1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUAN điểm về LUÂN hồi của bà LA môn và PHẬT GIÁO TIỂU LUẬN môn TRIẾT học tôn GI

22 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 164,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để chấm dứt sự hoành hành của những câu hỏi ấy, cóngười đã tìm cách chấm dứt đời mình với thuộc độc; có người lẫn tránh trong thuốcphiện, trong rượu nồng dê béo, trong sóng mắt làn môi..

Trang 1

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH

Trang 2

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH

Trang 3

A.NỘI DUNG

CHƯƠNG 1:KHÁI QUÁT LÝ THUYẾT VỀ NGUỒN GỐC TÔN GIÁO

1.1.Thuyết vạn vật hữu linh

1.2.Thuyết sùng bái thiên nhiên

1.3.Thuyết tôn giáo là sự phóng chiếu những nhu cầu của con người CHƯƠNG 2:KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BÀ LA MÔN VÀ PHẬT GIÁO 2.1 Bà-la-môn

2.2 Phật giáo

CHƯƠNG 3:QUAN NIỆM LUÂN HỒI CỦA BÀ LA MÔN VÀ PHẬT GIÁO 3.1 Luân hồi và những hiểu lầm về luân hồi

3.1.1 Luân hồi là gì?

3.1.2 Những hiểu lầm về luân hồi

3.2 Luân hồi trong Bà la môn và Đạo Phật

3.2.1 Luân hồi trong Bà la môn

3.2.2 Luân hồi trong đạo Phật

C.KẾT LUẬN 12

D.DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 4

A.MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài:

Trong cõi mông lung, vô cùng vô tận của trời đất, con người thật bé nhỏ, như một hònsỏi, như một hạt cát; trong cái vĩnh viễn không đầu không cuối của thời gian, con ngườixuất hiện và mất đi nhanh như ánh sáng chợt đỏ, chợt tắt của con đom đóm, như ánh sángcủa một làn chớp Nhưng khổ thay, con người bé nhỏ và chóng tan biên ấy lại mang trongđầu óc những câu hỏi quá to lớn: "Ta từ đâu đến đây? Ta đến đây để làm gì? Đến đây rồi

ta sẽ chấm dứt cuộc hành trình sau hơi thở cuối cùng ở đây, hay còn tiếp tục đi nữa? Điđâu? Đi hay về? Đi theo một con đường thẳng hay đường cong? Đi xuống hay đi lên?".Quá khứ đã không hay; tương lai cũng sẽ không biết, còn hiện tại thì quá ngắn ngủi phùdu!Và than ôi! ngay trong cái hiện tại ngắn ngủi ấy, cũng đã chứa đựng không biết baonhiêu sự bất công, vô lý:Tại sao người ấy đẹp mà ta xấu? người kia giàu mà ta nghèo?người ấy sướng mà ta khổ? Tại sao có người chết yểu, có người sống lâu? có người thôngminh có người ngu muội? có người hiền lương, có kẻ ác độc?Tại sao và tại sao!Bao nhiêucâu hỏi xoay tít trong đầu, như những cái chong chóng, gầm thét kêu gào, đòi hỏi, làmcho người ta điên đầu, lộn não Để chấm dứt sự hoành hành của những câu hỏi ấy, cóngười đã tìm cách chấm dứt đời mình với thuộc độc; có người lẫn tránh trong thuốcphiện, trong rượu nồng dê béo, trong sóng mắt làn môi Đề cho khỏe não, có người tựbảo mọi sự mọi vật đều do ý Trời sắp đặt; có người bảo là do một mãnh lực tiền định, cóngười bảo là sự may rủi trớ trêu, không có nguyên do, luật lệ gì cả.Nhưng những câu giảiđáp gượng gạo trên, không làm thỏa mãn được những tâm hồn thiết tha muốn tìm hiểu sựthật:Bảo rằng do ý một vị Thần sắp đặt thì ý vị thần ấy thật mâu thuẫn, phi lý, độc tài.Xưa, đức Phật đã nói như sau đây, khi đề cập đến thần Brahma:"Người đã chứng kiếnbao sự đau khổ ở trước mắt, tại sao không làm cho chúng sanh được an vui? Nếu người

