Hoàn thiện nhận thức về phương thức lãnh đạo, đồng bộ hóa các quy định làm nền tảng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước thông qua tổ chức đảng và đảng viên...7 3.2.. V
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Họ và tên: Lưu Xuân Dương
MSSV: 460808
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
I CƠ SỞ LÝ LUẬN GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2
1 Thực tiễn 2
2 Lý luận 2
3 Vai trò của lý luận đối với thực tiễn 2
Trang 23.1 Lý luận là “kim chỉ nam” soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo hoạt động
thực tiễn 2
3.2 Lý luận góp phần phát huy tối đa sức mạnh của cộng đồng trong hoạt động thực tiễn 2
3.3 Lý luận chỉ ra phương pháp tiến hành hoạt động thực tiễn 3
4 Vai trò thực tiễn đối với lý luận 3
4.1 Thực tiễn là cơ sở, mục đích, là động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức 3
4.1.1 Thực tiễn là cơ sở của nhận thức 3
4.1.2 Thực tiễn là mục đích của nhận thức 3
4.1.3 Thực tiễn là động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức 4
4.2 Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý 4
II SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TRONG LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG VIỆT NAM HIỆN NAY 4
1 Thực trạng 4
2 Hạn chế 5
3 Các giải pháp đề xuất 7
3.1 Hoàn thiện nhận thức về phương thức lãnh đạo, đồng bộ hóa các quy định làm nền tảng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước thông qua tổ chức đảng và đảng viên 7
3.2 Đổi mới hoạt động của tổ chức đảng trong cơ quan nhà nước 7
3.3 Phát huy tính tiên phong, gương mẫu của đội ngũ đảng viên nói chung và đảng viên giữ vị trí chủ chốt trong cơ quan nhà nước nói riêng 8
KẾT LUẬN 9
TÀI LIỆU THAM KHẢO 10
Trang 3MỞ ĐẦU
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ bản, là nền móng của triết học Mác – Lê nin Lần đầu tiên trong nền lịch sử triết học thế giới C Mác đã phát hiện ra được sự ràng buộc, mối liên hệ sâu sắc giữa
lí luận và thực tiễn Sự tồn tại của chúng ko những loại trừ mà còn bổ sung cho nhau và khiến chúng càng ngày càng trở nên hoàn thiện Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là sự thống nhất giữa biện chứng và cơ sở của sự tác động qua lại ấy chính là thực tiễn
Thực tiễn luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng, song song với đó chính là sự không ngừng chuyển mình, đổi mới và phát triển của lý luận Chính
Trang 4vì thế mà sự thống nhất biện chứng giữa chúng luôn tồn tại qua nhiều nội dung, qua nhiều thời đại, và luôn hiện hữu trong mọi khoảnh khắc trong cuộc sống Điều đó cũng được hiện hữu rõ nét ở nền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam – quốc gia với lực lượng dẫn đầu là Đảng Cộng sản Việt Nam đã dẫn lối và lãnh đạo đất nước ta đi lên là một nước độc lập và bình đẳng sau chiến tranh, đưa nước ta những bước đầu thoát khỏi những khó khăn trong lãnh đạo cách mạng hiện nay
Do đó, bằng những kiến thức đã học và một sự hiểu biết ít ỏi của mình nhằm được áp dụng lối tư duy này vào thực tiễn, góp phần nghiên cứu mặt lý luận của vấn đề này cũng như kiểm tra độ hiểu biết của bản thân về nội dung lý
luận và thực tiễn, em xin mạnh dạn làm bài tiểu luận về đề tài: “ Sự vận dụng của Đảng về “Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn “trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam hiện nay “
NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Thực tiễn
Thực tiễn là phạm trù cơ bản trong lí luận nhận thức Mác- Lê-nin cho
rằng: “ Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ
bản của lí luận nhận thức ”.
