Yêu cầu thực hiện nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn...6 CHƯƠNG II: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VẬN DỤNG ĐÚNG ĐẮN, SÁNG TẠO “NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN” TRONG LÃN
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
_
BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Đề tài: Sự vận dụng của Đảng về “Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tế” trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam hiện nay.
Hà Nội, tháng 3 năm 2022
Tên sinh viên : Trần Thị Thu Trang
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ “NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN” 4
1.1 Vị trí, vai trò và cơ sở hình thành của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn 4 1.2 Nội dung của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn 5 1.3 Yêu cầu thực hiện nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn 6
CHƯƠNG II: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VẬN DỤNG ĐÚNG ĐẮN, SÁNG TẠO “NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN” TRONG LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ YÊU CẦU VẬN DỤNG TRONG THỜI GIAN TỚI 7
2.1 Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng đúng đắn, sáng tạo “nguyên tắc thống nhất lý luận và thực tiễn” trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam hiện nay 7 2.2 Yêu cầu vận dụng “nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn” của Đảng ta trong thời gian tới 11
KẾT LUẬN 12 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3MỞ ĐẦU
Lý luận và thực tiễn là hai mặt đối lập với nhau trong một vấn đề, nhưng có mối quan hệ biện chứng với nhau dưới góc nhìn của triết học Mác-Lênin Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đã trở thành nguyên tắc của con người trong nhận
thức và hoạt động thực tiễn của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Học
đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn” 1
Trong xã hội từ khi con người ra đời đến nay, luôn xuất hiện những tư tưởng duy tâm, chủ quan, duy ý chí trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Những tư tưởng này không xuất phát từ thực tiễn mà luôn đưa ra những kết luận chủ quan, mang ý chí của cá nhân, không có cơ sở khoa học, đồng thời hành động theo chủ nghĩa kinh nghiệm Qua đó, có tác động không nhỏ tới nhận thức, quan điểm của con người, trở thành mặt đối lập với quan điểm thống nhất giữa lý luận và thực tiễn mà triết học Mác-Lênin đã chỉ ra Ở nước ta hiện nay, biểu hiện của chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí, kinh nghiệm, xa rời thực tế được biểu hiện dưới nhiều hình thức đa dạng, phức tạp Đặc biệt là trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, làm nảy sinh các bệnh quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, bảo thủ, chì trệ, ảnh hướng lớn tới sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Do đó, nghiên cứu, làm rõ nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn,
và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Góp phần bảo vệ, phát triển quan điểm của triết học Mác-Lênin nói chung và nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nói riêng Khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo trong những chủ trương, đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng ta Đấu tranh loại bỏ tư tưởng chủ quan, duy ý chí,
xa rời thực tiễn trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, và mỗi sinh viên Phản bác hiệu quả với các quan điểm phủ nhận thành tựu lãnh đạo của Đảng ta Cung cấp luận cứ khoa học cho quá trình nhận thức và lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay
Chính vì vậy, tôi lựa chọn chủ đề “Sự vận dụng của Đảng về “Nguyễn tắc
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn” trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam hiện nay” làm tiểu luận nghiên cứu của mình.
1 HCM, Toàn tập, tập 13, Nxb CTQG, H.2011, Tr.90.
Trang 4NỘI DUNG
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ “NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN”
1.1 Vị trí, vai trò và cơ sở hình thành của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn.
Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn là nguyên tắc căn bản của triết học Mác-Lênin, chiếm vị trí quan trọng trong thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và cải tạo tự nhiên, xã hội và tư duy của con người Phù hợp với con đường biện chứng trong nhận thức chân lý của con người đó là: Từ trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng, từ tư duy trìu tượng đến thực tiễn và từ tực tiễn đến trực quan sinh động Đó là quá trình nhận thức liên tục, gắn với việc bổ sung và phát triển lý luận trong thực tiễn
Do vậy, đây là nguyên tắc có tính chất bắt buộc đối với mọi chủ thể trong xã hội khi xem xét và giải quyết các vấn đề trong nhận thức và hoạt động thực tiễn
Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lý luận mà không có thực tiễn là lý luận suông.
