cầu giảm giá
vì luật ™ k có chế định về giảm giá, đây đc coi là hành vi
3. Giả sử Công ty B áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng để buộc bên bán phảinhận lại máy và hoàn lại tiền, tuy nhiên Công ty A lại lập luận rằng hàng hóa đã
Trang 11được bên mua đưa vào sử dụng sản xuất, cho ra sản phẩm trong thời gian dài (cụthể sử dụng băng chuyền đông lạnh này vào sản xuất mặt hàng nghêu với côngsuất 600kg/giờ trong khi chưa nghiệm thu) thì không thể trả lại cho bên bán Anh(chị) hãy giải quyết hậu quả pháp lý trong trường hợp yêu cầu hủy hợp đồng đượcchấp nhận?
314 Luật thương mại 2005
Hoàn trả tài sản, hoàn trả lợi ích đã nhận
Chương 3:
Bài tập:
Bài tập 05: Hợp đồng mua bán logo nhựa TPR
Ngày 01/03/2017, công ty A ký hợp đồng mua bán hàng hóa với công ty B, theo đó công
ty A bán cho công ty B 41.600 logo nhựa TPR gắn trên giày thể thao với hàm lượngCadmium < 100mg/kg, mẫu mã do công ty B cung cấp
Ngày 14/05/2017, công ty A giao hàng cho công ty B và sau đó, công ty B đã gắn số logonày trên giày thể thao để xuất khẩu theo đơn hàng KJ-3360 mà công ty C (quốc tịch Đức)
đã đặt Từ tháng 06 đến tháng 08/2017, công ty A đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng chocông ty B nhưng công ty B chưa thanh toán tiền đủ cho công ty A, tổng số tiền còn thiếu
là 274.000.000 VND
Ngày 09/09/2017, công ty B nhận được email từ công ty C với nội dung thông báo làlogo nhựa gắn trên giày thể thao nói trên có hàm lượng Cadmium vượt quá tiêu chuẩncho phép (Cadmium > 100mg/kg), được chứng minh bằng các kết quả mà công ty đãgiám định tại Đức ngày 18/8/2017, 26/8/2017 và 01/09/2017
Ngày 14/09/2017, công ty B gửi công văn thông báo cho công ty A về việc logo TPRkhông đạt tiêu chuẩn cho phép và yêu cầu công ty A cung cấp logo TPR của kiểu giàyKJ-3360 tồn kho của cùng lô hàng đã xuất sang Đức để gửi đi kiểm tra một lần nữa Ngày 27/09/2017, công ty A và công ty B đã cùng nhau niêm phong mẫu gửi đi kiểm tratại STR (Đài Loan) Kết quả kiểm tra của STR cho thấy hàm lượng Cadmium trong logonhựa TPR >100mg/kg Dựa trên kết quả này, công ty B đã gửi thông báo yêu cầu công ty
A cùng mình trao đổi khắc phục những phí tổn nhưng không nhận được trả lời từ phíacông ty A Sau đó, công ty A gửi mẫu này đi kiểm tra một lần nữa tại Vinacontrol, kếtquả là hàm lượng Cadmium trong logo nhựa TPR <100mg/kg Vì vậy công ty A yêu cầucông ty B phải tái nhập toàn bộ lô hàng logo nhựa TPR đã xuất sang Đức, cùng nhau lấymẫu và gửi đi giám định một lần nữa có sự chứng kiến của cả hai bên Nếu lô hàng không
Trang 12phù hợp với hợp đồng sẽ tiến hành tái chế tại Việt Nam và sau đó xuất sang Đức Tuynhiên chi phí tái nhập là rất lớn đồng thời nhận thấy thái độ không hợp tác của công ty Anên công ty B đã không đồng ý với yêu cầu của công ty A
Ngày 01/01/2018, công ty A đã có đơn khởi kiện công ty B ra Tòa án nhân dân thành phố
H yêu cầu thanh toán tiền hàng là 274.000.000 VND và tiền lãi do chậm thanh toán.Công ty B không đồng ý thanh toán khoản tiền theo như thỏa thuận trong hợp đồng màchỉ thanh toán giá trị thực tế của hàng hóa không đạt yêu cầu về chất lượng
Đồng thời, công ty B yêu cầu công ty A bồi thường thiệt hại do việc công ty B vi phạmđơn hàng với công ty C vì sử dụng logo do công ty A cung cấp, bao gồm tiền phạt viphạm hợp đồng và chi phí cho việc gia công tái chế tại Đức Biết rằng chi phí phát sinhcho việc tái chế tại Đức cao gấp nhiều lần so với Việt Nam và công ty C đã đồng ý chocông ty B nhận hàng về Việt Nam để tái chế và tái xuất nhưng do không đạt được thỏathuận với công ty A về việc tái chế này (công ty A vẫn cho rằng mình không có lỗi dựatrên kết quả kiểm tra của Vinacontrol và công ty A vào thời điểm giao hàng cho công ty
B không biết được số hàng này sẽ được xuất sang nước Đức và áp dụng tiêu chuẩn chấtlượng của Đức đối với hàng hóa) nên công ty B đã không nhận hàng về
Xét yêu cầu của bên mua yc bên bán BTTH thì đó là bên mua đã áp dụng chế tài BTTH.Điều kiện để áp dụng chế tài BTTH đc quy định ở điều 303 LTM 2005 gồm đủ 3 yếu tốthì đc BTTH
+ HĐ có thỏa thuận về chất lượng và trong TH này có 3 kết quả giám định: Kết quảgiám định ở Đức > 100, KQGĐ ở Vinancontrol <100, KQGĐ ở STR >100, Vậy chứngthư giám định nào có giá trị pháp lý với cả hai bên??