Triết học Mác – Lênin đánh giá phạm trù thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản của triết học nói chung và lý luận nhận thức nói riêng Quan điểm đó đã tạo nên một bước chuyển biến cách mạng trong triết học Triết học Mác khẳng định:
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử – xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội
Trang 52 Lý luận
Lý luận ( hay lý luận khoa học ) là hệ thống những tri thức được khái quát
từ kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của các sự việc, sự vật, hiện tượng được biểu đạt bằng hệ thống nguyên
lý, quy luật, phạm trù Hiểu một cách đơn giản lý luận cũng có thể coi là một loại nhận thức cơ bản của con người
3 Vai trò của lý luận đối với thực tiễn
3.1 Lý luận là “kim chỉ nam” soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo hoạt động
thực tiễn
Bởi vì lý luận nắm bắt được quy luật vận động và phát triển của hiện thực
Do đó, lý luận giúp cho việc xác định được mục tiêu, phương hướng, làm cho hoạt động trở nên chủ động, tự giác, hạn chế tình trạng mò mẫm, tự phát và điều chỉnh hoạt động theo đúng mục tiêu đã xác định và vạch ra phương hướng mới cho sự phát triển của thực tiễn
Lý luận được hình thành và phát triển trên nền tảng thực tiễn nhưng lý luận có tính độc lập tương đối so với thực tiễn
3.2 Lý luận góp phần phát huy tối đa sức mạnh của cộng đồng trong
hoạt động thực tiễn
Lý luận được vận dụng làm phương pháp cho hoạt động thực tiễn, mang lại lợi ích cho con người càng kích thích con người tích cực bám sát thực tiễn để khái quát lý luận Lý luận làm rõ vị trí, vai trò, lợi ích của chủ thể Quá trình đó diễn ra không ngừng trong sự tồn tại của con người, làm cho lý luận ngày càng đầy đủ và phong phú và sâu sắc hơn
Lý luận có vai trò giác ngộ mục tiêu, lý tưởng, xác định phương pháp, biện pháp thực hiện, liên kết, tập hợp lực lượng tạo thành sức mạnh to lớn cải tạo tự nhiên, xã hội vì sự phát triển của các cá nhân và xã hội Lý luận cách mạng có vai trò to lớn trong việc giáo dục, thuyết phục, động viên, tổ chức, tập hợp quần chúng khi đã thâm nhập vào quần chúng trở thành lực lượng vật chất
to lớn, cải tạo tự nhiên, xã hội vì sự phát triển của con người và xã hội
3.3 Lý luận chỉ ra phương pháp tiến hành hoạt động thực tiễn
Bởi vì lý luận được tóm tắt trong phương pháp Từ một hệ thống lý luận rút ra các nguyên tắc chỉ đạo và điều chỉnh hoạt động thực tiễn Lý luận khoa học sẽ cho phương pháp khoa học có hiệu quả Xuất phát từ khả năng tư duy ưu
Trang 6việt của con người mà bản chất, tính quy luật trong sự vận động, phát triển của thực tiễn được con người nắm bắt Nắm quy luật thực chất là nắm các mối quan
hệ bản chất, tất yếu, quyết định chiều hướng vận động, phát triển của thực tiễn
4 Vai trò thực tiễn đối với lý luận
4.1 Thực tiễn là cơ sở, mục đích, là động lực chủ yếu và trực tiếp của
nhận thức
4.1.1 Thực tiễn là cơ sở của nhận thức
Điều này có nghĩa là thực tiễn cung cấp tài liệu cho nhận thức, cho lý luận Mọi tri thức dù trực tiếp hay gián tiếp đối với người này hay người kia, thế
hệ nay hay thế hệ khác, ở trình độ kinh nghiệm hay lý luận, xét đến cùng đều bắt nguồn từ thực tiễn Bằng hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới, buộc thế giới phải bộc lộ những thuộc tính, những tính quy luật để cho con người nhận thức chúng
4.1.2 Thực tiễn là mục đích của nhận thức
Thực tiễn là mục đích của nhận thức vì nhận thức dù về vấn đề khía cạnh hay ở lĩnh vực gì đi chăng nữa thì cũng phải quay về phục vụ thực tiễn Do vậy, kết quả nhận thức phải hướng dẫn chỉ đạo thực tiễn Lý luận, khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vào thực tiễn, cải tạo thực tiễn