ấy có nhiều thần lực, tại sao không dùng thần lực để cứu độ chúng sanh? Tại sao nhữngcon sanh của người ấy lại phải chịu lắm điều khổ sở? Tại sao người ấy không ban phướclành đến cho con họ? Tại sao những xảo quyệt giả dối, mê lầm vẫn tồn tại mãi mãi? Tạisao gian xảo càng ngày càng tăng tiến, còn chân lý và công bằng lại phải lu mờ? Ta xemthần Brahma như một người vô cùng bất công đối với kẻ bị sanh ra trong thế giới đầy dẫynhơ bẩn, xấu xa này" (Kinh Bhùcidatta Jataka).Nếu bảo rằng mọi sự vật ở đời đều domột sức mạnh tiền định, chi phối tất cả, thì thử hỏi sức mạnh ấy là sức mạnh gì? Của ai?

Có sáng suốt hay mù quáng? Nếu không giải đáp được những câu hỏi phụ thuộc ấy, mà

cử quyết đoán như thế, thì thật là quá nông nổi.Còn nếu bảo rằng sự hiện hữu của cõi đờinày, không do một nguyên nhân gì cả, thì thật là vô cùng phi lý! vì chúng ta hãy nhìnchung quanh ta, có một cái gì sanh ra mà không có nguyên nhân không?Riêng nói vềsanh mạng con người, có hai quan niệm thông thường, trái ngược nhau:Quan niệm chấpđoạn, cho rằng con người chỉ có một đời trong hiện tại, trong khoảng một trăm năm; đếnkhi nhắm mắt xuôi tay, thân thể tan ra tro bụi và kiến văn, tri giác cũng không còn gì hết.Chết là hết, là hoàn toàn mất hẳn.Quan niệm chấp thường, cho rằng linh hồn bất tử: saukhi chết, thân thể tan rã, nhưng linh hồn thường còn mãi mãi, sẽ lên cõi Thiên đường đểthọ hưởng vĩnh viễn những sự an vui khoái lạc (nếu trong đời hiện tại ăn ở hiền lương)hay sẽ bị đoạ xuống địa ngục chịu khổ mãi mãi (nếu trong đời hiện tại làm nhiều điều tội

Trang 5

lỗi).Hai quan niệm trên này đều không đúng.Chềt là mất hẳn! Sao lại mất hẳn được? Hãynhìn chung quanh ta có cái gì mất hẳn đâu? Một hạt cát, một mảy lông còn không thề mấthẳn được, huống chi con người là một sinh vật có khả năng tri giác nhất trong chúngsanh.Nhưng bảo rằng linh hồn là thường còn, ở mãi trên thiên đường hay dưới địa ngụccũng không đúng Sự nhận xét thông thường cho chúng ta thấy rằng, trong vũ trụ, không

có một cái gì có thể vĩnh viễn và ở yên một chỗ, mọi sự vật đểu biến đời và xê dịch Vảlại, có gì bất công hơn là chỉ vì những cái nhân đã gieo trong một đời hiện tại ngắn ngủi,

mà phải chịu cái quả vĩnh viễn tốt hay xấu trong tương lai.Cho nên những loại giải đápnói trên, đều không thể đứng vững được trước ánh sáng chân lý.Những vần đề trên này,giáo lý nhà Phật đã giải đáp một cách rõ ràng, khúc chiết, mạch lạc Những lời giải đápnày không dựa vào oai lực của thần quyền, không dựa vào những tín điều độc đoán, cũngkhông dựa vào trí tưởng tượng mơ hồ, mà bằng cứ vào những nhận xét xác đáng tronghiện cảnh, những cái tai nghe mắt thấy, những điều có thể chứng nghiệm được Đức Phậtbao giờ cũng dựa trên thực tế để lập luận, vì thế, mặc dù những lời dạy của Ngài đã nói ratrên hai ngàn năm trăm năm rồi, mà bây giờ vẫn còn đúng đắn và vô cùng giá trị; có đủnăng lực làm thỏa mãn sự khát khao hiểu biết của những ai băn khoăn đi tìm chân lý và ýnghĩa của cuộc đời.Đó là lý do học viên chọn đề tài: Quan niệm về Luân hồi theo Bà-la- môn giáo và Phật giáo” làm đề tài nghiên cứu của mình.