Điều 261 LTM 2005 quy định giá trị pháp lý của CTGĐ, CTGĐ chỉ có giá trị pháp lý đốivới bên yêu cầu giám định trừ TH bên đó phải chứng minh… Theo k1 Điều 262 trườnghợp các bên có thỏa thuận sử dụng 1 thương nhân để thực hiện giám định thì CTGĐ có
Trang 13GTPL với cả hai bên Trong TH này CTGĐ ở Đức chỉ có giá trị với thương nhân ở Đứcchứ không có giá trị đối với A với B KQGĐ ở Vian chỉ có giá trị với A, ở Đài Loan cógiá trị với A và B vì cả hai bên cùng nhau niêm phong lô hàng gửi đi KT cho thấy hai bên
đã thống nhất chọn STR để giám định (khoản 1 điều 262) => điều này chứng tỏ A giaohàng kh phù hợp với hợp đồng, nên vi phạm nghĩa vụ theo điều 34 LTM 2005, k12 điều 3LTM 2005
+ Có thiệt hại xảy ra: Có Bên mua đã mất khoản chi phí để tái chế và khoản tiền trảtiền phạt vi phạm hợp đồng cho bên TN ở ĐỨc
+ Hành vi vi phạm của A là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại
=> đủ 3 điều kiện yêu cầu BTTH.
Tuy nhiên bên A có thể yêu cầu bên B hạn chế tổn chất theo điều 305, bên bán khôngbồi thường sự chênh lệch tiền khắc phục tiền bên Đức và VN/ (VD: ở Vn tiền khắc phục
là 100tr còn ở đức là 200tr thì A chỉ bồi thường 100tr)
*Xét yêu cầu của bên bán: Bên bán yêu cầu bên mua thanh toán và trả lãi do chậm thựchiện nghĩa vụ thanh toán Theo điều 50 LTM, bên mua có nv thanh toán như thỏa thuậntrong hợp đồng và đến thời hạn thanh toán bên mua k thanh toán là đã vi phạm nghĩa vụ(vi phạm nghĩa vụ có thể bị áp dụng các chế tài lẫn việc trả tiền lãi do chậm thực hiệnnghĩa vụ thanh toán) Xác định tiền lãi do chậm thực hiện nv thanh toán theo điều 306 thìphải xác định thời điểm thanh toán (Lãi= lãi suất *số tiền chậm trả tương ứng với thờigian chậm trả)
Trong TH này các bên không thỏa thuận về thời hạn thanh toán Nên theo khoản 1 điều
55 thì B phải thanh toán vào thời điểm A giao hàng là ngày 14/5/2017 mà lúc này A đã viphạm nghĩa vụ thanh toán, thanh toán chậm => B bắt buộc phải thanh toán tiền hàng.Tuy nhiên theo k3 điều 51 TH bên mua có bằng chứng về việc bên bán giao hàng k phùhợp thỏa thuận trong HĐ thì có thể áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng hoặc
áp dụng điều 51 tạm ngừng thanh toán tiền mua hàng nếu có đủ cơ sở áp dụng Do đó bênmua k vi phạm nghĩa vụ và k phải trả tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán
2 Giả sử ngày 14/12/2017 công ty B mới gửi thông báo cho công ty A về việc hàm lượng Cadmium trong logo do công ty A sản xuất vượt quá tiêu chuẩn cho phép và yêu cầu công ty A bồi thường thiệt hại thì vụ việc trên được giải quyết như thế nào?
Thời hạn khiếu nại, theo k2 điều 40 LTM thì trong thời hạn khiếu nại bên bán phải chịutrách nhiệm về khiếm khuyết hàng hóa (Tức hết thời hạn khiếu nại thì bên bán k phảichịu trách nhiệm đối với những khiếm khuyết hh nữa, bên mua sẽ mất quyền viện dẫn đốivới hành vi vi phạm đó để yc bên bán chịu trách nhiệm) Thời hạn khiếu nại theo k2 Điều
318 là 6 tháng kể từ ngày giao hàng Hàng giao ngày 14/5/2017 đến 14/12 đã hết thời hạn