Thực tiễn mà không có lý luận là thực tiễn mù quáng”2 Bảo đảm lý luận được rút
ra từ việc nghiên cứu thực tiễn, bắt đầu từ thực tiễn vấn đề Nếu vi phạm nguyên tắc này sẽ làm mất động lực phát triển của lý luận, lý luận sẽ rơi vào xơ cứng, giáo điều, quan liêu, xa rời thực tiễn Ví dụ như: Muốn có chủ trương, biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 ở một địa phương, cơ quan Nhà nước phải nghiên cứu xem tình hình địa phương ra sao? Kết quả phòng, chống dịch như thế nào? Địa phương
đã thực hiện đúng các quy định và biện pháp phòng, chống dịch mà Bộ Y tế đưa ra hay chưa? Có những yếu tố nào tác động đến việc phòng, chống dịch ở địa phương? Từ đó, các cơ quan Nhà nước mới có thể đưa ra những kết luận chính xác về tình hình, có chủ trương và biện pháp khắc phục hiệu quả hạn chế còn tồn tại và thực hiện tốt hơn công tác phòng, chống dịch ở địa phương Các cơ quan Nhà nước không thể đưa ra các kết luận và biện pháp thực hiện nếu chỉ ngồi ở nhà, đó là biểu hiện của sự giáo điều và chủ nghĩa kinh nghiệm
Đồng thời, nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn bảo đảm cho hoạt động của thực tiễn đi đúng hướng, giải quyết tốt các vấn đề do thực tiễn đặt ra,
2 HCM, Toàn tập, tập 14 Nxb CTQG, H.2011, Tr.476.
Trang 5nhằm thỏa mãn nhu cầu của chủ thể Nếu vi phạm nguyên tắc, chủ thể sẽ dẫn đến hành động mù quáng, không có phương hướng, rơi vào chủ nghĩa thực dụng, chủ quan, duy ý chí
1.2 Nội dung của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Triết học Mác-Lênin đã khẳng định, lý luận và thực tiễn phải luôn thống nhất với nhau Không được tách rời hay tuyệt đối hóa hoặc coi nhẹ một mặt nào Nếu coi nhẹ thực tiễn sẽ rơi vào giáo điều Tuyệt đối hóa thực tiễn, coi nhẹ lý luận sẽ rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm Thực tiễn bổ sung lý luận và lý luận chỉ đường, định hướng cho thực tiễn, lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng với nhau Trong đó, cần phát huy tính sáng tạo của thực tiễn trong quá trình xem xét, đưa ra các chủ trương, biện pháp mới trong cải tạo thực tiễn
Lý luận chính là những kết luận được con người nhận thức từ thực tiễn, sau
đó sử dụng chức năng của tư duy, đưa ra các kết luận về bản chất, tính chất, đặc điểm xung quanh vấn đề, làm sáng tỏ vấn đề, tìm ra những điểm mạnh, hạn chế, nguyên nhân và những yếu tố tác động đến vấn đề Do đó, lý luận được phát sinh, phát triển trên cơ sở của thực tiễn và phục vụ vào quá trình cải tạo thực tiễn, không phải là những lý luận suông, kinh viện, giáo điều, xơ cứng Hơn nữa, chính thực tiễn cũng đặt ra những vấn đề mới để lý luận nghiên cứu và bổ sung, là chân lý của
lý luận Đây cũng chính là tính chất mở trong học thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin
Từ đó khẳng định, thực tiễn luôn vận động và phát triển, nhiệm vụ của lý luận là bám sát thực tiễn để xem xét đưa ra các kết luận đúng đắn Ví dụ như nhiệm vụ cách mạng của nước ta ở các giai đoạn lịch sử là khác nhau, trước năm 1975 khác, sau 1975 khác và đến nay cũng có điểm mới
Việc nhận thức và cải tạo thực tiễn được lý luận dẫn dắt, soi đường, nếu không có lý luận soi đường sẽ trở thành thực tiễn mù quáng, tự phát Chủ nghĩa Mác-Lênin chính là lý luận về cách mạng giải phóng con người, giải phóng xã hội,
giải phóng giai cấp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chủ nghĩa Lênin đối
với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái
"cẩm nang" thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản” 3 Lý luận cung cấp tri thức, chỉ ra quan điểm, nguyên tắc, cách thức,