4.1.3 Thực tiễn là động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức
Thực tiễn là động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức là thực tiễn cung cấp năng lượng nhiều nhất, nhanh chóng nhất giúp con người nhận thức ngày càng toàn diện và sâu sắc về thế giới Trong quá trình hoạt động thực tiễn làm biến đổi thế giới, con người cũng biến đổi luôn cả bản thân mình, phát triển năng lực thể chất, trí tuệ của mình Nhờ đó, con người ngày càng đi sâu vào nhận thức thế giới, khám phá những bí mật của thế giới, làm phong phú và sâu sắc tri thức của mình về thế giới
4.2 Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
Nhận thức khoa học có tiêu chuẩn riêng, đó là tiêu chuẩn logic nhưng tiêu chuẩn logic không thể thay thế cho tiêu chuẩn thực tiễn và xét đến cùng nó cũng phụ thuộc vào tiêu chuẩn thực tiễn Chúng ta cần phải hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý một cách biện chứng Tiêu chuẩn này vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối
Trang 7Tiêu chuẩn thực tiễn có tính tuyệt đối vì thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan để kiểm nghiệm chân lý Thực tiễn ở mỗi giai đoạn lịch sử có thể xác nhận được chân lý
Tiêu chuẩn thực tiễn có cả tính tương đối vì thực tiễn không đứng nguyên một chỗ mà luôn biến đổi và phát triển Thực tiễn là một quá trình và được thực hiện bởi con người nên không tránh khỏi có cả yếu tố chủ quan
Tiêu chuẩn thực tiễn không cho phép biến những tri thức của con người thành những chân lý tuyệt đích cuối cùng
II SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TRONG LÃNH ĐẠO CÁCH
MẠNG VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Thực trạng
Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan nhà nước ngày càng hoàn thiện Vai trò, chức năng của hệ thống các cơ quan nhà nước ngày càng được hoàn thiện, vai trò lãnh đạo của Đảng không ngừng được nâng lên, hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước được tăng cường; giảm bớt tình trạng bao biện, làm thay, “lấn sân” giữa Đảng và Nhà nước Cơ quan nhà nước ngày càng thực quyền hơn, hiệu quả lãnh đạo của Đảng được nâng lên
rõ rệt, phát huy được vai trò, chức năng quản lý mọi mặt đời sống xã hội
Về phương thức, Đảng lãnh đạo các cơ quan nhà nước thông qua đề ra
những định hướng, nguyên tắc, quan điểm, chủ trương, giải pháp lớn, từ đó các
cơ quan của nhà nước thảo luận, quyết định, cụ thể hoá sự lãnh đạo của Đảng theo chức năng, thẩm quyền của từng cơ quan, đơn vị đã được quy định, Đảng giáo dục, rèn luyện, lựa chọn và giới thiệu được cán bộ, đảng viên có trình độ, năng lực và phẩm chất tốt, có uy tín đối với đảng viên và nhân dân để các cơ quan, tổ chức xem xét, bầu cử, bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, quản lý trong tổ chức bộ máy Nhà nước
Về mặt tổ chức, Đảng đã nhất quán thực hiện có kết quả chủ trương ở đâu
có tổ chức, đoàn thể thì ở đó có tổ chức đảng và ở đâu có quần chúng thì ở đó cần có đảng viên để lãnh đạo nhằm bảo đảm các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng được triển khai đi vào cuộc sống Theo đó, hệ thống tổ chức của Đảng
đã được thành lập tương ứng với cơ cấu tổ chức của các cơ quan nhà nước từ Trung ương tới cơ sở
Đội ngũ cán bộ, đảng viên và lãnh đạo, quản lý các cấp trưởng thành về mọi mặt, đại đa số có ý thức rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức,
Trang 8lối sống, kiên định mục tiêu lý tưởng của Đảng, kiên định chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trung thành với đường lối phát triển đất nước
