Giáo trình Quản trị doanh nghiệp (Nghề: Kế toán doanh nghiệp - Cao đẳng) được biên soạn nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về phương pháp luận và nghiệp vụ quản trị doanh nghiệp phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta. Giáo trình kết cấu gồm 5 chương và chia thành 2 phần, phần 1 trình bày những nội dung về: doanh nghiệp và tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp; lập kế hoạch, chiến lược trong quản trị doanh nghiệp; quản trị nhân sự, khoa học công nghệ trong doanh nghiệp;... Mời các bạn cùng tham khảo!
DOANH NGHIỆP VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
Vai trò của kinh doanh
Kinh doanh là một quá trình đầu tư liên quan đến một, một số hoặc toàn bộ các công đoạn của chu trình từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ trên thị trường, nhằm mục đích thu lợi nhuận và đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
Kinh doanh, hiểu theo nghĩa rộng nhất, là khái niệm chỉ tất cả các tổ chức và hoạt động nhằm sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ thiết yếu cho cuộc sống hàng ngày của con người Khái niệm này bao gồm quá trình tổ chức nguồn lực, quản lý chuỗi cung ứng và thực hiện các hoạt động thương mại nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội một cách hiệu quả Vai trò của kinh doanh nằm ở việc tạo ra giá trị, cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người tiêu dùng, tạo công ăn việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện mức sống, đồng thời đóng góp vào sự đổi mới và phát triển bền vững của cộng đồng.
Các tổ chức kinh doanh sản xuất hàng hóa và cung cấp các loại dịch vụ với mục tiêu thu được lợi nhuận Nhờ lợi nhuận này, họ có thể mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động sản xuất, kinh doanh, đồng thời đẩy mạnh đầu tư và cải tiến quy trình để tăng sức cạnh tranh và phát triển bền vững.
Để đạt được mục tiêu này, doanh nghiệp cần sản xuất các loại hàng hóa và dịch vụ đáp ứng đúng nhu cầu và mong muốn của khách hàng Việc nắm bắt xu hướng thị trường, cải tiến sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ giúp khách hàng hài lòng, tăng khả năng cạnh tranh và đẩy mạnh doanh thu.
Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đảm bảo hàng hóa được bán với giá phải chăng và chất lượng thích hợp hơn.
Bản chất của hệ thống kinh doanh
Kinh doanh là một hệ thống tổng thể gồm các hệ thống cấp dưới là các ngành kinh doanh Mỗi ngành kinh doanh được hình thành từ nhiều công ty với quy mô khác nhau và hoạt động sản xuất đa dạng các loại sản phẩm Sự đa dạng này tạo nên chuỗi giá trị phong phú và thể hiện sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành và các doanh nghiệp trong hệ sinh thái kinh doanh của nền kinh tế.
Doanh nghiệp là một tổ chức chặt chẽ, mang tính hệ thống rõ rệt
- Tổ chức sản xuất, chế biến
- Quản lý điều hành DN biến đổi các nhập lượng
Sự cần thiết của hoạt động kinh doanh
- Hoạt động kinh doanh nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người
- Giúp con người tìm ra phương thức tồn tại và phát triển trong xã hội
Sự thay đổi của hoạt động kinh doanh được thúc đẩy bởi sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự ra đời của các phương tiện máy móc tiến bộ Nhờ đó, hoạt động kinh doanh không còn bị giới hạn trong phạm vi biên giới của từng quốc gia mà mở rộng ra quy mô toàn cầu và hình thành các công ty đa quốc gia, công ty xuyên quốc gia.
Các hình thức của hoạt động kinh doanh
Hoạt động kinh doanh có phạm vi rất lớn, về cơ bản nó bao gồm 3 lĩnh vực: sản xuất, phân phối và tiêu thụ
1.4.1 Sản xuất và các yếu tố sản xuất
- Sản xuất bao hàm bất kỳ hoạt động nào nhằm thỏa mãn nhu cầu con người
Sản xuất bậc 1 (hay sản xuất sơ chế) là hình thức sản xuất ở giai đoạn đầu của chuỗi giá trị, dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên hoặc các hoạt động sử dụng nguồn tài nguyên sẵn có còn ở dạng tự nhiên Đây là mức gia công tối thiểu, tập trung biến đổi tài nguyên ở mức độ thấp trước khi được chế biến sâu hơn ở các cấp sản xuất tiếp theo.
+ Sản xuất bậc 2 (Hay công nghiệp chế tạo): Là hình thức sản xuất hay chế tạo, chế biến các loại tài nguyên hay tài nguyên thành hàng hóa
+ Sản xuất bậc 3 (Hay còn gọi là dịch vụ): dịch vụ vận chuyển hàng hóa, bốc dỡ, viễn thông, ngân hàng, tài chính, khách sạn, nhà hàng…
- Các yếu tố sản xuất: Nguyên liệu, lao động, vốn, đội ngũ các nhà kinh doanh b Phân phối sản phẩm:
Phân phối sản phẩm là quá trình đưa hàng hóa và dịch vụ từ nhà sản xuất tới người tiêu dùng, trong đó vận chuyển nguyên vật liệu từ các nhà cung cấp đến tận dây chuyền sản xuất được xem là khâu then chốt của chuỗi cung ứng Quá trình này đảm bảo luồng hàng hóa được kết nối thông suốt giữa nguồn cung và thị trường, tối ưu hóa thời gian giao hàng và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.
Một hệ thống phân phối tốt sẽ mở rộng thị trường tiêu thụ cho sản phẩm bằng cách tiếp cận khách hàng ở nhiều kênh và khu vực khác nhau, từ đó tăng khả năng nhận diện thương hiệu và doanh số Tiêu thụ sản phẩm được duy trì ở mức mạnh khi sức mua của người tiêu dùng ở mức cần thiết hoặc được cải thiện, nhờ cung cấp hàng hóa đầy đủ, vận chuyển nhanh chóng và quản lý tồn kho hiệu quả Do đó, tối ưu hóa hệ thống phân phối không chỉ mở rộng phạm vi tiếp cận mà còn đảm bảo sự ổn định của tiêu thụ và thúc đẩy tăng trưởng bán hàng.
Thành công của nhà sản xuất được thể hiện qua khối lượng hàng hóa và dịch vụ bán ra trên thị trường Để duy trì mức tiêu thụ mạnh, nhà sản xuất cần người mua có sức mua đủ lớn, yếu tố này phụ thuộc vào mức thu nhập và cách thức tiêu dùng của người tiêu dùng.
Các loại tổ chức kinh doanh
Chúng ta có thể phân tổ chức kinh doanh thành nhiều khu vực chức năng nhằm tối ưu hóa quy trình vận hành Ba khu vực chính được xác định là khu vực sản xuất sơ chế cho công đoạn chuẩn bị nguyên liệu, khu vực chế tạo để gia công và lắp ráp, và khu vực dịch vụ chăm sóc khách hàng sau bán hàng Việc phân chia này giúp tăng hiệu quả sản xuất, cải thiện chất lượng sản phẩm và nâng cao trải nghiệm khách hàng.
- Khu vực sơ chế: bao gồm sản xuất nông nghiệp, nghề cá và khai thác mỏ
- Khu vực chế tạo sản xuất: Có các ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa: như công nghiệp thức ăn, đồ uống, giày dép…
- Khu vực dịch vụ: Bao gồm vận tải, viễn thông, các tiện ích công cộng bán buôn và bán lẻ…
Những đặc điểm của một hệ thống kinh doanh
a Sự phức tạp và tính đa dạng
Hệ thống kinh doanh hiện đại là một cấu trúc phức tạp gồm nhiều khu vực khác nhau Mỗi khu vực được hình thành từ nhiều ngành, và mỗi ngành lại bao gồm số lượng tổ chức kinh doanh riêng biệt Sự phân tầng này tạo thành một mạng lưới hoạt động đa dạng, linh hoạt và thích ứng nhanh với thay đổi của thị trường.
Các tổ chức kinh doanh luôn thay đổi trong phạm vi giới hạn hình thức sở hữu, quy mô kinh doanh, cơ cấu vốn, phong cách quản trị và phạm vi hoạt động, cho thấy sự linh hoạt và thích ứng với bối cảnh thị trường Đồng thời, các yếu tố này phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các tổ chức trong hệ sinh thái kinh doanh, khi hoạt động của một đơn vị tác động đến các đơn vị khác và ngược lại.
Trong bối cảnh kinh doanh hiện đại, các tổ chức hợp tác và phụ thuộc lẫn nhau tạo thành một hệ thống kinh doanh riêng, bao quát cách thức hoạt động và giá trị chung Để duy trì sự cạnh tranh và thành công, doanh nghiệp phải nhận diện và đáp ứng kịp thời những thay đổi về thị hiếu và nhu cầu của người tiêu dùng Tiến bộ công nghệ khiến nhiều sản phẩm nhanh chóng trở nên lỗi thời và bị thay thế, do đó sự thay đổi và đổi mới liên tục là đặc trưng quan trọng của hệ thống kinh doanh hiện đại.
2 Doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp
Khái niệm doanh nghiệp
Theo luật doanh nghiệp năm 2014 quy định:
Doanh nghiệp (DN) là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản và trụ sở giao dịch ổn định DN được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Từ khái niệm trên chúng ta có thể rút ra những đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp như sau:
Chức năng sản xuất và chức năng kinh doanh của doanh nghiệp là hai yếu tố không thể tách rời nhau; chúng liên kết chặt chẽ với nhau và hình thành một chu trình khép kín trong mọi hoạt động của doanh nghiệp, từ lập kế hoạch sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, qua đó đảm bảo sự đồng bộ, tối ưu nguồn lực và hướng tới tăng trưởng bền vững.
- Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người và xã hội
Doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, tập hợp các phương tiện kinh tế, tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ Đây là một tổ chức được thành lập và vận hành nhằm tạo giá trị, tối ưu hóa nguồn lực và đáp ứng nhu cầu của thị trường, đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật và xã hội.
- Doanh nghiệp là một tổ chức sống trong một thể sống (nền kinh tế) gắn liền với địa phương nơi nó tồn tại.
Khái niệm quản trị doanh nghiệp
Kinh doanh là quá trình thực hiện một hoặc nhiều công đoạn từ sản xuất đến tiêu thụ hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời và tối ưu hóa giá trị cho khách hàng Hoạt động này bao gồm quản lý chuỗi cung ứng, sản xuất, tiếp thị, bán hàng và chăm sóc sau bán hàng để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng và tạo doanh thu bền vững Một mô hình kinh doanh hiệu quả chú trọng tối ưu chi phí, gia tăng lợi nhuận và nâng cao trải nghiệm khách hàng, đồng thời cạnh tranh trên thị trường bằng chất lượng sản phẩm, dịch vụ và sự đổi mới liên tục Tổng thể, mục tiêu của kinh doanh là kết nối cung với cầu, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp và khách hàng và góp phần vào tăng trưởng kinh tế.
Quản trị là quá trình thực hiện các tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm điều phối và phối hợp hoạt động của các cá nhân và tập thể để đạt được các mục tiêu mà tổ chức đề ra.
Quản trị là quá trình phối hợp làm việc với và thông qua mọi người để thực hiện các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường luôn biến động Để quản trị hiệu quả, cần xây dựng sự gắn kết giữa các thành viên, giao tiếp rõ ràng và phân bổ nguồn lực phù hợp với hoàn cảnh thay đổi liên tục Quản trị không chỉ là điều hành công việc mà còn là dẫn dắt đội ngũ, thích nghi với sự biến động và tạo động lực để đạt hiệu suất cao nhất cho tổ chức.