3 HCM, Toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, H.2011, Tr.563.
Trang 6biện pháp, còn đường nhận thức và cải tạo thực tiễn, định hướng cho con người cách thức cải tạo thực tiễn đúng đắn theo đúng quy luật khách quan, thúc đẩy thực tiễn vận động phát triển và thỏa mãn nhu cầu của con người, qua đó thể hiện tính sáng tạo trong tư duy của mình
1.3 Yêu cầu thực hiện nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đã trở thành thế giới quan, phương pháp luận cho con người trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của mình, góp phần nhận thức và cải tạo tự nhiên, xã hội và tư duy theo đúng quy luật khách quan, thúc đẩy sự vật, hiện tượng phát triển không ngừng, đáp ứng nhu cầu của con người Nhất là đối với Đảng Cộng sản và công nhân trên thế giới hiện nay trong sự nghiệp cách mạng xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới
Từ vị trí, vai trò và những nội dung của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, cần nắm chắc lý luận khoa học, nắm chắc thực chất tính cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin Quán triệt và thực hiện tốt quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử cụ thể và phát triển; nắm chắc các nội dung của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn Đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm sai trái trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, rèn luyện phương pháp, tác phong làm việc khoa học
Có quan điểm thực tiễn đúng đắn, tôn trọng thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn
để đề ra chủ trương, đường lối, chính sách, không tùy tiện chủ quan Khi xem xét, nghiên cứu thực tiễn cần xem xét cụ thể, toàn diện các vấn đề, các đặc điểm bên trong và bên ngoài, các yếu tố có liên quan, để hiểu rõ vấn đề, tìm ra các vấn đề mới mà thực tiễn đặt ra để yêu cầu lý luận lý giải và giải quyết
Đồng thời, vận dụng lý luận vào thực tiễn đúng đắn, linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tiễn, tránh áp dụng máy móc, dập khuôn, chủ quan, kinh nghiệm Chú ý tới những đặc điểm chủ yếu của vấn đề để tìm cách giải quyết; những điểm mới, điểm khác ở từng điều kiện thực tiễn khác nhau để có biện pháp
áp dụng lý luận đúng đắn, sáng tạo Thường xuyên tổng kết thực tiễn, đúc rút lý luận để bổ sung, phát triển lý luận Nhất là đối với những nguyên lý, lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, đây là một học thuyết mở, không phải một học thuyết đã đóng khung, khép kín Do vậy cần vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào từng điều kiện
Trang 7hoàn cảnh, từng đối tượng, nhưng phải giữ vững nguyên lý cốt lõi và tính thần của
lý luận gốc
CHƯƠNG II: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VẬN DỤNG ĐÚNG ĐẮN, SÁNG TẠO “NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN” TRONG LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ YÊU CẦU VẬN DỤNG TRONG THỜI GIAN TỚI
2.1 Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng đúng đắn, sáng tạo “nguyên tắc thống nhất lý luận và thực tiễn” trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam hiện nay.
Ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã khẳng định, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, cách mạng Việt Nam
đi theo con đường cách mạng vô sản, tiến lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc, gắn liền với chủ nghĩa xã hội Trong Văn kiến Đại hội XI của Đảng, một lần nữa Đảng ta khẳng
định: “Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng” 4
Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn trung thành, vận dụng đúng đặn, sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng nước nhà trong từng giai đoạn cách mạng, đưa cách mạng Việt Nam vững bước trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, đời sống nhân dân ngày càng ấm no, tự do và hạnh phúc
Trong giai đoạn hiện nay, là một giai đoạn trong thời kì quá độ từ chủ nghĩa
tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, cách mạng nước ta là thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văm minh Đảng ta đã có những chủ trương đúng đắn, sáng tạo trong lãnh đạo cách mạng nước nhà trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin về thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta Điều đó được thể hiện trên một số nội dung sau:
Một là, về tính tất yếu của sự nghiệp đổi mới
Sau thắng lợi của cách mạng tháng 10 Nga năm 1917, thế giới bước vào thời
kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Đây
là giai đoạn tất yếu để giai cấp công nhân thực hiện quyền thống trị của mình đối
4 ĐCSVN, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H,2011, Tr.178.
Trang 8với xã hội, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa V.I.Lênin đã khẳng định: “Về lý
luận, không thể nghi ngờ gì được rằng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội,
có một thời kì quá độ nhất định” 5 Đảng ta đã vẫn dụng sáng tạo khi thực hiện bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam và đúng với lý luận quá độ bỏ qua của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra
Trong thời kì quá độ, chủ nghĩa xã hội trên thế giới đã mắc phải những sai lầm dẫn đến sự sụp đổ hệ thống chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, lý luận chủ nghĩa xã hội bị các thế lực thù địch xuyên tạc mạnh mẽ, nhiều nước chủ nghĩa xã hội trên thế giới không đứng vững và
đi chệch hướng sang con đường tư bản chủ nghĩa Trong đó, thế giới chỉ có lại 5 nước chủ nghĩa xã hội, các nước chủ nghĩa xã hội đứng trước yêu cầu đổi mới, cải cách và cải tổ đất nước, bổ sung và phát triển lý luận về xã hội chủ nghĩa Trước tình hình đó, Trung Quốc thực hiện cải tổ, các nước như Triều Tiên, Lào, Cu Ba thực hiện cải cách, Việt Nam thực hiện chủ trưởng đổi mới đất nước Đảng ta đã ra chủ trương đổi mới từng phần, tiến tới đổi mới toàn diện đất nước từ Đại hội VI của Đảng năm 1986 Đảng ta đã vận dụng đúng đắn và bổ sung lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin phù hợp với thực tiễn đất nước Kết quả là sau 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình cao, đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt,
vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế ngày càng nâng cao, Đảng ta
khẳng định: “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm
trong cộng đồng quốc tế” 6
Hai là, về kinh tế
Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra những đặc điểm kinh tế của thời
kì quá độ là nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế
V.I.Lênin đã chỉ ra các thành phần kinh tế trong thời kì quá độ: “Kinh tế nông dân
kiểu gia trưởng, nghĩa là một phần lớn có tính chất tự nhiên; sản xuất hàng hóa nhỏ (trong đó bao gồm đại bộ phận nông dân bán lúa mì); chủ nghĩa tư bản tư nhân, chủ nghĩa tư bản nhà nước, chủ nghĩa xã hội” 7
5 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 39, Nxb CTQG, H,2005, Tr.309.
6 ĐCSVN, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG, H,2021, Tr.302.
7 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 36, Nxb CTQG, H,2005, Tr.363.