do Đảng lãnh đạo, có ý thức phục vụ nhân dân, gương mẫu thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, tích cực tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI), nhiều tổ chức đảng trong
cơ quan nhà nước, trong đó có người đứng đầu, đã chủ động, tích cực xây dựng, hoàn chỉnh quy chế làm việc của cấp uỷ, tổ chức đảng (ban cán sự đảng, đảng đoàn) Trong đó, có xác định rõ nguyên tắc, nội dung, phương thức lãnh đạo, xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của tập thể và cá nhân, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu, mối quan hệ giữa người đứng đầu là bí thư ban cán sự đảng, đảng đoàn với tập thể cấp uỷ, với lãnh đạo bộ, hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân cùng cấp
2 Hạn chế
Trong điều kiện một đảng cộng sản duy nhất cầm quyền, lãnh đạo cả nước thực hiện công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế, hội nhập với thế giới, lại mới kết thúc chiến tranh chưa lâu, lý luận và nhận thức về phương thức lãnh đạo của Đảng còn có phần ảnh hưởng từ phương thức lãnh đạo hình thành trong thời kỳ nền kinh tế vận hành theo mô hình kế hoạch, tập trung, quan liêu, bao cấp, mọi nguồn lực đều tập trung cho sự nghiệp đấu tranh, giải phóng đất nước
Quan điểm, nhận thức về phương thức lãnh đạo để chuyển từ nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng thành quyết định quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước tương ứng còn lúng túng Bên cạnh đó, cũng có tình trạng cơ quan nhà nước vì sợ trách nhiệm và để “an toàn” nên đùn đẩy trách nhiệm cho cấp ủy đảng, người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng, hoặc có khi cũng xác định được thẩm quyền, trách nhiệm của mình nhưng vẫn “báo cáo, xin ý kiến lãnh đạo, chỉ đạo” của cấp uỷ, tổ chức đảng để bảo đảm “chắc chắn” và “an toàn”
Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống nhiều nơi chưa được làm đầy đủ, tới nơi tới chốn, sức thuyết phục kém nên không đủ sức động viên đảng viên và nhân dân; một số tổ chức đảng tổ chức học tập, quán triệt, nhất là việc tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng trong hoạt động thực tiễn của cấp ủy, tổ chức đảng chất lượng, hiệu quả còn chưa đạt yêu cầu, thậm chí có nơi làm còn hình thức
Chất lượng hoạt động của tổ chức đảng còn nhiều bất cập: Có nơi thực hiện không đầy đủ, méo mó hoặc làm chiếu lệ những nguyên tắc tổ chức, sinh
Trang 9hoạt cơ bản của Đảng như nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách Một số tổ chức đảng có trọng trách, thẩm quyền thiếu quan tâm sâu sát, chưa thường xuyên, tiến hành kiểm tra, giám sát đối với hoạt động của tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên do mình quản lý nhằm giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng nên không chủ động phát hiện được các vụ việc tiêu cực, bê bối, nhất là tham nhũng liên quan trực tiếp tới cán bộ đảng viên để ngăn chặn, chấn chỉnh hoặc xử lý kịp thời, lại do quần chúng tố giác, báo chí và dư luận xã hội phê phán làm suy giảm uy tín của tổ chức đảng Trong sinh hoạt, tình trạng “ngại nói thật” vì sợ mất lòng là khá phổ biến
Cơ chế phát huy vai trò giám sát của nhân dân và các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể hiệu quả chưa cao