Quản trị là quá trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra hoạt động của các thành viên trong tổ chức, nhằm tối ưu hóa nguồn lực và đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp Bản chất của quản trị là kết nối các yếu tố như nhân sự, tài chính, công nghệ và quy trình để diễn ra một cách trơn tru và hiệu quả Quản trị viên chịu trách nhiệm ra quyết định, phân bổ nguồn lực, giám sát tiến độ và điều chỉnh chiến lược để đảm bảo sự thành công của tổ chức trước các thách thức và cơ hội thị trường Mục tiêu của quản trị là nâng cao hiệu suất, gia tăng giá trị và duy trì sự cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp.
Quản trị doanh nghiệp là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, phối hợp và điều chỉnh các hoạt động của các thành viên, bộ phận và chức năng trong doanh nghiệp nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực để đạt được các mục tiêu do tổ chức đề ra Quản trị hiệu quả giúp tối ưu hoá nguồn lực, nâng cao hiệu suất và đảm bảo sự phù hợp giữa mục tiêu và các hoạt động ở mọi cấp độ của doanh nghiệp.
Quản trị doanh nghiệp (QTDN) là quá trình quản trị nhằm làm việc với và thông qua con người để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp trong môi trường luôn thay đổi, tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực có hạn Đồng thời, QTDN thể hiện là sự lãnh đạo dựa trên hoạch định, tổ chức nhân sự, điều hành và kiểm tra công việc để đạt được các mục tiêu kinh doanh đã đề ra.
Quản trị doanh nghiệp nhằm tập hợp mọi người lao động để họ hoạt động thống nhất theo mục tiêu chung, từ đó bảo đảm quá trình sản xuất – kinh doanh đạt kết quả cao dựa trên khai thác và phối hợp có hiệu quả các yếu tố con người, vật chất và kỹ thuật khác nhau trong quá trình lao động.
DN có một số đặc trưng đó là:
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế hợp pháp, tham gia vào hoạt động sản xuất hàng hoá và/hoặc cung cấp các loại dịch vụ Mục tiêu chính của doanh nghiệp là thu được lợi nhuận và mở rộng quy mô, phạm vi hoạt động sản xuất và kinh doanh Nhờ đó, doanh nghiệp tăng trưởng bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh và đóng góp vào sự phát triển của thị trường.
Doanh nghiệp (DN) là một chủ thể kinh doanh có quy mô đủ lớn, nghĩa là quy mô của DN phải vượt xa quy mô của các hình thức KD cá thể và hộ kinh doanh Quy mô lớn được thể hiện qua nguồn lực tài chính, đội ngũ nhân sự, quy trình vận hành và phạm vi hoạt động rộng, cho phép DN tham gia vào thị trường ở mức độ cạnh tranh cao hơn và thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh với quy mô kinh tế lớn.
- DN là một tổ chức sống, theo nghĩa nó cũng có vòng đời với các bước thăng trầm, những quy luật về phát triển và diệt vong
- Bản chất của DN: như đã trình bày ở trên là một hệ thống sản xuất hàng hoá và dịch vụ để thoả mãn như cầu của xã hội
Dưới áp lực cạnh tranh, các nhà sản xuất buộc phải tối ưu hóa việc sử dụng các yếu tố đầu vào—nguyên liệu, thiết bị và lao động—để sản xuất với chất lượng tốt hơn và sản lượng cao hơn Việc tối ưu hóa nguồn lực giúp giảm chi phí, tăng doanh thu và nâng cao lợi nhuận, từ đó tăng sức cạnh tranh trên thị trường Mục tiêu là phục vụ và đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của xã hội, đồng thời hướng tới sự bền vững cho doanh nghiệp và nền kinh tế.
Các hình thức tổ chức quản trị doanh nghiệp theo qui định của pháp luật
Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2014, về tính chất pháp lý của doanh nghiệp, các loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất hiện nay là Doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty cổ phần và công ty hợp danh.
Luật này cũng quy định rõ tính chất, trách nhiệm, cơ chế hoạt động, cơ cấu tổ chức của từng loại hình khác nhau:
Doanh nghiệp tư nhân là một hình thức doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Người chủ sở hữu có quyền điều hành và quyết định mọi hoạt động kinh doanh, đồng thời chịu trách nhiệm trước các nghĩa vụ tài chính bằng tài sản cá nhân Đây là mô hình mang lại sự linh hoạt và tốc độ ra quyết định nhanh chóng, nhưng đi kèm với mức độ rủi ro tài chính cao hơn do trách nhiệm bằng tài sản cá nhân.
Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân
Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh
Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp đơn giản và gọn nhẹ nhất, phù hợp khi bạn tự bỏ vốn và kinh doanh trên thị trường nhỏ Do chế độ chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản, doanh nghiệp tư nhân tạo sự tin tưởng cao cho khách hàng so với các loại hình khác Mặc dù các ngành nghề được quy định giống nhau giữa các loại hình, theo kinh nghiệm của chúng tôi, các ngành nghề được khách hàng lựa chọn nhiều khi thành lập doanh nghiệp tư nhân gồm dịch vụ cà phê và nước giải khát, dịch vụ ăn uống, bán buôn và bán lẻ vật liệu xây dựng, bán tạp hóa, bán văn phòng phẩm, quà lưu niệm, và bán buôn, bán lẻ thực phẩm.
2.3.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn a Công ty TNHH một thành viên
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn điều lệ.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phần
Không được giảm vốn điều lệ là đặc điểm nổi bật của loại hình doanh nghiệp này ở Việt Nam, nhờ cơ cấu tổ chức gọn nhẹ và đơn giản, nơi chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn điều lệ đã đăng ký của công ty Chủ sở hữu có thể là cá nhân hoặc tổ chức và có thể thuê giám đốc hoặc tổng giám đốc làm người đại diện theo pháp luật Loại hình này phổ biến với rất nhiều ngành nghề kinh doanh và phù hợp cho các tổ chức muốn thành lập công ty với sự quản lý linh hoạt và hạn chế trách nhiệm tài sản cá nhân.
Đối với cá nhân có đủ năng lực tài chính, thành lập công ty con được xem là loại hình kinh doanh phù hợp nhất vì nó cho phép mở rộng quy mô, tối ưu hóa quản trị và tận dụng lợi thế pháp lý của tập đoàn; ngoài ra, một lựa chọn khác là thành lập Công ty TNHH hai thành viên trở lên, nhằm đảm bảo sự bình đẳng về góp vốn và hạn chế trách nhiệm cho các thành viên khi xây dựng cấu trúc kinh doanh.
Công ty trách nhiệm hữu hạn là một loại doanh nghiệp có hai thành viên, có thể là tổ chức hoặc cá nhân, và tổng số thành viên không vượt quá năm mươi Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn cam kết góp vào doanh nghiệp Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các điều 43, 44 và 45 của Luật này.
Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phần
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có hội đồng thành viên, chủ tịch hội đồng thành viên, giám đốc hoặc tổng giám đốc; được quyền chuyển nhượng phần vốn góp và thay đổi thành viên góp vốn Đây là loại hình phổ biến nhất ở Việt Nam hiện nay, phù hợp với mọi quy mô và lĩnh vực kinh doanh Nếu bạn muốn hùn vốn với cá nhân hoặc tổ chức để kinh doanh, đây là sự lựa chọn thích hợp.
Công ty cổ phần là một loại doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia thành cổ phần bằng nhau; cổ phần do các cổ đông nắm giữ có thể là tổ chức hoặc cá nhân Số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không giới hạn số lượng tối đa Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn đã góp vào công ty Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này.
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại nhằm huy động vốn, đồng thời vận hành doanh nghiệp thông qua Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.
Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty, được quy định tại Điều lệ công ty Vai trò này cho phép người được ủy quyền đại diện công ty trước pháp luật, ký kết hợp đồng và thực hiện các giao dịch theo đúng quy định trong Điều lệ Việc xác định rõ người đại diện theo pháp luật theo Điều lệ công ty giúp tăng tính minh bạch, đảm bảo tuân thủ pháp lý và thuận tiện cho hoạt động kinh doanh của công ty.
Nếu bạn muốn thành lập một công ty có ít nhất 3 cá nhân hoặc tổ chức tham gia, công ty cổ phần là hình thức phù hợp nhất Đây là lựa chọn phổ biến của nhiều doanh nghiệp lớn, đặc biệt trong các ngành đòi hỏi vốn, kinh nghiệm quản lý và uy tín cao như bất động sản, khách sạn và du lịch Với công ty cổ phần, vốn được huy động từ nhiều cổ đông, quyền quản lý và lợi nhuận được phân chia rõ ràng, đồng thời dễ tiếp cận các nguồn vốn từ bên ngoài để mở rộng quy mô.
15 lịch… Tuy nhiên nó phù hợp cho tất cả các ngành nghề kinh doanh pháp luật Việt Nam cho phép
2.3.4 Các tổ chức kinh tế khu vực nhà nước a Khái niệm: Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nước giao b Đặc trưng cơ bản của DNNN
- DNNN là một pháp nhân do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý
- DNNN có thẩm quyền kinh tế bình đẳng với các DN khác và hạch toán kinh tế độc lập trong phạm vi vốn do DN quản lý
- DNNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, được giao chức năng kinh doanh và chức năng hoạt động công ích
- DNNN có tru sở đặt tại lãnh thổ Việt Nam c Phân loại DNNN
- Phân theo mục đích hoạt động
+ DN hoạt động kinh doanh: là DNNN hoạt động chủ yếu nhằm mục đích lợi nhuận
+ DN hoạt động công ích: Môi trường, vệ sinh đô thị, an ninh quốc phòng…
- Phân theo qui mô và hình thức của DN:
- Phân theo hình thức tổ chức và quản lý DN
+ DNNN không có hoạt động quản trị
2.3.5 Các loại hình tổ chức kinh doanh khác a Công ty hợp danh
Khái niệm: Công ty hợp danh là loại hình doanh nghiệp có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên gọi chung Ngoài các thành viên hợp danh, công ty còn có các thành viên góp vốn tham gia vốn điều lệ.
+ Thành viên hợp danh là cá nhân, chịu trách nhiệm vô hạn
+ Thành viên góp vốn chịu trách nhiệm hữu hạn
+ Có tư cách pháp nhân
+ Không được pháp hành bất cứ loại chứng khoán nào b Hợp tác xã
HTX, hay hợp tác xã, là một hình thức kinh tế tập thể do người lao động và các tổ chức có nhu cầu và lợi ích chung tự nguyện góp vốn và góp sức thành lập theo quy định của pháp luật Mục tiêu của HTX là phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên, đồng thời hỗ trợ lẫn nhau để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội Qua đó, HTX tạo ra môi trường hợp tác bình đẳng và bền vững, đảm bảo quyền lợi của xã viên và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
16 thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống góp phần phát triển kinh tế xã hội
+ HTX vừa là tổ chức kinh tế vừa là tổ chức xã hội
+ HTX tổ chức hoạt động theo các nguyên tắc nhất định
Cơ cấu tổ chức quản trị doanh nghiệp
3.1 Các yêu cầu chủ yếu
Cơ cấu tổ chức quản trị doanh nghiệp là hệ thống các bộ phận được sắp xếp theo cấp quản lý, có mối quan hệ phụ thuộc và phối hợp chặt chẽ với nhau nhằm thực hiện các chức năng quản trị và đạt được mục tiêu của doanh nghiệp Mỗi đơn vị được chuyên môn hóa, đảm nhận trách nhiệm và quyền hạn nhất định, và được bố trí theo trình tự nhằm đảm bảo sự thông suốt trong quá trình ra quyết định và triển khai thực thi Cấu trúc này hỗ trợ quản trị chiến lược, quản trị vận hành và quản trị rủi ro, đồng thời tăng cường tính đồng bộ giữa các hoạt động và nâng cao hiệu quả quản lý doanh nghiệp.