Trang 9Từ đó, với thực tiễn đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa với xuất phát điểm thấp là nên nông nghiệp lạc hậu, trình độ người lao động còn thấp Đảng ta đã chủ trương thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, phân phối theo nguyên tắc làm theo năng lực và hưởng theo lao động Như: kinh tế tập thể, kinh tế nhà nước, kinh tư có vốn đầu tư nước ngoài, kinh tế tư nhân Trong đó, Đảng ta coi kinh tế tư nhân là động lực của nền kinh tế, sau Đại hội XII của Đảng năm 2016, nước ta tiến hành cổ phần hóa nhiều doanh nghiệp nhà nước để thúc đẩy kinh tế phát triển, giảm bớt tình trạng tham nhũng, lãng phí ngân sách Nhà nước
* Ba là, về chính trị
Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra thời kì quá độ là thời kì đấu tranh giữa cái cũ
và cái mới để giải quyết vấn đề “ai thắng ai” giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội Do đó, trong lĩnh vực chính trị, giai cấp công nhân phải xây dựng bộ máy chính quyền của mình, thực hiện chuyên chính vô sản với giai cấp tư sản và các thế lực thù địch, đồng thời mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa trong toàn dân, giữ vững vai trò lãnh đạo của mình đối với xã hội thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng
sản C.Mác đã khẳng định: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ
nghĩa là một thời kì cải biến cách mạng lâu dài từ xã hội này sang xã hội kia Thích ứng với thời kì ấy là một thời kì quá độ chính trị, và nhà nước của thời kì ấy không thể là gì khác hơn là nền chuyên chính vô sản của giai cấp vô sản” 8
Trên cơ sở đó, với thực tiễn đất nước có nhiều thành phần giai cấp, tầng lớp, trong đó giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo những chiếm tỉ lệ nhỏ, trong khi
đó giai cấp nông dân chiếm tỉ lệ lớn trong xã hội, ngoài ra còn đội ngũ tri thức Đảng ta đã có chủ trương xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả Trong Hiến pháp năm 2013
của nước ta đã khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam-Đội tiền phong của giai cấp
công nhân Việt Nam, đồng thời là đội tiền phong của nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội”9 Nhà nước Cộng hòa
8 C Mac và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 19, Nxb CTQG, H 2004, Tr.47.
9Quốc hội, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb CTQG, H.2013.
Trang 10xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
Ngoài ra, trong lĩnh vực chính trị, tính đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta còn được thể hiện trong chủ trương đối ngoại, xây dựng các tổ chức chính trị-xã hội Nhất là trước tình hình các vấn đề toàn cầu, an ninh phi truyền thống và tình hình biên giới trên biển Tại Đại hội XIII, Đảng ta đã đưa ra hai vấn đề mới là an ninh con người và xây dựng lực lượng dân quân tự vệ biển vững mạnh, rộng khắp
* Cuối cùng là về phương diện văn hoá- xã hội
Văn hóa-xã hội trong thời kì quá độ được chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ ra rất phong phú, đa dạng Xuất phát từ nguyên nhân kinh tế có nhiều hình thức sở hữu
và nhiều thành phần kinh tế, dẫn đến có nhiều giai cấp, tầng lớp trong xã hội Mỗi giai cấp, tầng lớp lại có những nét văn hóa khác nhau, cùng tồn tại đan xen lẫn nhau Nhiệm vụ của giai cấp vô sản là cải biến dần dần những yếu tố văn hóa, tư tưởng trong xã hội, loại bỏ những văn hóa, tư tưởng lạc hậu, xây dựng nền văn hóa mới, văn hóa xã hội chủ nghĩa, đưa hệ tư tưởng của giai cấp công nhân giữ vị trí thống trị trong toàn xã hội
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, đa văn hóa với 54 dân tộc anh em tương ứng với 54 bản sắc văn hóa khác nhau Bên cạnh đó là sự hoạt động của các tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo Đảng ta khẳng định, đó là sự tồn tại khách quan và hiện nay nhiều tín ngưỡng, tôn giáo vẫn còn có ích cho xã hội, như Đạo Phật dạy con người làm việc thiện, Nhưng 54 dân tộc anh em trên đất nước ta đều có một nét văn hóa chung là văn hóa yêu nước Với thực tiễn đất nước và những lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin trong lĩnh vực văn hóa-xã hội Đảng ta chủ trường xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công nhân, nông dân và đội ngũ tri thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thống nhất trong đa dạng; tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân và hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của các tổ chức trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; tuyên truyền sâu rộng chủ nghĩa Mác-Lênin vào trong toàn dân; chăm lo tới các tầng lớp trong xã hội; xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa
2.2 Yêu cầu vận dụng “nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn” của Đảng ta trong thời gian tới