Cũng có tình trạng người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng trong cơ quan nhà nước do chủ nghĩa cá nhân, chuyên quyền, độc đoán, vụ lợi, đã lợi dụng cơ chế tập thể để hợp pháp hoá quyết định, thực hiện ý đồ cá nhân trong quyết định công tác cán bộ (đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyên, điều động, điều chuyển vị trí công tác của cán bộ dưới quyền ), lạm quyền, lộng quyền, tự tung tự tác, bất chấp nguyên tắc, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước để làm trái nhằm trục lợi cho bản thân hoặc người thân trong gia đình theo kiểu
“hậu duệ, quan hệ, tiền tệ thiếu gương mẫu trong việc chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của cơ quan, đơn vị và đời sống sinh hoạt hằng ngày
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta là một Đảng Cộng sản cầm quyền, một mặt phải chống lại các thế lực thù địch đang âm mưu “diễn biến hòa bình”, sử dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo, sử dụng chiêu bài đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, hòng từng bước làm thay đổi chế độ chính trị nhằm từng bước hạn chế, đi đến xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hệ thống chính trị và Nhà nước ta
3 Các giải pháp đề xuất
3.1 Hoàn thiện nhận thức về phương thức lãnh đạo, đồng bộ hóa các
quy định làm nền tảng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước thông qua tổ chức đảng và đảng viên
Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đòi hỏi phải tiếp tục giải quyết tốt sự phân định, mối quan hệ phân công, phối hợp giữa các thiết chế tổ chức, giữa cá nhân và tập thể trong hoạt động lãnh đạo của Đảng và trong điều
Trang 10hành, quản lý của Nhà nước, cần phân biệt thẩm quyền, trách nhiệm giữa người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng với người đứng đầu chính quyền trong quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị và phải được xem là điểm mấu chốt của sự phân định đặc trưng lãnh đạo của Đảng và tổ chức Đảng với đặc trưng điều hành, quản lý của Nhà nước và cơ quan nhà nước
Đối với vấn đề hệ thống tổ chức đảng, tuy bước đầu, các tổ chức đảng đã được thành lập tương ứng với các cơ quan nhà nước nhưng một số mô hình như đảng bộ khối ở cấp Trung ương và cấp tỉnh đã có bộc lộ những bất cập về tổ chức, hoạt động trên thực tiễn phải rà soát, tiến hành nghiên cứu thực tế, nếu cần thiết thì cơ cấu lại mô hình tổ chức, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ các tổ chức này cho phù hợp với thực tế yêu cầu, đòi hỏi bảo đảm sự thiết thực
Hoàn thiện quy chế hoạt động của cấp uỷ, ban cán sự đảng, đảng viên trong các cơ quan nhà nước, quy chế phối hợp giữa ban cán sự đảng, đảng đoàn với cấp uỷ cơ quan
3.2 Đổi mới hoạt động của tổ chức đảng trong cơ quan nhà nước
Đây là hoạt động có vai trò tác dụng to lớn đối với năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảm bảo cho tổ chức đảng và mỗi đảng viên thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của mình do cần phải lãnh đạo mọi vấn đề liên quan đến thực hiện nhiệm vụ sao cho sát hợp với đường lối, quan điểm của Đảng, sát với thực tế, làm cho các mặt công tác đạt hiệu quả cao là kênh nhận diện các vấn đề phát sinh trong tổ chức Đảng và đề ra biện pháp giải quyết được kịp thời
Tránh khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò lãnh đạo của Đảng cũng như khuynh hướng hạ thấp vai trò lãnh đạo của Ðảng trong quản lý hành chính nhà nước mà phải kết hợp hoạt động lãnh đạo của Đảng với quản lý của nhà nước Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong hoạt động của cơ quan nhà nước thông qua hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên Nếu cần thiết thì bằng sức mạnh của tổ chức, bằng kỷ cương, kỷ luật của Đảng gắn với kỷ luật hành chính
để bảo đảm mọi tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật