1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI TIỂU LUẬN môn LUẬN đại THỪA KHỞI TÍNNHỮNG điều tâm đắc KHI NGHIÊN cứu và THỰC HÀNH đại THỪA KHỞI tín LUẬN

20 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 214,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THÍCH ĐỒNG TRÍ, Người đã tận tâm giảng dạy và hướng dẫn cho con trong quá trình thực hiện tiểu luận này.Thành kính tri ân Hội đồng điều hành Học viện Phật giáo Việt Nam tại thành phố Hồ

Trang 1

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CƠ SỞ I

KHOA ĐÀO TẠO TỪ XA - KHÓA VI

THÍCH TÂM AN (LÂM THANH TÂN) NHỮNG ĐIỀU TÂM ĐẮC KHI NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH ĐẠI THỪA KHỞI TÍN LUẬN

BÀI TIỂU LUẬN GIỮA KỲ VI MÔN: LUẬN ĐẠI THỪA KHỞI TÍN

Tp HCM, tháng 6 năm 2022

Trang 2

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CƠ SỞ I

KHOA ĐÀO TẠO TỪ XA - KHÓA VI

THÍCH TÂM AN (LÂM THANH TÂN) NHỮNG ĐIỀU TÂM ĐẮC KHI NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH ĐẠI THỪA KHỞI TÍN LUẬN

BÀI TIỂU LUẬN GIỮA KỲ VI MÔN: LUẬN ĐẠI THỪA KHỞI TÍN

MSSV: TX6384

GVHD: TT.TS THÍCH ĐỒNG TRÍ

Tp HCM, tháng 6 năm 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là bài tiểu luận của riêng tôi Tôi đã dành nhiều thời gian và tâm huyết để tìm và đối chiếu các nguồn tài liệu nghiên cứu Các thông tin, tài liệu tham khảo và kết quả trong bài tiểu luận là hoàn toàn trung thực, cụ thể, được kiểm duyệt kĩ lưỡng bằng nhiều phương pháp khác nhau và tôi chưa từng công bố tập luận văn này trong bất kỳ trường hợp nào

LỜI CẢM ƠN Xin chân thành tri ân TT.TS THÍCH ĐỒNG TRÍ, Người đã tận tâm giảng dạy và hướng dẫn cho con trong quá trình thực hiện tiểu luận này.Thành kính tri ân Hội đồng điều hành Học viện Phật giáo Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh cùng chư

vị Giáo thọ sư đã dạy dỗ, động viên, khích lệ và giúp đỡ cho con trong suốt khoảng thời gian vừa qua.Xin chân thành tri ân Thượng Tọa Bổn Sư thượng Thanh hạ Phong, Vị ân sư khả kính, người đã tạo điều kiện cho con được xuất gia tu tập và lo lắng cho con về mọi mặt trong cuộc sống tu học.Xin chân thành cảm ơn Ba Mẹ người đã sinh con ra thân mạng này để được sống và tu học theo giáo pháp và con đường Giác Ngộ của Đức Phật.Xin cảm ơn tất cả những bậc thiện hữu tri thức đã giúp đỡ con trong quá trình học tập và hoàn thành tiểu luận này.Trong quá trình thực hiện, tiểu luận này con còn có nhiều khuyết điểm Ngưỡng mong chư vị Tôn Đức cùng các bậc thiện hữu hoan hỷ và chỉ điểm thêm để con được học hỏi và hoàn thiện bản tiểu luận này

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐẠI THỪA KHỞI TÍN LUẬN 1.1 Nguyên Nhân Tạo Luận:

1.2.Giải Thích Tên Luận Đại Thừa Khởi Tín:

1.3.Cấu Trúc Nội Dung:

CHƯƠNG 2:NHỮNG ĐIỀU TÂM ĐẮC KHI NGHIÊN CỨU ĐẠI THỪA KHỞI TÍN LUẬN

2.1 Đức Tin Đại Thừa là Tin Vào Thể Tướng Dụng của Tâm:

2.2 Phần Giác trong luận Đại thừa khởi tín có nói đến bốn tướng, là giác niệm diệt, niệm dị, niệm trụ và niệm sinh:

CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG TU TẬP TỨ DIỆU ĐẾ TRONG ĐỜI SỐNG HẰNG NGÀY QUA LĂNG KÍNH ĐẠI THỪA KHỞI TÍN LUẬN