Trong phạm vi từng doanh nghiệp một bộ máy quản trị phải đáp ứng được các nhu cầu chủ yếu sau:
- Phải đảm bảo hoàn thành những nhiệm vụ của doanh nghiệp, thực hiện đầy đủ toàn diện các chức năng quản lý doanh nghiệp
Thực hiện nghiêm chế độ một thủ trưởng và chế độ trách nhiệm cá nhân trên cơ sở đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của tập thể lao động trong doanh nghiệp, nhằm tăng cường kỷ luật quản trị và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Sự kết hợp giữa lãnh đạo tập trung và sự tham gia quản lý của người lao động giúp phân công trách nhiệm rõ ràng, khuyến khích sáng tạo và đảm bảo quyền lợi, phúc lợi cho người lao động Mỗi cá nhân chịu trách nhiệm trước tập thể và trước pháp luật về kết quả công việc, tạo dựng môi trường làm việc dân chủ, minh bạch và bền vững cho doanh nghiệp.
- Phải phù hợp với qui mô sản xuất, thích ứng với những đặc điểm kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp
- Phải đảm bảo yêu cầu vừa tinh giản vừa vững mạnh trong bộ máy quản lý
3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức doanh nghiệp
3.2.1 Các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị chi phối bởi các nhân tố nội tại và bên ngoài Mối quan hệ này được hiểu là sự tương tác giữa hệ thống con (doanh nghiệp) và hệ thống lớn (môi trường), nơi các yếu tố kinh tế, xã hội, công nghệ và pháp lý tác động đến chiến lược, vận hành và hiệu quả của doanh nghiệp.
3.2.2 Mục đích, tính năng và nhiệm vụ kinh doanh của doanh nghiệp
- Mục đích, chức năng hoạt động của doanh nghiệp của doanh nghiệp qui định cơ cấu tổ chức bộ máy
Nhiệm vụ sản xuất (cung cấp dịch vụ) có ảnh hưởng lớn đến cơ cấu sản xuất của doanh nghiệp, từ đó tác động tới cơ cấu bộ máy quản trị, các cấp, các phòng ban và mối quan hệ giữa chúng Việc xác định rõ phạm vi và chức năng của sản xuất giúp tối ưu hóa tổ chức và tăng tính liên kết giữa các đơn vị quản trị, nâng cao hiệu quả điều hành Vì vậy, mọi sự điều chỉnh liên quan đến nhiệm vụ sản xuất đều phải cân nhắc tác động đến cấu trúc tổ chức và cơ chế phối hợp giữa các phòng ban để đảm bảo hoạt động của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao.
3.2.3 Qui mô và sự phân bố không gian của doanh nghiệp
Quy mô doanh nghiệp càng lớn và không gian làm việc càng rộng thì cấu trúc tổ chức càng phức tạp Khi cơ cấu tổ chức có nhiều cấp và nhiều bộ phận, mối quan hệ giữa các cấp, giữa các bộ phận và hệ thống thông tin cũng trở nên phức tạp hơn Vì vậy, quản trị và tối ưu hóa cấu trúc tổ chức cùng hệ thống thông tin là yếu tố then chốt để đảm bảo hoạt động hiệu quả, đồng bộ và đáp ứng mục tiêu phát triển của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp có qui mô nhỏ, phân bố tập trung thì ngược lại
3.2.4 Yếu tố kỹ thuật Đây là cơ sở xây dựng cơ cấu sản xuất, sẽ ảnh hưởng đến lựa chọn cơ cấu tổ chức bộ máy của doanh nghiệp
Yếu tố này bao hàm chủng loại và kết cấu sản phẩm, công nghệ chế tạo sản phẩm và loại hình sản xuất
3.2.5 Trình độ đội ngũ các nhà quản trị và trang thiết bị quản trị Đội ngũ các nhà quản trị có trình độ cao thì các nhiệm vụ quản trị giải quyết dễ dàng hơn với năng suất cao hơn, cũng ảnh hưởng trực tiếp đến cách thức tổ chức ở các cấp các bộ phận
Trang thiết bị quản trị giúp các nhà quản trị nâng cao năng suất lao động cũng như chất lượng công việc
3.2.6 Hình thức pháp lý của doanh nghiệp
Hình thức pháp lý đòi hỏi một số loại hình doanh nghiệp phải tuân thủ các qui định nhất định trong cơ chế bộ máy quản trị
Trong các đơn vị nhà nước, việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy quản trị đặt ra yêu cầu giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa tổ chức Đảng, bộ máy quản trị doanh nghiệp và tổ chức công đoàn Sự cân bằng và hài hòa giữa Đảng ủy, lãnh đạo quản trị và công đoàn là nền tảng để nâng cao hiệu quả quản trị, đảm bảo thực thi đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước Khi mối quan hệ này được củng cố, quy trình quản trị được tối ưu, quyền lợi và vai trò của người lao động được bảo đảm, và sự đồng thuận trong đơn vị được tăng cường.
3.3 Các hệ thống tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp
Tổ chức là quá trình sắp xếp và bố trí công việc, giao quyền hạn và phân phối nguồn lực của doanh nghiệp sao cho các yếu tố này đóng góp một cách tích cực và hiệu quả vào mục tiêu chung Quá trình này giúp công việc được phân công rõ ràng, quyền quyết định được trao cho đúng người, và nguồn lực được sử dụng tối ưu để tăng cường sự phối hợp và năng suất làm việc Nhờ tổ chức hiệu quả, doanh nghiệp có thể đạt được các mục tiêu chiến lược và tối ưu hóa hiệu quả vận hành, góp phần vào sự phát triển bền vững.
Công tác tổ chức gồm có 2 nội dung cơ bản:
- Tổ chức cơ cấu: tổ chức cơ cấu quản lý (chủ thể quản lý) và tổ chức cơ cấu sản xuất – kinh doanh (đối tượng bị quản lý);
- Tổ chức quá trình: tổ chức quá trình quản trị và tổ chức quá trình sản xuất – kinh doanh;
Tổ chức có nội dung rất rộng liên quan đến công tác xây dựng doanh nghiệp, từ việc thiết kế và tổ chức bộ máy quản lý cho tới việc bố trí các cấp quản lý, phòng ban chức năng và phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của từng đơn vị cũng như của mỗi cá nhân Quản trị doanh nghiệp hiệu quả đòi hỏi xác định số cấp quản lý phù hợp, xây dựng hệ thống sản xuất chuẩn hóa và các quy trình vận hành nhằm tối ưu hóa nguồn lực và tăng năng suất Việc phân bổ chức năng và trách nhiệm giữa các phòng ban, cùng với thiết lập các chỉ tiêu đánh giá hiệu suất, giúp doanh nghiệp vận hành linh hoạt và đạt được mục tiêu chiến lược Tất cả những yếu tố này hình thành cấu trúc tổ chức và hệ thống quản lý doanh nghiệp có khả năng thích ứng với thay đổi thị trường và nhu cầu của khách hàng.
18 kinh doanh (có những bộ phận sản xuất kinh doanh nào, phân công chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận )
Cơ cấu bộ máy là quá trình phân chia hệ thống quản lý thành các bộ phận chức năng và xác định mối quan hệ giữa chúng Điều này đồng thời đòi hỏi làm rõ chức năng, quyền hạn và nhiệm vụ của từng bộ phận trong bộ máy để bảo đảm sự phối hợp nhịp nhàng và hiệu quả hoạt động Quá trình này cũng bao gồm lựa chọn và bố trí cán bộ vào các vị trí phụ trách các bộ phận tương ứng, nhằm tối ưu nguồn lực và nâng cao hiệu quả thực thi công việc.
Tổ chức cơ cấu bộ máy gồm có các nội dung sau:
+ Xác định những hoạt động cần thiết để đạt được các mục tiêu chung của tổ chức
+ Nhóm gộp các hoạt động này thành các phòng ban hoặc các bộ phận
+ Giao cho một người quản lý một phòng ban hoặc một bộ phận
+ Giao quyền hạn, trách nhiệm để thực hiện các hoạt động
+ Qui định các mối quan hệ theo chiều dọc và ngang bên trong tổ chức
Trong công tác tổ chức, đội ngũ cán bộ cần có trình độ chuyên môn vững vàng, kinh nghiệm thực tiễn dày dặn và những phẩm chất thiết yếu để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao Việc tuyển dụng, đào tạo và phân công công tác phải đảm bảo sự phù hợp giữa năng lực và yêu cầu công việc, từ đó tăng cường sự phối hợp nhịp nhàng và hiệu quả làm việc Đầu tư vào phát triển nguồn lực, nâng cao trình độ, rèn luyện kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp sẽ giúp tổ chức đạt được mục tiêu đã đề ra.
Một trong những nhiệm vụ của công tác tổ chức là xác định biên chế Xác định biên chế bao gồm việc bổ nhiệm và duy trì các chức vụ đó bổ nhiệm theo yêu cầu đặt ra bởi cơ cấu tổ chức, nó gắn liền với việc đặt ra những yêu cầu cần làm cho một công việc hoặc nghề nghiệp, và nó bao gồm cả việc tuyển chọn những người đảm nhận các chức vụ
Bộ máy quản trị doanh nghiệp được thiết lập ra không phải do mục đích tự thân mà để thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khi xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp, cần tính đến những nhân tố ảnh hưởng sau:
- Môi trường hoạt động sản xuất kinh doanh
- Mục đích, chức năng hoạt động của doanh nghiệp
- Qui mô của doanh nghiệp
- Các yếu tố về kỹ thuật, công nghệ sản xuất
- Trình độ của người quản lý, nhân viên và trang thiết bị quản lý
- Một số yếu tố khác: các qui định của pháp luật, phạm vị hoạt động của doanh nghiệp, thị trường của doanh nghiệp
3.3.2 Một số cơ cấu tổ chức quản trị doanh nghiệp a Hệ thống quản trị không ổn định
Đây là loại hình cơ cấu tổ chức không có mô hình cố định, phù hợp với các doanh nghiệp quy mô nhỏ, mới thành lập và ít nhân viên, nơi chủ doanh nghiệp trực tiếp điều khiển hệ thống nhân sự Cấu trúc này mang lại sự linh hoạt và nhanh nhạy trong quản lý, giúp rút ngắn thời gian ra quyết định và giảm chi phí vận hành ở giai đoạn đầu Bên cạnh đó, cơ cấu quản trị trực tuyến (b Cơ cấu quản trị trực tuyến) cũng được xem là một lựa chọn thay thế để quản lý từ xa và tối ưu hóa nguồn lực khi làm việc ở nhiều địa điểm.
Cơ cấu quản lý trực tuyến là một kiểu tổ chức bộ máy mà một cấp quản lý chỉ nhận mệnh lệnh từ cấp trên trực tiếp, hình thành một đường thẳng rõ ràng về quyền ra lệnh và trách nhiệm từ lãnh đạo cấp cao đến cấp dưới cuối cùng Cấu trúc này giúp mô hình hóa dòng quyết định và phân bổ nhiệm vụ một cách nhất quán giữa các cấp, đồng thời đòi hỏi người quản trị ở mỗi cấp có hiểu biết tương đối toàn diện về các lĩnh vực liên quan để đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng và hiệu quả hoạt động.
Sơ đồ 1: Mô hình cơ cấu kiểu trực tuyến
LẬP CHIẾN LƯỢC, KẾ HOẠCH TRONG QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
Vai trò của lập chiến lược
Lập chiến lược là quá trình xác định sứ mệnh của doanh nghiệp, đề ra những mục tiêu rõ ràng và xây dựng chiến lược phù hợp để doanh nghiệp hoạt động hiệu quả trong môi trường kinh doanh cụ thể Quá trình này giúp định hướng nguồn lực, tối ưu hóa hoạt động và nâng cao khả năng cạnh tranh bằng cách liên kết sứ mệnh, mục tiêu và hành động thực thi Việc xác định sứ mệnh và mục tiêu rõ ràng làm cơ sở để đo lường tiến độ, điều chỉnh chiến lược theo diễn biến thị trường và đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Chiến lược là tập hợp các quyết định và hành động được thiết kế nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức Nó kết nối năng lực và nguồn lực nội tại với cơ hội và thách thức từ môi trường bên ngoài, giúp tổ chức phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả và nâng cao khả năng cạnh tranh Việc xây dựng chiến lược bắt đầu từ phân tích bối cảnh thị trường, xác định mục tiêu rõ ràng và ưu tiên các hành động then chốt, rồi triển khai kế hoạch và theo dõi tiến độ để điều chỉnh khi cần.
- Giúp cho doanh nghiệp nắm bắt được các cơ hội của thị trường và tạo được lợi thế cạnh tranh
- Giúp cho doanh nghiệp thấy rõ mục đích, hướng đích của mình
- Giúp doanh nghiệp tận dụng tốt cơ hội và giảm bớt nguy cơ liên quan đến điều kiện môi trường kinh doanh
- Giúp doanh nghiệp giảm bớt rủi ro và tăng cường khả năng tận dụng các cơ hội kinh doanh
1.1.3 Nội dung của chiến lược kinh doanh
- Mục tiêu của doanh nghiệp
- Kế hoạch cụ thể, hành động cụ thể nhằm cụ thể chiến lược dài hạn
- Các chính sách, phương án để sử dụng hiệu quả nguồn lực sẵn có.
Các cấp chiến lược
1.2.1 Chiến lược cấp doanh nghiệp
Đây là chiến lược trả lời cho câu hỏi doanh nghiệp sẽ nằm trong những ngành kinh doanh nào, đồng thời xác định vị trí của doanh nghiệp đối với môi trường và vai trò của từng ngành trong tổng thể hoạt động Việc phân tích ngành kinh doanh giúp nhận diện cơ hội và thách thức, từ đó chọn ra các lĩnh vực phù hợp với nguồn lực, mục tiêu tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh Bằng cách đánh giá môi trường kinh doanh và định vị ngành, doanh nghiệp có thể tối ưu hóa phân bổ nguồn lực và xây dựng một hệ sinh thái nội bộ mạnh mẽ Kết quả là một cấu trúc doanh nghiệp bền vững, có khả năng thích ứng với biến động thị trường và tối ưu hoá hiệu quả của từng ngành trong doanh nghiệp.
- Chiến lược cấp do quản trị viên cấp cao đưa ra
1.2.2 Chiến lược cấp kinh doanh
- Là chiến lược xác định: doanh nghiệp nên cạnh tranh trong mỗi ngành kinh doanh như thế nào
- Đối với những doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh chuyên môn hóa thì chiến lược cấp kinh doanh cũng tương tự chiến lược cấp doanh nghiệp
- Đối với doanh nghiệp hoạt động trong nhiều ngành kinh doanh khác nhau, thong thường doanh nghiệp phân thành các đơn vị kinh doanh chiến lược
1.2.3 Chiến lược cấp chức năng
Là chiến lược xác định cần phải hỗ trợ chiến lược cấp kinh doanh như thế nào.
Quá trình quản trị chiến lược
Quá trình hoạch định chiến lược gồm 6 bước cơ bản
- Bước 1: Xác định sứ mạng và mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp
+ Sứ mạng của doanh nghiệp trả lời câu hỏi: DN sinh ra để làm gì?
+ Mục tiêu tập trung vào sản phẩm, thị trường…
- Bước 2: Phân tích môi trường để từ đó nhận thức được những thách thức và những đe dọa
+ Môi trường vi mô (môi trường ngành): nhà cung ứng, khách hàng, đối thủ cạnh tranh
+ Môi trường vĩ mô: Kinh tế, chính trị - luật pháp, văn hóa xã hội, tự nhiên, công nghệ, quốc tế
- Bước 3: Phân tích các nguồn lực để từ đó xác định được điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp
- Bước 4: Đánh giá sứ mệnh và những mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp
Tổng hợp B2 và B3 là đánh giá lại B1, Liệu sứ mệnh và mục tiêu được xác định ở B1 có thực tế hay không, có cần thay đổi không?
- Bước 5: Hình thành các chiến lược
Xây dựng các chiến lược dựa trên trình tự của quá trình ra quyết định và triển khai một cách có hệ thống, nhà quản trị đặc biệt đánh giá các chiến lược thay thế nhằm đề phòng các tình huống có thể xảy ra Quá trình này giúp xác định mục tiêu, phân tích bối cảnh, xác định các kịch bản chiến lược và lựa chọn phương án tối ưu, đồng thời đánh giá tính khả thi và hiệu quả của từng lựa chọn Việc chuẩn bị và thử nghiệm các chiến lược thay thế nâng cao khả năng thích nghi của tổ chức, đảm bảo sự sẵn sàng ứng phó khi cần thiết và tối ưu hóa kết quả ra quyết định ở mọi cấp độ quản trị.
- Bước 6: Thực hiện các chiến lược
+ Đề ra các quyết định quản trị
+ Đề ra các mục tiêu ngắn hạn và cụ thể
+ Xây dựng kế hoạch cho từng lĩnh vực
+ Thay đổi cơ cấu tổ chức cho phù hợp
Hoạch định mục tiêu kinh doanh
2.1.1 Khái niệm, vai trò và phân loại mục tiêu a Khái niệm
Định nghĩa mục tiêu là những trạng thái mong muốn, những cột mốc và những tiêu đích cụ thể mà doanh nghiệp muốn đạt được trong một khoảng thời gian nhất định Mục tiêu đóng vai trò làm khung tham chiếu cho chiến lược và hoạt động của doanh nghiệp, giúp xác lập ưu tiên, phân bổ nguồn lực và thiết lập các chỉ số đo lường hiệu quả (KPI) Vai trò của mục tiêu là định hướng toàn bộ tổ chức, tăng tính tập trung và động lực làm việc, đồng thời cho phép đánh giá tiến độ theo từng giai đoạn và điều chỉnh kế hoạch kịp thời để đạt được kết quả mong muốn.
- Nghiên cứu và đưa ra những biện pháp thích hợp nhằm sử dụng hợp lý, có hiệu quả mọi nguồn lực của doanh nghiệp
- Nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế xã hội
- Tăng thu nhập, tích lũy tái sản xuất mở rộng và từng bước cải thiện, nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên c Phân loại mục tiêu
- Phân theo cấp độ của mục tiêu
+ Mục tiêu cấp doanh nghiệp
+ Mục tiêu cấp đơn vị kinh doanh
+ Mục tiêu cấp chức năng
- Phân theo thời gian thực hiện
2.1.2 Phân tích hệ thống mục tiêu
- Khuynh hướng đồng thuận: việc thực hiện một mục tiêu nào đó sẽ dẫn đến đạt được các mục tiêu khác
- Khuynh hướng đối nghịch: Việc theo đuổi mục tiêu này làm thất bại mục tiêu khác
- Khuynh hướng vô can: Có những mục tiêu mà khi thực hiện nó không ảnh hưởng đến mục tiêu khác
Khi hoạch định mục tiêu cần lưu ý:
- Phân tích các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh
- Xác định số lượng mục tiêu phù hợp với kỳ kinh doanh, phân tích mối quan hệ giữa các mục tiêu
- Đề ra các thứ bậc mục tiêu
- Xác định đúng đắn các mục tiêu bao trùm, mục tiêu trung gian, mục tiêu điều kiện
- Đề ra thời hạn cụ thể cho từng mục tiêu
Những yếu tố ảnh hưởng đến mục tiêu kinh doanh
- Đảm bảo thực hiện tốt tính tập trung và tính dân chủ
- Gắn kế hoạch với hạch toán kinh tế trên cơ sở quan hệ cung cầu trên thị trường
- Bảo đảm tính hiện thực, hiệu quả và tiên tiến
- Kế hoạch phải đi liền với giải pháp thi hành, đảm bảo huy động được tối đa nguồn lực một cách có hiệu quả nhất
- Cấp quản lý: Cấp quản lý càng cao thì việc lập kế hoạch càng mang tính chiến lược
- Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp (4 giai đoạn)
Trong giai đoạn hình thành, người quản trị cần xây dựng kế hoạch định hướng rõ ràng nhưng vẫn mềm dẻo và linh hoạt, bởi mục tiêu ở giai đoạn này mang tính thăm dò, nguồn lực chưa xác định và thị trường còn chưa có sự chắc chắn.
+ Giai đoạn tăng trưởng: các kế hoạch có xu hướng ngắn hạn và thiên về cụ thể, mục tiêu được xác định rõ hơn
Ở giai đoạn chín muồi, tính ổn định và khả năng dự đoán của doanh nghiệp đạt mức cao nhất, vì vậy kế hoạch dài hạn và chi tiết là phù hợp để định hình chiến lược phát triển Khi bước vào giai đoạn suy thoái, doanh nghiệp cần chuyển kế hoạch từ dài hạn sang ngắn hạn và từ các mục tiêu cụ thể sang định hướng tổng thể để ứng phó với biến động thị trường.
- Độ bất ổn định của môi trường
+ Môi trường càng bất ổn bao nhiêu thì kế hoạch càng mang tính định hướng ngắn bấy nhiêu
+ Doanh nghiệp hoạt động trong môi trường động có kế hoạch hướng ngoại và ngắn hạn
+ Doanh nghiệp hoạt động trong môi trường ổn định có kế hoạch dài hạn và hướng ngoại, phức tạp
- Thời gian của mục tiêu đề ra
+ Kế hoạch dài ngắn phụ thuộc vào mục tiêu là gì/
+ Kế hoạch cho một thời gian quá dài hay quá ngắn đều phi hiệu suất
+ Kế hoạch phải phù hợp với thời gian đặt ra cho mục tiêu
Lập kế hoạch
Bản chất của lập kế hoạch là sự quyết định trước những việc cần phải làm trong tương lai
Lập kế hoạch là tiến hành ấn định mục tiêu và biện pháp tốt nhất để thực hiện các mục tiêu đó
2.3.2 Vai trò của lập kế hoạch
Kế hoạch hóa là một quá trình chủ quan, có ý thức và được tổ chức của con người nhằm xác định mục tiêu, lựa chọn phương án, xây dựng các bước đi và trình tự thực hiện, cùng với cách thức tiến hành các hoạt động kinh doanh một cách có hệ thống.
Quá trình kế hoạch hóa là quá trình định hướng và điều khiển nhằm đảm bảo sự phát triển sản xuất theo quy luật tái sản xuất mở rộng Quá trình này bao gồm xác lập mục tiêu, phân bổ nguồn lực và thiết lập lộ trình thực hiện để tối ưu hóa hiệu quả sản xuất, đồng thời dự báo nhu cầu thị trường và điều chỉnh hoạt động sản xuất, đầu tư cho tăng trưởng bền vững Nhờ kế hoạch hóa, doanh nghiệp có thể nắm bắt cơ hội, đối phó với biến động và duy trì nhịp điệu tăng trưởng theo nguyên lý tái sản xuất mở rộng.
Kế hoạch hóa là một quá trình bắt đầu bằng việc xác lập mục tiêu và xác định các chính sách cùng với các kế hoạch chi tiết nhằm đạt được mục tiêu đó Quá trình này giúp định hướng hoạt động, bố trí và sử dụng hiệu quả nguồn lực, đồng thời xây dựng các bước hành động cụ thể và thời gian biểu để biến mục tiêu thành kết quả thực tế Ngoài ra, kế hoạch hóa cho phép theo dõi tiến độ, đánh giá rủi ro và điều chỉnh chiến lược khi cần thiết để đảm bảo đạt được mục tiêu một cách bền vững.
- Kế hoạch là công cụ chủ yết trong công tác quản lý doanh nghiệp
- Kế hoạch là công cụ đắc lực trong việc phối hợp nỗ lực của các thành viên trong doanh nghiệp
- Kế hoạch giúp doanh nghiệp vạch ra các chiến lược, các chương trình dự án, là cơ sở cho những quyết định quản lý của doanh nghiệp
- Là công cụ chỉ đạo, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh
- Vạch ra con đường để huy động phối hợp, và sử dụng hiệu quả các nguồn lực
- Là căn cứ để kiểm tra, đánh giá, tổng kết hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
2.3.3 Các loại kế hoạch a Theo thời gian thực hiện kế hoạch
- Kế hoạch dài hạn: 3 năm trở lên
- Kế hoạch trung hạn: 1-3 năm
- Kế hoạch ngắn hạn: dưới 1 năm b Theo phương pháp lập kế hoạch
- Kế hoạch cuốn chiếu: Tức là mỗi năm kế hoạch đều xác định cho cả thời kỳ dài
Kế hoạch kỳ đoan là quá trình xác định kế hoạch cho một thời kỳ nhất định, sau đó dựa vào kết quả và mức độ tác động của kế hoạch đó để xây dựng kế hoạch cho kỳ tiếp theo Việc triển khai theo từng thời kỳ giúp tối ưu hóa nguồn lực, đảm bảo tính liên tục của hoạt động và cho phép điều chỉnh phạm vi, thời gian và ưu tiên dựa trên tác động thực tế Do đó, mức độ tác động của mỗi kế hoạch được xem xét để xác định ưu tiên và điều chỉnh kế hoạch cho các kỳ sau.
- Kế hoạch chiến lược: là loại kế hoạch được hoạch định cho một thời kỳ dài (thường là 4 năm) do các quản trị gia lãnh đạo xây dựng
Kế hoạch chiến lược mang lại giá trị nhờ tính tập trung cao và sự uyển chuyển, giúp tổ chức xác định mục tiêu rõ ràng và duy trì khả năng thích ứng với thay đổi của thị trường Kế hoạch chiến lược không mô tả chi tiết từng bước thực hiện để đạt mục tiêu mà cung cấp một đường lối hành động chung nhất, giúp phân bổ nguồn lực và ưu tiên các hoạt động thiết yếu để đạt được mục tiêu một cách hiệu quả.
+ Khi xây dựng chiến lược cần căn cứ vào sứ mệnh của tổ chức hoặc nhiệm vụ, chức năng, lĩnh vực hoạt động chung của tổ chức
- Kế hoạch tác nghiệp: là kế hoạch cụ thể hóa chương trình hoạt động của tổ chức theo không gian, thời gian
- Các tính chất của kế hoạch chiến lược và kế hoạch tác nghiệp
Tính chất KH chiến lược KH tác nghiệp Ảnh hưởng Toàn bộ Cục bộ
Thời gian Dài hạn Ngắn hạn
Môi trường Biến đổi Xác định
Mục tiêu Lớn, tổng quát Cụ thể, rõ ràng
Thông tin Tổng hợp, không đầy đủ Đầy đủ, chính xác
Kết quả Lâu dài Có thể điều chỉnh
Thất bại Nặng nề, có thể làm phá sản
Rủi ro Lớn Hạn chế
Khả năng của người ra quyết định
Khái quát vấn đề Phân tích cụ thể, tỉ mỉ
Trong nền kinh tế thị trường, các kế hoạch được thiết kế và định hình quanh kế hoạch marketing, vì nó đóng vai trò nền tảng cho toàn bộ chiến lược Thông thường mọi bộ phận của kế hoạch đều được xây dựng xuất phát từ kế hoạch marketing, từ mục tiêu, thông điệp thương hiệu đến phân bổ nguồn lực, ngân sách và thời gian triển khai Việc xây dựng theo hướng tập trung vào marketing giúp đồng bộ hóa hoạt động, tăng hiệu quả tiếp thị và đảm bảo các mục tiêu kinh doanh được thực thi nhất quán trên toàn tổ chức.
- Một cách tiếp cận nữa thường được xem xét là xây dựng các bộ phận kế hoạch bắt đầu từ những kế hoạch tất yếu nhất trong doanh nghiệp
2.3.5 Cụ thể hóa kế hoạch
Những bức tranh rõ nét về tương lai của doanh nghiệp chỉ thực sự hình thành khi được cụ thể hóa bằng các số liệu tính toán Việc định lượng các giả định về doanh thu, chi phí, lợi nhuận và dòng tiền cho phép xây dựng các kịch bản dự báo đáng tin cậy và hỗ trợ quyết định chiến lược Khi dữ liệu được phân tích một cách có hệ thống, ước tính từ đó trở nên hiện thực hóa thành một bản đồ đường đi cho doanh nghiệp, giúp lãnh đạo nhận diện rủi ro, cơ hội và các bước cần làm để đạt được mục tiêu kinh doanh.
Cụ thể hóa kế hoạch thông qua các số liệu cơ bản sau:
- Số liệu về ngân sách ở các lĩnh vực kế hoạch
- Bảng cân đối kế hoạch (giá trị vốn và tài sản)
3 Kỹ thuật dự thảo chiến lược trong quản trị kinh doanh
Phân tích, dự báo môi trường kinh doanh
Môi trường kinh doanh là khung cảnh bao trùm lên mọi hoạt động kinh doanh, tập hợp các yếu tố khách quan và chủ quan, luôn vận động và tương tác với nhau để tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động của từng doanh nghiệp Phân tích môi trường kinh doanh là quá trình nhận diện và đánh giá những yếu tố này nhằm hiểu rõ cơ hội và thách thức, từ đó điều chỉnh chiến lược và hoạt động kinh doanh cho phù hợp với điều kiện bên ngoài và bên trong doanh nghiệp.
Dự thảo chiến lược kinh doanh
B1: Xác định sứ mệnh và mục tiêu của tổ chức
Sứ mệnh và mục tiêu của tổ chức được xác định thông qua trả lời câu hỏi:
“chúng ta là ai?” “Mục tiêu định hướng cho chúng ta là gì?”
B2: Phân tích thách thức và cơ hội, những điểm mạnh và những điểm yếu
- Phải phân tích được các yếu tố của môi trường kinh doanh, đánh giá các cơ hội và đe dọa có thể có trong tương lai
Qua một phân tích toàn diện và rõ ràng, ta có thể xác định vị thế hiện tại dựa trên điểm mạnh và điểm yếu của chính mình Hiểu rõ lý do tại sao cần giải quyết những yếu tố chưa chắc chắn giúp xây dựng chiến lược ứng phó hiệu quả và giảm thiểu rủi ro Đồng thời, nhận diện những kết quả và giá trị thu được từ quá trình này để tối ưu hóa nguồn lực và định hướng phát triển Đây là nền tảng cho kế hoạch cải thiện liên tục và tăng cường cạnh tranh trong mọi hoàn cảnh.
B3: Xác định các tiền đề cho kế hoạch
B4: Xây dựng các phương án chiến lược
Sau khi phân tích và đánh giá doanh nghiệp một cách toàn diện, những người tham gia hoạch định cần xây dựng các chiến lược dự thảo để so sánh và chọn ra chiến lược phù hợp nhất với tổ chức Quá trình này bao gồm phân tích thị trường, đánh giá nguồn lực và rủi ro, đồng thời xem xét các cơ hội tăng trưởng và tính khả thi của từng phương án Việc xác định chiến lược kinh doanh tối ưu dựa trên kết quả phân tích SWOT và một lộ trình triển khai rõ ràng giúp đảm bảo sự phù hợp với mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của tổ chức Kết quả là có một chiến lược được chọn cùng kế hoạch triển khai thực tiễn, giúp tổ chức tận dụng cơ hội, tối ưu nguồn lực và đo lường hiệu quả theo thời gian.
Các dạng chiến lược sản xuất – kinh doanh:
Chiến lược thâm nhập thị trường tập trung vào việc nhận diện và khai thác các cơ hội phát triển trong các thị trường mà doanh nghiệp đã hoạt động, bằng cách tận dụng các hàng hóa và dịch vụ hiện có để tăng thị phần và doanh thu Để thực hiện, doanh nghiệp rà soát khách hàng mục tiêu, tối ưu hóa kênh phân phối và chiến lược giá, đồng thời đẩy mạnh hoạt động tiếp thị để nâng cao nhận thức và ưu thế cạnh tranh trên thị trường Bằng cách mở rộng phạm vi và tần suất mua của khách hàng trong các thị trường hiện có, doanh nghiệp có thể tăng lợi nhuận với chi phí thấp bằng cách tận dụng hiểu biết về nhu cầu và hành vi mua hàng Chiến lược này tập trung vào tối ưu sự hiện diện trên các kênh bán hàng hiện có và củng cố vị thế thị trường thông qua dịch vụ khách hàng tốt, chương trình khuyến mại phù hợp và tối ưu hóa trải nghiệm người mua.
- Chiến lược mở rộng thị trường: Tìm kiếm những thị trường mới cho sản phẩm hiện có
Chiến lược phát triển sản phẩm tập trung vào việc tạo ra những sản phẩm mới và liên tục cải tiến sản phẩm hiện có bằng cách nâng cao tính năng, tác dụng và trải nghiệm người dùng, đồng thời tối ưu hóa bao bì và nhãn hiệu nhằm tăng nhận diện thương hiệu và sức cạnh tranh trên thị trường.
- Chiến lược đa dạng hóa trong kinh doanh: doanh nghiệp có thể mở rộng ra các lĩnh vực sản xuất kinh doanh mới…
- Chiến lược tạo ra sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh: tạo ra những hàng hóa đặc biệt mà đối thủ cạnh tranh không có
- Chiến lược dẫn đầu về giá thấp
B5: Đánh giá các phương án
Sau khi xây dựng được các phương án, tiến hành đánh giá các phương án
B6: Chọn các phương án tối ưu
Trong quá trình ra quyết định, mục tiêu là tìm ra phương án có cơ hội tốt nhất để đạt được mục tiêu đề ra, đồng thời tối ưu chi phí và lợi nhuận Phương án được chọn sẽ là phương án tối ưu nhất với chi phí thấp nhất hoặc lợi nhuận cao nhất, dựa trên phân tích chi phí–lợi ích và tiềm năng thực hiện Việc đánh giá kỹ lưỡng các yếu tố rủi ro, nguồn lực và thời gian sẽ giúp xác định chiến lược tối ưu cho doanh nghiệp, từ đó đảm bảo hiệu quả và phát triển bền vững.
B7: Xây dựng các kế hoạch phụ trợ để thực hiện kế hoạch chính
B8: Lượng hóa các kế hoạch bằng việc lập kế hoạch ngân quĩ.(chuyển chúng sang dạng các chỉ tiêu về tài chính: chỉ tiêu thu, chi, lợi nhuận… )
Hoạch định chương trình quản trị kinh doanh
Nội dung của hoạch định một chương trình QTKD đề cập đến 3 vấn đề:
- Diễn tả các mức độ ảnh hưởng đến các lĩnh vực quản trị doanh nghiệp
- Điều khiển bằng các kỹ thuật quản trị
- Điều khiển bằng các công cụ quản trị
Câu hỏi 1: Vì sao trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp cần phải xây dựng chiến lược kinh doanh cho mình?
Câu hỏi 2: Hãy so sánh chiến lược kinh doanh và kế hoạch kinh doanh Những điểm giống và khác nhau, lấy ví dụ minh họa
Mục tiêu kinh doanh là định hướng chiến lược và hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp, giúp xác định ưu tiên, phân bổ nguồn lực và đo lường hiệu quả Việc xác định mục tiêu kinh doanh có vai trò quan trọng trong quản trị doanh nghiệp, tạo sự thống nhất giữa các bộ phận, thúc đẩy đổi mới và tăng trưởng, đồng thời làm nền tảng cho thiết kế chiến lược ngắn hạn và dài hạn Để xác định mục tiêu kinh doanh phù hợp, doanh nghiệp cần phân tích các nhân tố ảnh hưởng như thị trường và nhu cầu khách hàng, mức độ cạnh tranh, nguồn lực nội bộ (tài chính, nhân sự, công nghệ), quy trình vận hành và văn hóa tổ chức, cũng như các yếu tố môi trường vĩ mô (tăng trưởng kinh tế, lãi suất, chính sách pháp lý) và rủi ro tiềm ẩn Nhận diện và đánh giá các yếu tố này giúp mục tiêu kinh doanh thực tế, khả thi và dễ triển khai, từ đó tăng cơ hội đạt hiệu quả, tối ưu hóa hiệu suất và duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững.
Câu hỏi 4: Phân biệt chiến lược chiến lược và kế hoạch tác nghiệp
Câu hỏi 5: Lấy ví dụ và phân tích chiến lược kinh doanh mà anh chị biết ở một doanh nghiệp cụ thể
QUẢN TRỊ NHÂN SỰ, KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP
Khái niệm quản trị nhân sự trong doanh nghiệp
Quản trị nhân sự trong doanh nghiệp là hệ thống các hoạt động và phương thức mà tổ chức sử dụng để quản lý nguồn nhân lực, liên quan tới tuyển dụng, đào tạo, phát triển và động viên người lao động Quản trị nhân sự bao gồm nhận diện nhu cầu tuyển dụng, xây dựng kế hoạch đào tạo, thiết kế lộ trình phát triển nghề nghiệp và triển khai các chính sách động viên nhằm nâng cao hiệu suất làm việc và sự gắn kết của nhân viên với tổ chức Mục tiêu của quản trị nhân sự là đảm bảo nguồn lực phù hợp với chiến lược kinh doanh, tối ưu hóa chất lượng nguồn lực và hỗ trợ sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
1.1.2 Quan điểm, và các trường phái quản trị nhân sự a Quan điểm quản trị nhân sự trong DN
- Xây dựng cơ chế quản trị nhân sự trong DN một cách khoa học
- Tuyển chọn, phân phối hợp lý nguồn nhân sự trên cơ sở lợi ích chung, thực hiện đúng đắn chế độ hợp đồng với người LĐ trong DN
- Tìm, tạo việc làm và đảm bảo quyền, nghĩa vụ lao động cho mọi người LĐ trong DN trên cơ sở bình đẳng
- Bảo đảm phát triển toàn diện người LĐ, nhằm tái sản xuất giản đơn và mở rộng sức LĐ trong doanhnghiệp b Các trường phái quản trị nhân sự:
Trường phái quản trị chấp hành
Tức là quá trình quản trị trong đó người quản trị nhằm tới sự chấp hành của người dưới quyền
- Ưu: Đôi khi các quyết định được thực hiện nhanh chóng
Quyền hạn và trách nhiệm cá nhân được phân định rõ ràng
- Nhược: Bỏ rơi sự sáng tạo của cấp dưới
Thường áp đặt độc quyền Đòi hỏi phải có người quản trị toàn diện (tài giỏi)
Trường phái quản trị khai thác
Là quán trình quản trị nhằm tới việc khai thác các ý tưởng tốt đẹp của người dưới quyền Ưu: - Phát huy được sức mạnh của tập thể
- Tạo ra môi trường làm việc lành mạnh tăng NSLĐ
Nhược: - Khó trong việc tổ chức thực hiện
- Đôi khi nhà quản trị rơi vào tình trạng khó xử
1.1.3 Những nguyên tắc cơ bản của quản trị nhân sự
- Đảm bảo cung cấp đủ số lượng, chất lượng LĐ cho DN trong mọi thời kỳ
- Đảm bảo chuyên môn hoá kết hợp với trang bị kiến thức tổng hợp
- Phối hợp chặt chẽ giữa phân công LĐ và hợp tác LĐ
- Sử dụng LĐ phải trên cơ sở đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ lao động
- Sử dụng lao động phải kết hợp với thù lao- lao động hợp lý
- Kết hợp thưởng- phạt vật chất- tinh thần với tăng cường kỷ luật lao động
1.1.4 Một số mô hình quản trị nhân sự chủ yếu a Mô hình cổ điển
* Các luận cứ của mô hình cổ điển:
- Đa số con người không muốn làm việc
- Con người quan tâm đến cái mà họ nhận được hơn là cái mà công việc họ làm ra
- Rất ít người muốn và có thể làm việc một cách độc lập, sáng tạo và tự chủ
* Chính sách quản trị: từ luận cứ trên người ta đưa ra chính sách quản trị nhân sự như sau:
Chúng ta phân chia nhiệm vụ thành các phần việc nhỏ, đơn giản hoá chúng để thực hiện chuyên môn hoá công việc một cách hiệu quả Mỗi cá nhân được giao đảm nhận một thao tác cụ thể, làm việc theo thời gian bắt buộc và tiến độ đã được đặt ra, nhờ đó tăng năng suất và chất lượng công việc Cách phân bổ này giúp rõ ràng vai trò, giảm thiểu sự chồng chéo và tạo điều kiện cho từng người phát huy tối đa chuyên môn của mình trong đội ngũ.
Quản trị viên và người được quản trị cần được tách biệt rõ ràng để duy trì trật tự và hiệu quả hoạt động của tổ chức Người quản trị chịu trách nhiệm thiết kế, phối hợp và kiểm soát toàn bộ quy trình quản trị, đồng thời giám sát các hoạt động của những người dưới quyền một cách chặt chẽ Việc phân định vai trò và quyền hạn giúp quản trị viên dự đoán rủi ro, ra quyết định kịp thời và đảm bảo quy trình làm việc tuân thủ các chuẩn mực Nhờ sự phối hợp nhịp nhàng giữa thiết kế kế hoạch, triển khai và đánh giá kết quả, hệ thống quản trị vận hành thông suốt và đạt được mục tiêu đề ra.
- Trên cơ sở chia nhỏ thao tác để tìm kiếm một sự đánh giá kết quả và thù lao công bằng
Trong giai đoạn kéo dài gần 30 năm đầu thế kỷ 20, mô hình này phát huy tác dụng rõ rệt, góp phần hình thành các dây chuyền sản xuất hàng loạt và tăng năng suất lao động.
Phân chia quá trình lao động dẫn đến sự nhàm chán công việc và vô tình làm mất lợi thế từ mối quan hệ giữa người lao động với nhau Đại diện cho mô hình quản trị theo hướng này là F W Taylor (1856–1915), kỹ sư người Mỹ nổi tiếng với các đóng góp đầu thế kỷ 20 vào khoa học quản trị nhân sự, và mô hình này được biết dưới tên “mô hình các mối quan hệ”.
- Bản thân mỗi người luân luân mong rằng mình là người có ích và quan trọng
- Con người luân mong muốn tham gia vào công việc chung và muốn được nhìn nhận như những con người
- Con người mong muốn thoả mãn nhu cầu, trước hết là nhu cầu trong lao động, hơn là tiền công mà họ được trả
- Tạo ra điều kiện để con người cảm thấy có ích và quan trọng
- Trao quyền nhất định cho cấp dưới và lắng nghe ý kiến của họ đóng góp vào công việc chung
- Tạo ra được bầu không khí cộng tác dễ chịu trong quá trình lao động
- Làm cho người lao động thấy mình có vai trò quan trọng với xung quanh
- Tạo ra tinh thần trách nhiệm và các mối quan hệ cộng tác
- Tránh nhàm chán công việc năng xuất tăng, có cải tiến Đại biểu của mô hình này là E.Mayo; năm 1727; ông đưa ra công thức:
Năng suất = Sự chủ tâm + Môi trường tâm lý tốt
38 Ông thực hiện: Đổi chỗ làm việc
Mở rộng nhiệm vụ Làm phong phú thêm công việc
Hình thành các loại nhóm công việc, ví dụ: nhóm tự quản, nhóm chất lượng, nhóm tiến bộ c Mô hình khai thác tiềm năng
- Con người không chỉ muốn làm việc thụ động, mà chòn muốn góp phần hoàn thiện các mục tiêu mà chính họ góp phần vạch ra
- Đa số con người muốn và có khả năng làm việc sáng tạo và luân mong mình sẽ có vị trí tốt hơn
- Tìm biện pháp khai thác khả năng tiềm ẩn của con người
- Tạo môi trường để con người phát huy tối đa tiềm năng
- Mở rộng tự quản để con người làm việc chủ động hơn
- Nâng cao được tính tự giác sáng tạo, khai thác mọi tiềm năng trở thành nhiệm vụ quản trị nhân sự
- Bản thân người quản trị luân vươn tới tiềm năng tối đa (ví dụ bằng mô hình quản trị Nhật Bản và Tây Âu)
Lưu ý: Trong thực tiễn, việc tận dụng các mô hình nêu trên ở mỗi quốc gia, khu vực, DN có những nét riêng, không có công thức chung
Vai trò của quản trị nhân sự trong doanh nghiệp
Mục đích của quản trị nhân sự là cung cấp cho các tổ chức, doanh nghiệp một lực lượng lao động vừa đảm bảo về lượng vừa đảm bảo về chất, có khả năng thích ứng và phát triển trong mọi thời kỳ kinh doanh Quản trị nguồn nhân lực tập trung vào tuyển dụng chiến lược, đào tạo và phát triển kỹ năng, quản lý hiệu suất và đãi ngộ hợp lý để nâng cao năng suất và sự bền vững của tổ chức trong bối cảnh cạnh tranh và thay đổi liên tục.
- Về mặt chính trị - xã hội
+ Thể hiện tính ưu việt, sự công bằng, bình đẳng trên cơ sở thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh
+ Làm cho người lao động củng cố niềm tin với doanh nghiệp, với xã hội, có ý thức đầy đủ hơn về cống hiến
Quản trị nhân sự hiệu quả trong doanh nghiệp giúp khai thác tối đa tiềm năng, phát huy sức sáng tạo, tăng nhiệt huyết và nâng cao ý thức trách nhiệm của người lao động Bằng cách đồng bộ hóa chiến lược nhân sự với mục tiêu tổ chức và triển khai các hoạt động tuyển dụng, đào tạo, đánh giá và đãi ngộ phù hợp, hệ thống quản trị nhân sự tối ưu hoá nguồn lực, từ đó nâng cao hiệu suất làm việc và sự gắn kết của đội ngũ.
Nguyên tắc quản trị nhân sự trong doanh nghiệp
- Đảm bảo cung cấp số lượng và chất lượng lao động cho doanh nghiệp trong mọi thời kỳ
- Đảm bảo chuyên môn hóa kết hợp với trang bị kiến thức tổng hợp
- Phối hợp chặt chẽ giữa phân công lao động với hợp tác lao động
- Sử dụng lao động phải trên cơ sở đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ lao động
- Sử dụng lao động phải kết hợp với thù lao hợp lý (bảo đảm quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ)
- Kết hợp thưởng phạt tăng cường với kỷ luật lao động
Hoạt động quản trị nhân sự
1.4.1 Chính sách nhân sự đề cập tới những nguyên tắc, qui chế mang tính định hướng, chi phối mối quan hệ giữa doanh nghiệp và đội ngũ nhân viên của nó Các chính sách này thường là một phần trong chính sách chung của doanh nghiệp
1.4.2 Hoạch định nguồn nhân lực
Hoạch định nguồn nhân lực là quá trình xem xét và đánh giá nhu cầu nhân sự của tổ chức nhằm bảo đảm có đủ nguồn lực phù hợp với mục tiêu công việc trong tương lai Quá trình này bao gồm dự báo số lượng và chất lượng nhân sự cần thiết, nhận diện khoảng trống về nhân sự và từ đó xây dựng kế hoạch tuyển dụng, đào tạo và phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả Mục tiêu của hoạch định nguồn nhân lực là đồng bộ hóa nguồn lực với chiến lược phát triển của tổ chức, tối ưu chi phí và nâng cao hiệu suất làm việc thông qua một kế hoạch đáp ứng được nhu cầu nhân sự trong tương lai.
Qui trình hoạch định nhu cầu nhân sự
B1: Xác định nhu cầu và khả năng nhân sự
Nhu cầu nhân sự được xác định bằng một cơ cấu lao động tối ưu về số lượng, chất lượng và đặc điểm cần có cho từng loại lao động, từng bộ phận, từng nghề Cấu trúc lao động này phải cân đối giữa nguồn lực và yêu cầu công việc để đảm bảo hiệu quả vận hành và khả năng thích ứng với thay đổi Việc định hướng số lượng và chất lượng lao động theo đặc điểm của từng vị trí giúp tổ chức tối ưu hóa chi phí tuyển dụng, đào tạo và phân bổ nguồn lực Vì vậy, xác định nhu cầu nhân sự theo cơ cấu phù hợp với từng loại lao động và bộ phận là căn cứ để xây dựng kế hoạch tuyển dụng, quản trị nguồn nhân lực và phát triển tổ chức.
Để có một kế hoạch tuyển dụng đáp ứng đúng nhu cầu, doanh nghiệp cần tính toán khả năng nhân sự sẵn có bằng cách thống kê và đánh giá lại đội ngũ lao động hiện có về số lượt thuyên chuyển và thăng tiến Thông tin này giúp doanh nghiệp nhận diện mức cân đối giữa nhu cầu tuyển dụng và nguồn lực hiện có, từ đó điều chỉnh chiến lược tuyển dụng và phân bổ nhân sự sao cho hiệu quả.
Trong B3, tổ chức đề xuất các chính sách và lên kế hoạch triển khai các chính sách đã áp dụng, đảm bảo sự liên kết giữa lý thuyết và thực thi Quá trình này thường gắn với cải tiến hệ thống tổ chức, sắp xếp bố trí lao động hợp lý và đẩy mạnh bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực Kế hoạch thực hiện cần xác định mục tiêu cụ thể, thời hạn và nguồn lực, nhằm đảm bảo sự đồng bộ và hiệu quả của các chính sách trong toàn bộ tổ chức.
Mục đích của bước này là rà soát việc thực hiện các mục tiêu và nội dung đã được hoạch định trong kế hoạch nhân sự, đánh giá tiến độ ở từng giai đoạn và từ đó điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp.
1.4.3 Tuyển mộ và tuyển chọn
- Tuyển mộ là tiến trình tìm kiếm và thu hút các ứng viên trong công ty
- Tuyển chọn: là quá trình lựa chọn các ứng viên phù hợp nhất cho một vị trí công tác nào đó đã được xác định trước
Tuyển chọn nhân sự có nghĩa là tìm một người phù hợp để giao phó cho một chức vụ, một công việc đang trống
Hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp phụ thuộc phần lớn vào phẩm chất, trình độ và năng lực của đội ngũ lao động Vì vậy, tuyển dụng và lựa chọn nhân sự chất lượng cao đóng vai trò quyết định, tạo điều kiện tối ưu để sử dụng nguồn lực con người một cách hiệu quả, từ đó nâng cao năng suất và sức cạnh tranh trên thị trường.
- Tuyển chọn cán bộ, nhân viên phải xuất phát từ lợi ích chung của DN và xã hội
Để tận dụng tối đa năng lực của đội ngũ, cần dựa vào khối lượng công việc và yêu cầu cụ thể của từng loại công việc để xác định mức độ phân bổ phù hợp Việc phân tích kỹ lưỡng các yếu tố như thời gian hoàn thành, mức độ phức tạp và nguồn lực sẵn có giúp tối ưu hóa sự phân công và nâng cao hiệu quả làm việc Quá trình quản trị nhân sự dựa trên dữ liệu về khối lượng công việc sẽ đảm bảo mỗi cá nhân được giao đúng nhiệm vụ, phù hợp với năng lực và mục tiêu của tổ chức Nhờ đó, tổ chức có thể khai thác tối đa năng lực của từng thành viên và đạt hiệu quả tổng thể cao hơn.
Trong quá trình tuyển dụng, cần nghiên cứu thận trọng và toàn diện về từng ứng viên để đánh giá cá nhân, phẩm chất và năng lực của họ, từ đó xác định mức độ phù hợp với vị trí và tiềm năng đóng góp cho tổ chức Các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả tuyển chọn bao gồm chất lượng nguồn ứng tuyển, mức độ phù hợp với văn hóa công ty, hiệu quả của phương pháp đánh giá, tính khách quan và minh bạch của quy trình, cũng như sự phù hợp giữa yêu cầu công việc và kỳ vọng của doanh nghiệp.
- Hình ảnh, uy tín của DN (hình ảnh đó bao gồm: Lợi thế theo giá trị hữu hình và vô hình của DN)
Tính hấp dẫn của công việc phụ thuộc vào nhiều yếu tố kết nối với nhau: vị trí và cấp bậc trong tổ chức ảnh hưởng đến địa vị xã hội và cơ hội thăng tiến; uy tín của nghề và danh tiếng công ty nâng cao giá trị nghề nghiệp mà bạn có được; quan hệ xã hội quanh công việc—mạng lưới đồng nghiệp, khách hàng và đối tác—mở ra cơ hội và động lực làm việc Mức lương và chế độ đãi ngộ cạnh tranh, sự an toàn và ổn định công việc cùng với mức độ nhàn hạ phù hợp với cân bằng giữa công việc và cuộc sống là những yếu tố quyết định sự gắn bó Tinh chất lao động, bao gồm cơ hội học hỏi, phát triển kỹ năng và ý nghĩa công việc, vẫn là yếu tố then chốt làm nên sức hút của một vị trí với từng người.
- Các chính sách quản lý nội bộ: lương bổng, đào tạo, thăng tiến và các chế độ khác
Chính sách quản lý của chính phủ bao gồm các yếu tố trọng yếu như cơ cấu kinh tế, các chính sách tiền lương và tiền công, cùng với các biện pháp bảo hiểm xã hội, nhằm định hướng và điều tiết sự phát triển kinh tế Việc xây dựng và điều chỉnh cơ cấu kinh tế giúp tối ưu hóa phân bổ nguồn lực, nâng cao năng suất và tăng trưởng bền vững Chính sách tiền lương và tiền công được thiết kế để đảm bảo công bằng cho người lao động, đồng thời kích thích đổi mới và cạnh tranh trên thị trường lao động Chính sách bảo hiểm đảm bảo an sinh xã hội và ổn định đời sống người dân trước rủi ro Xu hướng phát triển kinh tế được theo dõi nhằm thích ứng với biến động thị trường và thực hiện các mục tiêu dài hạn Hợp tác kinh tế với nước ngoài đóng vai trò then chốt, mở rộng thị trường, thu hút đầu tư và công nghệ, từ đó tăng cường hoạt động xuất nhập khẩu và tăng cường liên kết kinh tế toàn cầu.
Chi phí tuyển dụng là một khoản đầu tư lớn, đặc biệt đối với những vị trí yêu cầu chất xám cao, kỹ năng và kinh nghiệm phong phú Đây là yếu tố quyết định hiệu quả của hoạt động tuyển chọn và tối ưu hóa ngân sách tuyển dụng Để nâng cao hiệu quả và giảm thiểu chi phí, doanh nghiệp cần xem xét các nguồn tuyển chọn khác nhau—từ mạng lưới chuyên môn, giới thiệu từ nhân viên hiện tại, đến các kênh tuyển dụng trực tuyến và hợp tác với các đơn vị tuyển dụng—nhằm đảm bảo tiếp cận được ứng viên phù hợp với chi phí hợp lý.
*Nguồn nội bộ (tìm kiếm nội bộ)
Nhiều doanh nghiệp hiện đại nỗ lực phát triển nhân sự từ cấp thấp nhất cho đến các vị trí cao hơn trong tổ chức nhờ hệ thống quản lý nguồn nhân lực chuyên nghiệp Quá trình này được thực hiện đồng bộ thông qua các hoạt động đào tạo và phát triển kỹ năng, đánh giá hiệu suất, lên kế hoạch lộ trình thăng tiến và định hướng nghề nghiệp rõ ràng Hệ thống quản trị nhân sự giúp nhận diện tiềm năng, xác định nhu cầu đào tạo, theo dõi tiến bộ của từng nhân viên và tối ưu hóa nguồn lực, từ đó nâng cao năng lực và hiệu quả làm việc cho doanh nghiệp.
Việc tuyển chọn từ nội bộ có tác dụng:
- Khuyến khích nhân viên bồi dưỡng, tự bồi dưỡng
- Có được đội ngũ nhân viên có kiến thức về DN, lòng trung thành với DN
- Có đầy đủ thông tin về nhân viên
- Tiết kiệm được chi phí tuyển chọn
Tuy nhiên cũng có những hạn chế: Không thu hút được người có trình độ cao ngoài DN
*Nguồn bên ngoài: thông qua
- Quảng cáo việc làm: là những phương tiện thông báo cho toàn xã hội về công việc (vị trí) còn thiếu người đảm nhận ở DN
Qua các văn phòng giới thiệu việc làm, bao gồm văn phòng của cơ quan chính quyền, các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp tư nhân và các công ty môi giới cùng với các dịch vụ tư vấn về lao động, người tìm việc có thể tiếp cận nguồn tuyển dụng đa dạng, được tư vấn nghề nghiệp và hỗ trợ xin việc một cách hiệu quả.
- Các trường phổ thông, dạy nghề, các trường cao đẳng, đại học
- Những người xin việc không được mời, tự đến d Qui trình tuyển chọn
- Bước 1: Thu thập ứng cử viên và sàng lọc ban đầu
Là bước đầu tiên trong quá trình tuyển chọn người đến xin việc, bước xem xét sơ bộ
Quá trình sàng lọc bắt đầu bằng thẩm tra và phỏng vấn sơ bộ nhằm sàng lọc những ứng viên không phù hợp Dựa vào mô tả công việc và yêu cầu nghề nghiệp, hệ thống đánh giá sẽ loại bỏ ở bước đầu những hồ sơ không đáp ứng tiêu chuẩn Kết hợp thẩm tra hồ sơ và phỏng vấn ngắn, quy trình này giúp xác định nhanh kỹ năng cốt lõi và mức độ phù hợp của ứng viên với vị trí Nhờ các tiêu chí rõ ràng từ mô tả công việc và yêu cầu nghề nghiệp, quá trình sàng lọc từ đầu giúp tối ưu hóa nguồn lực tuyển dụng và rút ngắn thời gian đánh giá ứng viên.
- Bước 2: Hoàn thiện đơn xin việc
Quản trị khoa học công nghệ trong doanh nghiệp
2.1 Khái quát về công nghệ và quản trị khoa học công nghệ
2.1.1 Khái quát về công nghệ a Khái niệm
Khoa học : Là hệ thống những tri thức của loài người về quy luật phát triển khách quan của tự nhiên - xã hội - tư duy
Kỹ thuật: Là kết quả của khoa học, biểu hiện ở sản xuất và sử dụng những công cụ lao động, nguyên vật liệu, nhiên liệu và năng lượng
Công nghệ là tập hợp hệ thống kiến thức và kết quả của khoa học ứng dụng, được nuôi dưỡng qua nghiên cứu và thử nghiệm nhằm biến đổi nguồn lực tự nhiên thành mục tiêu sinh lợi cho xã hội Nó kết nối lý thuyết với thực tiễn, xây dựng các giải pháp đổi mới và tạo ra sản phẩm, dịch vụ có thể thương mại hóa để đáp ứng nhu cầu thị trường và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến nguyên vật liệu (NVL) và thông tin Nó bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp được sử dụng trong sản xuất, chế tạo, dịch vụ và quản lý, nhằm biến NVL thành sản phẩm và xử lý thông tin một cách hiệu quả.
Uỷ ban kinh tế và XH châu Á - Thái bình dương")
Tiến bộ khoa học và kỹ thuật là quá trình hoàn thiện sản phẩm, đổi mới không ngừng và nhanh chóng các yếu tố sản xuất như công cụ lao động (CCLĐ), năng lượng, nguyên vật liệu (NVL), công nghệ và tổ chức sản xuất, dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học và nghiên cứu ứng dụng nhằm đạt được hiệu quả sản xuất – kinh doanh cao nhất; b Các thành phần của công nghệ bao gồm CCLĐ, năng lượng, NVL, công nghệ và tổ chức sản xuất, đồng thời kết nối với các kết quả nghiên cứu khoa học được ứng dụng vào thực tiễn sản xuất.
Từ định nghĩa trên ta thấy rằng bất cứ công nghệ nào cũng có 4 thành phần cơ bản: Máy móc, con người, thông tin và tổ chức
Phần thiết bị (Technoware) là phần vật thể trong công nghệ, bao gồm các phương tiện vật chất như trang bị, máy móc, nguyên liệu và các thiết bị khác; đây được xem là cốt lõi của công nghệ, là thành phần được triển khai, lắp đặt và vận hành bởi con người để hiện thực hóa các quy trình kỹ thuật.
Phần con người (Humanware) gồm cả người dùng, người vận hành và những người chế tạo, cải tiến máy móc; trong công nghệ, năng lực con người được hiểu là kỹ năng, kinh nghiệm, sự sáng tạo và khả năng lãnh đạo, giúp con người khai thác và phát huy tối đa khả năng của máy móc; do vậy con người đóng vai trò chủ động trong công nghệ, nhưng vẫn chịu sự chi phối của thông tin và hệ thống tổ chức.
Phần thông tin (Inforware) là phần thể hiện công nghệ ở dạng lý thuyết và khái niệm, đồng thời tập hợp các phương pháp, thông số, công thức và bí quyết triển khai Đây được gọi là phần thông tin của công nghệ, nơi nắm bắt nguyên lý hoạt động, cấu trúc và cách áp dụng công nghệ vào thực tiễn Trong Inforware, các tham số kỹ thuật, các phương pháp phân tích và các công thức tính toán được trình bày rõ ràng nhằm hỗ trợ thiết kế, đánh giá và tối ưu hóa hệ thống Việc làm rõ các yếu tố này không chỉ tăng tính minh bạch mà còn cải thiện hiệu quả SEO cho bài viết công nghệ bằng cách tích hợp từ khóa liên quan như phần thông tin, Inforware, lý thuyết, khái niệm, phương pháp, thông số, công thức và bí quyết.
Phần này thể hiện tri thức tích lũy trong công nghệ; nhờ những hiểu biết này, con người có thể rút ngắn thời gian và công sức khi giải quyết các công việc liên quan đến công nghệ Với cùng một công nghệ, việc áp dụng những kiến thức khác nhau sẽ tạo ra những sản phẩm khác nhau, chứng tỏ sự đa dạng và sáng tạo trong quá trình phát triển công nghệ Thông tin chính là sức mạnh của công nghệ, giúp tối ưu hóa quy trình, nâng cao hiệu suất và mở rộng phạm vi ứng dụng.
- Phần tổ chức (Orgaware): Bất kỳ một hệ thống nào cũng cần phải có một tổ chức để điều hành hoạt động của hệ thống
Trong hệ sinh thái công nghệ hiện đại, một bộ phận chịu trách nhiệm phối hợp các thành phần công nghệ với nhau là yếu tố thiết yếu để đảm bảo hoạt động hiệu quả tối đa Bộ phận này kết nối từ phần cứng, phần mềm, mạng đến các nền tảng ứng dụng, đồng thời quản trị công nghệ, chuẩn hoá quy trình và tối ưu hoá hiệu suất hệ thống Nhờ sự đồng bộ hóa và phối hợp chặt chẽ giữa các tố, hệ thống trở nên linh hoạt, giảm thiểu xung đột, nâng cao khả năng sẵn sàng vận hành và mang lại trải nghiệm người dùng ổn định và tốt hơn.
Phần tổ chức đóng vai trò then chốt trong quản lý, lập kế hoạch và vận hành bộ máy nhân sự, đồng thời kiểm soát các hoạt động biến đổi của hệ thống công nghệ Việc thiết kế tổ chức hiệu quả phụ thuộc vào mức độ phức tạp của các thành phần thiết bị và lượng thông tin trong công nghệ, từ đó ảnh hưởng đến cách thiết kế quy trình, phân bổ nguồn lực và đảm bảo sự linh hoạt, an toàn và hiệu quả vận hành.
Phần tổ chức được coi là động lực của công nghệ và bản thân nó cũng biến đổi theo thời gian
Mọi công nghệ đều dựa trên bốn thành phần cơ bản: phần thiết bị được gọi là phần cứng, trong khi ba thành phần còn lại là phần mềm, đảm nhận vai trò điều khiển, vận hành và nâng cao hiệu suất của hệ thống công nghệ.
Ngày nay, phần mềm được đánh giá rất cao trong công nghệ và phát triển phần mềm được xem là hoạt động then chốt của đổi mới công nghệ Phát triển phần mềm không chỉ nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh mà còn mở ra nhiều cơ hội tiến bộ cho các lĩnh vực công nghệ khác nhau Trong khuôn khổ nghiên cứu và ứng dụng, c Phân loại công nghệ cung cấp khung nhận diện và phân loại các loại công nghệ dựa trên các tiêu chí như chức năng, mức độ trừu tượng và tác động lên hệ thống, từ phần mềm và hệ thống nhúng đến công nghệ nền tảng và các mô hình tích hợp.
Tuỳ theo mục đích người ta phân loại công nghệ theo các tiêu thức sau
- Theo tính chất: có thể phân thành công nghệ dịch vụ, CN thông tin, CN giáo dục,
- Theo ngành nghề: là việc xem xét công nghệ đó phục vụ cho ngành nghề nào: CN công nghiệp, CN nông nghiệp, CN vật liệu,,,
- Theo đặc tính công nghệ: Có thể phân thành CN đơn chiếc, CN hàng loạt, CN liên tục
Theo cách tiếp cận theo sản phẩm, bắt đầu bằng việc xem xét sản phẩm mà công nghệ đó mang lại là gì để nhận diện chức năng và ứng dụng tiềm năng Từ đó, công nghệ có thể được phân loại vào các nhóm ngành chủ lực như công nghiệp sản xuất thép, công nghiệp sản xuất xe máy và công nghiệp sản xuất ô tô Việc xác định sản phẩm và phân khúc ngành dựa trên ứng dụng giúp nắm bắt cơ hội thị trường, tối ưu hóa chuỗi giá trị và nâng cao hiệu quả tiếp cận người đọc cho nội dung SEO.
- Theo mức độ hiện đại: có thể phân thành công nghệ cổ điển, CN trung gian, CN tiên tiến
- Theo đặc thù: Căn cứ vào vai trò của công nghệ với một quốc gia ta có thể phân thành: CN then chốt, CN truyền thống, CN mũi nhọn
- Theo mục tiêu: Có thể phân thành CN dẫn dắt, CN thúc đẩy, CN phát triển
- Theo sự ổn định của công nghệ có thể phân thành: CN cứng, CN mền
2.1.2 Quản trị hoạt động khoa học - kỹ thuật công nghệ
Đây là quá trình sử dụng một hệ thống các biện pháp nhằm bố trí, phối hợp và thực hiện một cách hiệu quả nhất các yếu tố khoa học - kỹ thuật và công nghệ trong sản xuất KD Việc tối ưu hóa các yếu tố này giúp nâng cao hiệu suất, chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh của doanh nghiệp Bằng cách kết hợp phân tích khoa học, ứng dụng công nghệ tiên tiến và quản lý quy trình, quá trình sản xuất KD được đồng bộ hóa từ nghiên cứu và thiết kế đến sản xuất và vận hành.
2.2 Ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ trong doanh nghiệp và chuyển giao công nghệ
2.2.1 Ứng dụng tiến bộ khoa học- kỹ thuật
Để đứng vững và mở rộng trên thị trường, các doanh nghiệp phải nhanh chóng nắm bắt và ứng dụng những tiến bộ KH-KT hiện đại vào sản xuất và kinh doanh, vì các sản phẩm có hàm lượng khoa học và công nghệ cao sẽ chiếm ưu thế cạnh tranh Doanh nghiệp cần xây dựng thế mạnh dựa trên các sản phẩm được thiết kế để đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng về số lượng, chất lượng, kiểu dáng và tính thẩm mỹ, đồng thời nâng cao năng lực thỏa mãn khách hàng hơn so với đối thủ Quan trọng là duy trì chi phí sản xuất thấp hơn các sản phẩm cùng loại của đối thủ để gia tăng lợi thế cạnh tranh.
Nội dung ứng dụng tiến bộ KH- KT vào SXKD trong DN gồm:
- Sử dụng có hiệu quả cơ sở VC-KT hiện có
- Mua sắm trang thiét bị mới, đổi mới quá trình công nghệ SX
- Đẩy mạnh phong trào thi đua phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất
- Liên kết ứng dụng khoa học kỹ thuật trong và ngoài nước
Chúng ta tích cực đào tạo và phát huy đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ khoa học quản lý và công nhân lành nghề, đồng thời bảo đảm bồi dưỡng vật chất thỏa đáng cho họ Việc sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực này được xây dựng trên nền tảng chế độ vật chất xứng đáng, nhằm nâng cao năng lực tổ chức, chất lượng sản phẩm và hiệu quả quản lý Đây là yếu tố then chốt để phát triển bền vững và thu hút, giữ chân nguồn nhân lực có trình độ cao.
- Nâng cao trình độ quản lý, trong đó chú trọng vai trò quản lý kỹ thuật
- Tăng cường đầu tư vốn
- Thực hiện các hợp đồng nghiên cứu ứng dụng tiến bộ KH- KT giữa DN với các cơ quan nghiên cứu
49 Ứng dụng tiến bộ KH- KT là biện pháp rất cơ bản để tăng NSLĐ và tăng hiệu quả kinh tế của SX
Có 5 nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến NSLĐ
- Ứng dụng tiến bộ khoa học- kỹ thuật
- Nâng cao trình độ văn hoá và chuyên môn của những người lao động
- Hoàn thiện các nhân tố tổ chức quản lý
Người ta coi ứng dụng tiến bộ KH - KT là nhân tố quan trọng nhất để tăng
NSLĐ, hoàn thiện được công cụ SX và tăng hiệu quả của công cụ sản xuất đó
Chúng ta hãy xét công thức sau:
J: Phần tăng của thu nhập quốc dân
L: Số lao động được huy động vào sản xuất trực tiếp
L: Số lao động được huy động vào sản xuất trực tiếp tăng lên
P: NSLĐ của một lao động sản xuất trực tiếp
P: NSLĐ của một lao động sản xuất trực tiếp tăng lên
Như vậy mức tăng thu nhập quốc dân phụ thuộc chủ yếu vào 2 yếu tố: tăng lao động vào các lĩnh vực sản xuất trực tiếp và tăng NSLĐ
Tăng số lượng LĐ phù hợp với phát triển kinh tế theo chiều rộng và đây là một nhân tố giới hạn