3.1 Nhận diện khổ đau:

3.2.Nhìn sâu tìm ra nguyên nhân của khổ đau:

3.3 Nhận diện hạnh phúc chân thật:

3.4.Con đường thoát khổ:

C.KẾT LUẬN

D.DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

A.DẪN NHẬP

Trang 5

Từ hơn 2.000 năm trước, Phật giáo đã du nhập, bén rễ, lan tỏa và hòa quyện trong đời sống dân gian của người Việt, tư tưởng vô ngã, vị tha, bình đẳng, từ bi đã thấm sâu vào tiềm thức của cư dân Việt qua các thế hệ, thực sự hòa làm một với dân tộc Việt, tạo nên nền văn hóa Việt đầy tính nhân bản và đậm đà bản sắc Ở mỗi thời kỳ lịch sử, Phật giáo đều để lại những dấu ấn sâu đậm, góp phần quan trọng trong việc phát triển tư tưởng nền tảng của văn hóa, đạo đức dân tộc Việt Văn hóa Phật giáo

đã hòa vào dòng chảy của văn hóa dân tộc, trở thành một nhu cầu tâm linh không thể thiếu trong đời sống của đại bộ phận người dân Những triết lý, giáo lý và giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của Phật giáo phù hợp với văn hóa, đạo đức, lối sống và tính cách của người Việt trở thành nếp sống, thói quen sinh hoạt hàng ngày của người dân, giúp Phật giáo có vị trí vững vàng trong lòng dân tộc Việt Từ khi GHPGVN được thành lập đến nay, nền văn hóa dân tộc cũng có những biến đổi, theo đó Phật giáo cũng có những vận động phù hợp với xu thế thời đại, bắt nhịp với quá trình hiện đại hóa của đất nước, dung hòa với đời sống tư tưởng và tinh thần hiện đại Theo triết lý nhà Phật những thay đổi đó cũng là “tùy duyên”, Phật giáo hôm nay phổ độ chúng sinh nhiều hơn, cập nhật hơn với đời sống, vừa là thành tố của văn hóa vừa là giá trị văn hóa của nhân loại Những đóng góp của Phật giáo Việt Nam đối với văn hóa dân tộc có thể khái quát trên các giáo lý kinh điển cũng như các bộ luận ,đó là lý do học viên chọn đề tài:Những điều tâm đắc khi nghiên cứu và thực hành Đại Thừa Khởi Tín Luận.Với nội dung gồm 3 chương cùng với phương

pháp tổng phân tích nội dung cần làm sáng tỏ từ đó người viết hướng đến ứng dụng

tu tập trong đời sống hàng ngày

B.NỘI DUNG

Trang 6

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐẠI THỪA KHỞI TÍN LUẬN 1.1 Nguyên Nhân Tạo Luận:

Trong khoảng 600 năm, sau khi Phật nhập diệt, tại Ấn độ, phần thì phái Tiểu thừa nổi lên tranh chấp, không tin lý Đại thừa, phần thì ngoại đạo lập các tà thuyết phá hoại chánh pháp; tình trạng Phật giáo rất đen tối.Ngài Mã Minh Bồ Tát[1], trông thấy tình trạng ấy rất đau lòng, nên tạo ra luận này, để xô tà đỡ chánh: trừ những nghi ngờ của Tiểu thừa, phá các tà thuyết của ngoại đạo, làm cho người phát khởi lòng tin Đại thừa

1.2.Giải Thích Tên Luận Đại Thừa Khởi Tín:

Luận Luận là luận bàn lẽ tà chánh, quyết đoán điều nghi ngờ và lựa chọn những việc phải quấy.Đại thừa Chữ “Đại” là lớn, chữ “Thừa” là cởi Đọc chữ “Thặng” nghĩa là cái xe Theo đây phải đọc là “Thặng” mới đúng, song vì theo thói quen nên đọc là “Thừa” Đại thừa có 5 nghĩa:

1 Vì đối với Tiểu nên gọi là Đại

2 Quả Phật rộng lớn, thừa này sẽ đi đến quả Phật, nên gọi là Đại Thừa

3 Chư Phật là bực Đại nhơn, song chẳng rời thừa này, nên gọi là Đại Thừa

4 Các Bồ Tát là bực Đại sĩ, đều y theo thừa này mà tu tập, nên gọi là Đại Thừa

5 Vì thừa này rất rộng lớn, cứu độ chúng sanh đông nhiều nên gọi là Đại Thừa Luận[2] là, quyết trạch đúng sai, phát minh chánh lý, giảng trạch những thứ chẳng phải là kinh luận, dùng luận để minh chứng Tiểu thừa thì chẳng tin duy tâm, ngoài tâm thủ pháp, khởi nhiều tranh luận Ngoại đạo thì tà chấp, phá hoại chánh pháp Nên Luận chủ khởi lòng thương xót mà tạo luận này.Luận này vốn y cứ theo trăm

bộ Đại thừa như Lăng Già, Tư Ích … mà làm ra, phát minh ý chỉ duy tâm duy thức, tóm qui về nhất tâm Nó là cương yếu của 2 tông Tánh Tướng, thâm cùng cội nguồn của mê ngộ, chỉ bày yếu chỉ thẳng tắt của việc tu hành Nghĩa là, tổng nhiếp tất cả nghĩa lý sâu mầu mà Như Lai đã nói Thật là cương lĩnh chính yếu của Đại giáo, ý chỉ đích thực của Thiền Tông!

1.3.Cấu Trúc Nội Dung:

Khởi Tín Luận (起起起; Śraddhotpāda Śāstra = phát khởi niềm tin) gọi đủ là Đại Thừa Khởi Tín Luận (起起起起起; Mahāyāna Śraddhotpāda Śāstra) là bộ luận quan trọng, giới thiệu một cách cô đọng và bao quát về triết học đại thừa Trong tựa đề nguyên tác Sanskrit, có ba thuật ngữ được đề cập đến.Mahāyāna có nghĩa là đại thặng, thường quen đọc là đại thừa[3], chỉ cho cỗ xe lớn, có khả chuyên chở cùng một lúc nhiều hành giả đến bến bờ giác ngộ tối thượng (vô thượng chánh đẳng chánh giác) Đây là con đường chuyển hoá rộng lớn của các bậc đại nhân hay đại sĩ, trên nền tảng của tình thương cứu độ vượt thoát khỏi ranh giới của thân sơ Phương thức chuyên chở

và cứu cánh của bờ bên kia là hai tiêu chí để xác lập đâu là cổ xe lớn và cổ xe thông thường còn lại Đại thừa là cổ xe lớn, đáp ứng nhu cầu của nhiều căn cơ, có khả năng giúp cho nhiều người và nhiều loài được an vui và giác ngộ Do đó, đại thừa là

cổ xe của lòng vị tha, vô ngã và dấn thân phục vụ cộng đồng không mệt mỏi Đại thừa thường được xác lập trên cái tâm từ bi vĩ đại đối với chúng sanh và trí tuệ bao

la trong cách hoá độ; hoàn toàn không phải là thuật ngữ chỉ cho những vị sư theo

Trang 7

truyền thống Nam tông hay Bắc tông hay hình thức ăn mặc của các vị sư trong hai truyền thống ấy.“Khởi tín” là từ dịch sát nghĩa của tiếng Phạn là śraddhotpāda

“Pāda” trong ngữ cảnh này còn có nghĩa là “thiết lập,” “xây dựng,” hay “nền tảng.”

“Śraddha” có nghĩa đen là “niềm tin,” với đối tượng không phải là thượng đến hay

sự ban phước giáng hoạ, sự hên xui may rủi, mà là lòng xác quyết trước chân lý, và

dĩ nhiên chân lý ở đây là lý đại thừa Do đó, “khởi tín” có thể dịch là “thiết lập niềm tin,” hay “xây dựng niềm tin,” hoặc bóng bẩy hơn là “đánh thức niềm tin” (the awakening of faith) như bản dịch tiếng Anh của Suzuki và Timothy Richard.“Luận” (śāstra) là thuật ngữ chỉ chung cho các tác phẩm Phật học của các vị tổ sư Phật giáo, giới thiệu một cách có hệ thống giáo nghĩa Phật dạy trong các kinh, hoặc chỉ cho một học thuyết Phật học do một vị luận sư hay tổ sư chủ xướng như một cách thức hiểu và hành trì Phật học, có ít nhiều liên hệ hoặc độc lập với các tác phẩm có trước, hay là một tác phẩm nhằm chiết phục các chủ thuyết của các tư tưởng gia ngoài đạo Phật, hay chỉnh đốn lại các học thuyết đã có trong Phật giáo.“Đại Thừa Khởi Tín Luận” có thể được dịch là “Phát Khởi Niềm Tin về Đại Thừa” hay “Xây Dựng Niềm Tin về Đại Thừa” hay “Đánh Thức Niềm Tin về Đại Thừa.” Cần lưu ý ở đây rằng cụm từ “Đại thừa khởi tín” (mahāyāna śraddhotpāda) không nên dịch là “phát khởi niềm tin đại thừa,” mà là “phát khởi niềm tin về/đối với đại thừa.” Các bản chữ Hán dịch rất xác với bản Sanskrit là “khởi đại thừa chi tín” (起起起起起 = phát khởi niềm tin

về đại thừa) hoặc “đại thừa chi khởi tín (起起起起起 = sự phát khởi niềm tin về đại thừa).HT Thích Thiện Hoa dịch “đại thừa khởi tín” thành “phát khởi lòng tin đại thừa” trong đoạn sau đây: “Luận này làm cho người phát khởi lòng tin Đại thừa, nên gọi là “Đại thừa khởi tín[4].” Cao Hữu Đính vì quá cố gắng o ép “đại thừa” thành

“tâm đại thừa” nên đã dịch “đại thừa khởi tín” thành “phát khởi tín tâm Đại Thừa[5]” làm cho mạch văn trở nên tối nghĩa HT Thích Trí Quang đã đồng ý với quan điểm của Cao Hữu Đính, khi cho rằng: “Đại thừa khởi tín không có nghĩa nhiều rằng phát khởi đức tin đối với đại thừa, mà nghĩa chính là phát khởi đức tin đại thừa: đức tin tin cái Tâm đại thừa.[6]” Trên thực tế, tâm đại thừa chỉ là một trong những nội dung quan trọng của đức tin về đại thừa, không thể thay thế cho toàn bộ nội dung của đức tin về đại thừa được.Phần chính văn của Khởi Tín Luận ghi rất rõ:

“khởi Đại thừa chi chánh tín” (起起起起起起) tức “làm khơi dậy niềm tin về đại thừa một cách chân chánh[7].” Cũng cần nói thêm rằng “phát khởi niềm tin đại thừa” có nội dung khác với “phát khởi niềm tin về/đối với đại thừa” vì trong mệnh đề đầu, niềm tin ở đây được hiểu là niềm tin đại thừa, khác với các niềm tin phi đại thừa Như vậy, đại thừa trở thành tính từ bổ nghĩa cho danh từ niềm tin, chứ không nói lên được bản chất và nội dung của niềm tin này là gì mà được gọi là cổ xe lớn Trong khi đó, trong mệnh đề “phát khởi niềm tin về đại thừa,” thuật ngữ “đại thừa” trở thành tân ngữ của động từ niềm tin, chỉ tin về đại thừa, chứ không tin theo bất kỳ cái

gì khác ngoài đại thừa, và đại thừa ở đây làm cho niềm tin trở nên vĩ đại Niềm tin

về đại thừa tức tin vào giáo pháp cao siêu, có khả năng chuyển hoá nhiều người đạt ngộ, giải thoát khổ đau.Như vậy, bản chất của “đức tin đại thừa” đó là gì? Cao Hữu Đính đã dựa vào một đoạn văn trong bản dịch chữ Hán khẳng định rằng đó là niềm tin vào cái tâm bình thường ở mọi người và mọi chúng sinh có khả năng giúp cho

Trang 8

chúng sinh có thể đi và đến như chư Phật: “Bốn chữ ‘Đại Thừa Khởi Tín’ phải được hiểu theo nghĩa đúng đắn của nó là: ‘phát khởi lòng tin vào chính cái Tâm bình thường ở ngay nơi mình Từ cái Tâm bình thường đó, chúng sinh sẽ đi đến đất Phật, như Bồ tát đang đi và sẽ đến như chư Phật đã đến[8].”HT Thích Trí Quang đã giải thích đức tin đại thừa trên nền tảng thể tướng dụng của tâm, vốn khác với các niềm tin tôn giáo thông thường:Đức tin đại thừa là tin vào thể tướng dụng của Tâm Tâm

ấy vĩ đại, Tâm ấy đưa những bậc vĩ đại đạt đến vị trí vĩ đại Đó là sự tự tín không phải như đức tin của tôn giáo thượng đế hay ý thức về ngã Tin Phật, đấng thực chứng về tâm, khai thị tâm ấy, và hội trì để cho người khác cũng tin tưởng và thực chứng được Tâm ấy, tin Phật như vậy, và đức Phật được tin như vậy, cũng là biểu hiện của đức tin đại thừa mà không có gì so sánh được[9].Thực ra, niềm tin về đại thừa trong Khởi Tín Luận không chỉ tin vào cái tâm vĩ đại, để đạt đến vị trí vĩ đại,

mà là tin tất cả giáo nghĩa, học thuyết và sự hành trì đại thừa, được giới thiệu trong các Kinh luật đại thừa như Hoa Nghiêm, Mật Nghiêm, Thắng-man, Kim Quang Minh, Đại Tập, Lăng-già, Anh-lạc, Bát-nhã, Pháp Hoa và Niết-bàn[10] Tác giả của Khởi Tín Luận Sớ Ký Hội Duyệt: 33, cho rằng các Kinh Luật nêu trên được xem là kinh điển nền tảng về đại thừa đã được ngài Mã Minh tóm tắt một cách cô đọng và súc tích trong Khởi Tín Luận.Các niềm tin về đại thừa này đã được trình bày một cách ngắn gọn nhưng vẫn sâu sắc, kèm theo đó là các phần quyết nghi, được trình bày dưới dạng tự vấn đáp Các nội dung tiêu biểu nhằm xác lập niềm tin về đại thừa bao gồm:

a) Thuyết nhất tâm cho rằng tâm chúng sinh và tâm Như Lai vốn không khác nhau

về mặt chân lý tuyệt đối (chân đế);

b) Thuyết nhị môn chủ trương rằng tâm có hai phương diện là tâm nhìn từ phương diện bản thể (tâm chân như môn) và tâm nhìn từ phương diện hiện tượng (tâm sinh diệt môn);

c) Tam đại của tâm bao gồm ba cái lớn về mặt bản thể (thể đại), về mặt hình tướng (tướng đại) và về mặt hoạt dụng (dụng đại)

d) Hai loại chân như (Bhūtatathatā) tức ly ngôn chân như (ngôn thuyết, danh từ và tâm duyên) và y ngôn chân như (như thật không và như thật bất không)

e) Phân biệt tâm bất giác (gồm nghiệp tướng, chuyển tướng và hiện tướng) và tâm giác ngộ (gồm thuỷ giác và bản giác)

f) Bản chất đồng và dị của bất giác và giác ngộ cũng như của tất cả mọi sự vật hiện tượng

g) Phân biệt tâm (tức a-lại-da = ālayavijñāna) với ý (tức năm ý: nghiệp thức, chuyển thức, hiện thức, trí thức và tương tục thức) và thức (tức ý thức hay phân biệt sự thức)

h) Các huân tập nhiễm pháp (vô minh, vọng cảnh và vọng tâm) và huân tập tịnh pháp (huân tập chân như)

CHƯƠNG 2:NHỮNG ĐIỀU TÂM ĐẮC KHI NGHIÊN CỨU ĐẠI THỪA

KHỞI TÍN LUẬN 2.1 Đức Tin Đại Thừa là Tin Vào Thể Tướng Dụng của Tâm:

Trang 9

Bộ luận Đại thừa khởi tín, nghĩa là phát khởi đức tin đối với Phật giáo Đại thừa Nhưng thật dễ lầm lẫn thay khi từ Đại thừa ở đây không có nghĩa đối lại với Tiểu thừa hay thừa nào khác Tức là bộ luận hoàn toàn không có ý nghĩa chiêu mộ tín đồ

đi theo phong trào Phật giáo phát triển mà ta gọi là Phật giáo Đại thừa, để rồi quay lưng với Phật giáo Nguyên thỉ hay Tiểu thừa Thật bất ngờ cho những ai có đầu óc ngây ngô chứa đầy sự phân biệt khi biết rằng từ Đại thừa ở đây được Mã Minh đại sĩ dùng để định nghĩa cho cái Tâm! Và vì vậy, Đại thừa khởi tín có nghĩa chính là phát khởi đức tin tin cái Tâm Đại thừa, và nói thẳng Đại thừa là Tâm chúng sinh[11].Trong kinh điển Nguyên thủy, đức Phật thường dạy rằng không nên đặt niềm tin vào bất cứ ai nếu chưa tự mình có sự thẩm định chắc chắn Tăng chi bộ kinh, chương 3, phẩm 7, tiểu mục 65, đoạn 8 ghi rõ lời Phật dạy:“… Chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ

có tin vì được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì lý luận suy diễn; chớ có tin vì diễn giải tương tự; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị sa-môn là bậc đạo sư của mình…”(Bản dịch từ Kinh tạng Pli của Hòa thượng Thích Minh Châu) Bộ luận này để chỉ cho chúng sinh diệt trừ hoài nghi, loại bỏ chấp lầm,

có thể phát sinh đức tin Đại thừa, làm cho hạt giống Phật không bị mất đi”.Chúng sinh hoài nghi cái gì? Chấp lầm cái gì? Hoài nghi về Đại thừa, và chấp lầm có nghĩa

là nhận thức lệch lạc hay chưa chính xác về Đại thừa Sự hoài nghi ấy phát sinh từ kiến chấp cho rằng Phật chỉ là La-hán, và không ai có thể như Phật Đại thừa xác quyết, Phật không chỉ là La-hán Và khẳng định ai cũng có thể thành Phật Mà muốn thành Phật thì phải lấy đức tin Đại thừa làm hạt giống tạo nên.Lấy đức tin Đại thừa làm hạt giống chính là lấy cái Tâm, tin Phật chính là cái Tâm này Đại thừa được hiểu như thế, nên nó được định nghĩa một cách tổng quát: “có hai: một là bản thân Đại thừa, hai là ý nghĩa của bản thân ấy.”Bản thân Đại thừa thì chính là Tâm chúng sinh Tâm ấy bao gồm toàn thể pháp thế gian và pháp xuất thế gian[12] Nói cách khác, Tâm ấy bao gồm cả hai mặt, mặt Chân như[13] và mặt sinh diệt Chân như là thể của Tâm, sinh diệt là tướng dụng của Tâm Tâm như vậy bao hàm tất cả và được

ví dụ như nước Nước gồm có nước, tính ướt của nước và sóng Sóng thì có cao, có thấp, có cả sóng thần Nước thì có thể là mây, là mưa, là băng, là tuyết, là nước đá,

là sông hồ biển cả… Nhưng tính của nước chỉ có ướt mà thôi Tâm của chúng sinh cũng vậy Thể của Tâm như tính ướt, tướng của Tâm như nước, và dụng của Tâm như sóng Cho nên, có khi chúng sinh là người, là trời, là a-tu-la, là ngạ quỷ, súc sinh… phải sinh tử luân hồi, trôi lăn trong ba cõi, nhưng Tâm chân như của nó không bao giờ thay đổi Tâm chân như ấy là Phật tính Vì vậy, Phật giáo tôn trọng tất cả mọi loài chúng sinh và tin rằng tất cả rồi sẽ thành Phật Niềm tin ấy đã trở thành một động lực hình thành nên cả một hệ thống giáo dục chuyển hoá rất nhân bản mà không một hệ thống giáo dục tiên tiến nào trên thế giới có thể so sánh được Đại tướng cướp Angulimàla được chuyển hoá thành A-la-hán Bất Hại là một minh chứng vậy!Bản thân Đại thừa như vậy nên ý nghĩa của bản thân ấy đều là vĩ đại, Nội dung của đại thừa bao gồm ba phương diện vĩ đại hay phổ quát hoá: thể đại thừa, tướng đại thừa và dụng đại thừa Thể tướng và dụng[14] là ba phương diện của tất

Trang 10

cả sự vật và hiện tượng, từ vật lý đến tâm lý Nguyên lý bộ ba này rất giống với quan niệm của triết gia Spinoza về thực thể (substance), đặc tính (attributes) và phương thức (modes) và dĩ nhiên cũng rất gần với học thuyết “thực (dravya, substance), đức (guna, qualities) và nghiệp (karma, action)” của Số Luận (Vaiṣeśika).Thể là bản chất hay nền tảng của một sự vật Tướng ở đây không có nghĩa là tướng trạng hay tướng hình mà là tính chất hay đặc điểm của sự vật đó Dụng là hoạt dụng hay tác dụng của sự vật hay hành vi của con người cụ thể.Ví dụ, mặc dù nước có nhiều loại như nước sông, nước biển, nước mưa, nước suối, nước bọt, nước dịch, nước đá, hơi nước v.v… nhưng có cùng chung một thể là chất lỏng Như vậy có thể gọi “chất lỏng không màu” là thể của nước, dù là loại nước gì Tính chất (tướng) của nước rất khác nhau, tuỳ thuộc điều kiện và môi trường Nước biển

có vị mặn và nhìn thì thấy tưởng chừng có màu xanh do độ sâu thẳm của biển Các loại nước sông không có vị mặn, đục trong khác nhau tuỳ theo địa dư và chất phù

sa, thượng nguồn hay hạ nguồn, trăng tròn hay trăng khuyết Các loại nước dịch có mùi vị khác nhau Trong khi đó, nước đá thì lạnh ngắt Hơi nước lại bay lên trên, rồi trong điều kiện nhiệt độ nhất định sẽ trở thành mưa và rơi xuống đất Tính chất khác nhau của các loại nước đã tạo ra hoạt dụng của nước Có loại nước được dùng để uống, để giải khát, để tắm giặt, để bơi lội, để tăng cường thể lực trong y học, để chạy các động cơ, để tạo nguồn phát điện, để điều hoà nhiệt độ v.v… Dụng của nước tuỳ thuộc vào bản thể và tính chất của từng loại nước Không có thể chất lỏng thì nước không còn là nước nữa.Thể của đại thừa chính là trạng thái chân như, chưa

hề bị biến thiên, chưa từng tăng và giảm, vẫn giữ nguyên trạng thái bình đẳng Chân như là bản chất “như vậy” của mọi sự vật hiện tượng, trạng thái chưa bị phân cách của ý thức phân biệt thông qua các học thuyết nhất nguyên và nhị nguyên, hữu thần

và vô thần.Tướng của đại thừa chính là các đặc tính của đại thừa Đặc tính này chính

là kho tàng như lai hay phôi thai giác ngộ, có khả năng nuôi dưỡng và trưởng thành tất cả tiềm năng công đức (tính công đức), giúp người thành tựu tất cả các giá trị cao thượng và siêu việt của đạo đức và tuệ giác.Dụng của đại thừa chính là năng lực làm sản sinh tất cả nhân lành quả tốt của đời và của đạo Nhân lành quả tốt thuộc thế gian bao gồm tất cả hành vi mang lại lợi lạc và hạnh phúc nhân bản và thiên giới Nhân lành quả tốt thuộc xuất thế gian chính là quả giác ngộ từ thánh quả a-la-hán trở lên, giúp cho hành giả không còn thoái lui trong sinh tử luân hồi Hành giả đạt được quả giác ngộ rồi có khả năng chuyển hoá người khác cùng đạt được các giá trị

an vui như mình.Thể tướng dụng như vậy đều là biểu hiện và là hai mặt của Tâm Mặt chân như (thể) và mặt sinh diệt (tướng, dụng) Cả hai mặt đều bao quát toàn thể các pháp và không phải tách rời nhau Như hai mặt của một bàn tay Mặt chân như

là tâm thể phi sinh diệt Hết thảy các pháp chỉ do phân biệt mà có sai biệt, tách rời phân biệt thì đối tượng cũng không có Cho nên, vạn pháp xưa nay phi ngôn ngữ, phi văn tự, phi nhận thức, tuyệt đối nhất quán, không hề chuyển biến, không thể phá huỷ Tâm như vậy là Nhất tâm – cái Tâm đồng nhất Đồng nhất thế nào? Đồng nhất giữa các pháp với các pháp, giữa chúng sinh với chúng sinh, giữa chúng sinh với Phật Khởi tín khẳng định: Hết thảy Phật đà đã vận dụng và hết thảy Bồ Tát đang vận dụng cái Tâm[15] như vậy mà đạt đến địa vị Như lai.Mặt sinh diệt là mặt

Ngày đăng: 26/07/2022, 10:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w