2.Phương pháp nghiên cứu:

Học viên dùng phương pháp: phân tích - tổng hợp, đối chiếu - so sánh, hệ thống hoá,diễn dịch, quy nạp… để nghiên cứu, phân tích và trình bày tiểu luận,từ đó đi đến kết luận

để làm sáng tỏ đề tài nghiên cứu

3.Nội dung nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:

Trong bài tiểu luận ngắn này, học viên không có tham vọng giải đáp tất cả những vấn đềtrọng đại, hàm chứa trong những chữ "siêu hình", "vũ trụ quan", "nhân sinh quan" v.v

mà chỉ xin trình bày cái kiếp sống của con người, qua thời gian và không gian, nhữngnguyên nhân và kết quả đã tạo cho mỗi người một hoàn cảnh giống nhau hay khác nhau;đồng thời chúng tôi sẽ giải đáp một số những thắc mắc có liên quan mật thiết đến kiếpngười.Trong khi trình bày, học viên sẽ giữ một thái độ hoàn toàn khách quan và nêu lênnhững bằng chứng cụ thể, có thể nhận xét được rõ ràng, chứ không dựa vào những tínđiều độc đoán hay mượn uy lực của thần quyền đề bắt độc giả phải cúi đầu tin theo

4.Bố cục tiểu luận:

Gồm 4 phần :

Mở đầu & Nội dung

Phần kết luận & Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 6

A NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT LÝ THUYẾT VỀ NGUỒN GỐC TÔN GIÁO

1.1.Thuyết vạn vật hữu linh

Người đại diện xuất chúng của một thuyết vạn vật có hồn về nguồn gốc tôn giáo là nhànhân chủng học người Anh Edward Burnett Tylor (1832-1917) Mặc dù không có bằngcấp chính thức nào cả, Tylor là nhân vật hàng đầu về nhân chủng học trong nhiều năm.Gần lúc kết thúc sự nghiệp của mình, ông được phong là đệ nhất giáo sư nhân chủng họcAnh quốc (1896-1909) Đóng góp lớn nhất của Tylor cho việc nghiên cứu nguồn gốc tôn

giáo là tác phẩm có tựa đề Primitive Culture (Văn hóa nguyên thủy, 2 tập, 1871) Trong

thập kỷ 1850, Herbert Spencer đã đưa ra lý thuyết cho rằng các vị thần của người

“nguyên thủy” đã được căn cứ vào những giấc mơ về người mới chết Theo Spencer, khingười “nguyên thủy” nằm mơ thấy người chết, họ đi đến chỗ tin rằng những thủ lãnh vàanh hùng quá cố thực ra đang sống trong một thế giới khác hay một hình dạng khác.Tylor biết lý thuyết của Spencer, được gọi là thuyết “Manison”, nhưng ông không hoàntoàn chấp nhận thuyết ấy.4 Tylor chủ trương rằng người nguyên thủy đã triển khai ý thức

về cái khác hay linh hồn từ những kinh nghiệm với cái chết và những giấc mơ Theo Tylor, người “nguyên thủy” cũng tin rằng những hồn này (tiếng Latin anima) chẳng

những có trong người ta mà còn có trong tất cả thiên nhiên Có hồn trong hòn đá, cái cây,con vật, sông, suối, núi lửa và núi non Toàn thể thế giới, ngay cả chính không khí cũngđược coi là sống động với những tinh linh đủ mọi loại Những linh ấy có thể giúp ích haylàm hại con người, và có những nhân cách có thể bị xúc phạm hay ve vãn Do đó, cầu xinnhững tinh linh này, cúng tế cho họ, tìm cách làm nguôi lòng họ và tránh xúc phạm đến

họ là một phần của sinh hoạt trong các xã hội “nguyên thủy”.Từ quan niệm vật hồn giáo

về thế giới phát sinh lối thực hành sùng bái hay thờ kính tổ tiên, trong đó người ta chămsóc đến các vong hồn người chết Nhận thức về sự tồn tại của các tinh linh trong thiênnhiên đưa đến sự sùng bái nhiều khía cạnh khác nhau của thiên nhiên, chẳng hạn nhưnước, cây cối, đá v.v… Rốt cuộc, quan điểm vật hồn giáo này về thế giới đã tạo ra nhữngtôn giáo đa thần, thờ những vị thần như trời, đất và nước Sau cùng, những tôn giáo độcthần ra đời Những học thuyết của Tylor được chấp nhận rộng rãi và được coi là kinh

điển trong nhiều năm Từ vật hồn giáo vẫn còn phổ thông.Giám mục R H Codrington

(1830-1922),đã triển khai và đề xuất một thuyết khác có thể được định nghĩa một cáchkhông chặt chẽ lắm như là vật hồn giáo Trong khi công tác như là một giáo sĩ thừa saiKitô giáo ở Melanesia, Codrington đã nghiên cứu các ngôn ngữ và văn hóa của dân

Melanesia.Codrington xuất bản cuốn Người Melanesia Mặc dù ông chấp nhận phần lớn

học thuyết của Tylor,Codrington quan tâm đến những gì người dân bản địa đã nói về kinhnghiệm tôn giáo của chính họ nhiều hơn là những cơ sở lý thuyết mà Tylor và nhiều

người khác đã xây dựng.Ông coi từ Melanesia mana như là nền tảng của tôn giáo Mana

được định nghĩa như là một quyền năng siêu nhiên thuộc về thế giới vô hình Người ta có

thể kinh qua mana bằng cảm xúc hơn là bằng lý trí Codrington đã đưa ra lý thuyết cho

Trang 7

rằng tất cả các dân tộc nguyên thủy đã khởi đầu tôn giáo của họ bằng một nhận thức vềmột sức mạnh như thế

1.2.Thuyết sùng bái thiên nhiên

Một giáo sư khác của trường Oxford, Max Muller (1823-1900) đã triển khai một lýthuyết khác về nguồn gốc tôn giáo Muller quan tâm đến thần thoại học và các tôn giáocủa Ấn Độ, nhưng ông đã đi vào cuộc tranh luận về các nguồn gốc tôn giáo với Tylor vànhững người khác Từ những cuộc nghiên cứu của mình, ông đã xác tín rằng con ngườiđầu tiên đã triển khai các tôn giáo của họ từ những sự quan sát các sức mạnh thiên nhiên.Theo thuyết này, những người “nguyên thủy” đã ý thức được sự tuần hoàn đều đặn củacác mùa, thủy triều, và các tuần trăng Họ đã đáp ứng những sức mạnh thiên nhiên nàybằng cách nhân cách hóa chúng Do đó, họ bắt đầu miêu tả những hoạt động của các sứcmạnh ấy bằng những chuyện kể, những chuyện kể này cuối cùng trở thành thần thoại Tatìm thấy một thí dụ của quá trình này trong thần thoại Hy Lạp về Apollo và Daphne.Apollo phải lòng Daphne, nhưng nàng đã trốn khỏi Apollo và biến thành cây nguyệt quế.Bằng cách tìm ngữ nguyên của những cái tên này, Muller đã thấy rằng Apollo là cái tênđặt cho mặt trời và Daphne là cái tên đặt cho bình minh Như thế, thần thoại ban đầu chỉđơn giản mô tả mặt trời đuổi theo bình minh như thế nào Hơn nữa, Muller còn tin rằng,tất cả những câu chuyện về các thần linh và anh hùng trong các nền văn hóa Ấn – Âu banđầu là những thần thoại về mặt trời Muller trở nên xác tín rằng, ông đã tìm ra được chìakhóa về nguồn gốc tất cả các tôn giáo Người “nguyên thủy” đã nhận diện được các sứcmạnh trong thiên nhiên, nhân cách hóa chúng, tạo ra những thần thoại để miêu tả nhữnghoạt động của các sức mạnh ấy, và cuối cùng đã triển khai chư thần và những tôn giáoxoay quanh những sức mạnh ấy

1.3.Thuyết tôn giáo là sự phóng chiếu những nhu cầu của con người

Một trong số những nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất của thế kỷ XIX là triết gia ngườiĐức Ludwig Feuerbach (1804-1872) Trong những tác phẩm có ảnh hưởng lớn của ông,

Bản chất Kitô giáo và Bản chất tôn giáo, Feuerbach đã nói rằng, tôn giáo cốt yếu là sự

phóng chiếu những nguyện vọng và nhu cầu của nhân loại Ông coi tôn giáo như là mộtgiấc mơ hay khả năng tưởng tượng, biểu thị hoàn cảnh của nhân loại Theo Feuerbach,con người có khuynh hướng tự coi mình là bất lực và lệ thuộc, khi phải đối mặt vớinhững thách thức của cuộc sống Do đó, họ tìm cách khắc phục những vấn đề của mìnhbằng tưởng tượng; họ tưởng tượng ra, hay phóng chiếu, một hữu thể lý tưởng hóa, giàulòng nhân hậu hay đầy quyền lực, có thể giúp đỡ mình Nhân loại không phải đã được tạo

ra theo hình ảnh của Thượng Đế, nhưng Thượng Đế đã được tạo ra theo hình ảnh củanhân loại lý tưởng hóa Feuerbach tin rằng con người tìm trong Thiên đường những gì mà

họ không thể tìm thấy trên trái đất Như thế, ở trình độ căn bản nhất của nó, tôn giáo làmột hình thức ước nguyện Feuerbach nghĩ rằng, khi con người trở nên hiểu biết hơn, haymạnh mẽ hơn, tôn giáo sẽ có khuynh hướng tan rã và được thay thế bằng kỹ thuật học vàchính trị.Một nhà tư tưởng chịu ảnh hưởng sâu xa các lý thuyết của Feuerbach là ngườiđương thời với ông nhưng trẻ hơn: Karl Marx (1818-1883) Marx đã thêm những nétchấm phá rõ rệt của mình vào lập trường của Feuerbach về nguồn gốc tôn giáo Marx đãnhìn nguồn gốc và sự phát triển tôn giáo theo quan điểm riêng mình về lịch sử và cuộcđấu tranh kinh tế - xã hội giữa các giai cấp Bằng những lời lẽ có vẻ rất giống như của

Trang 8

Feuerbach, Marx đã nói: “Con người tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không tạo ra con

người Tôn giáo là sự tự ý thức và tự tôn của con người, con người hoặc chưa tìm thấy mình, hoặc đã đánh mất chính mình… Tôn giáo là tiếng thở dài của tạo vật, tâm hồn của một thế giới nhẫn tâm, như thể nó là linh hồn của những thân phận vô hồn Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân.” 6Marx cũng tin rằng, tôn giáo được các giai cấp thống trị

dùng để thủ tiêu những giai cấp bên dưới.Các nguyên tắc xã hội Kitô giáo rao giảng sự

cần thiết phải có giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, và đối với giai cấp bị trị, tất cả những gì các nguyên tắc ấy có thể đề xuất là sự mong mỏi mộ đạo rằng giai cấp thống trị

rũ lòng từ thiện, bác ái… Các nguyên tắc xã hội Kitô giáo tuyên bố rằng, tất cả những hành vi xấu xa của những kẻ đàn áp đối với những người bị đàn áp đều, hoặc là sự trừng trị thích đáng cho tội tổ tông và những tội khác, hoặc là những sự thử thách mà Chúa, trong sự khôn ngoan vô hạn của Ngài, đã sắp đặt cho những người được cứu chuộc 7Sigmund Freud (1856-1939) nhà sáng lập tâm phân học, đã cho những ý tưởngcủa Feuerbach một chiều kích tâm lý Freud coi tôn giáo bắt nguồn từ tội ghét cha mà conngười được giả định là cảm thấy.Freud nhìn thấy trong thần thoại Hy Lạp cổ về Oedipusmột kiểu thức về kinh nghiệm con người Oedipus là một người đàn ông, qua một chuỗinhững biến cố bi thảm, đã giết cha mình để lấy mẹ mình Freud cho rằng, trong mọingười nam đều có một khuynh hướng ham muốn mẹ mình như thế và do đó ghét chamình.8Freud còn nói đến những tập tục của người nguyên thủy mà ông tin là tiêu biểu chotoàn bộ kinh nghiệm của con người Người nam thống trị/người cha giữ tất cả phụ nữtrong tập thể cho riêng mình và đuổi những người nam trẻ hơn ra khỏi lãnh thổ của mình.Sau cùng những người thanh niên ấy liên kết với nhau để giết và ăn thịt cha mình Freud

đề xuất rằng tội lỗi do ham muốn mẹ mình và tội đại ác giết cha nằm trong trung tâm mỗitôn giáo Ông tin rằng vật tổ giáo đã xuất hiện để làm giảm bớt mặc cảm tội lỗi của ngườicon và làm nguôi lòng người cha, qua sự kính cẩn vâng lời cha, và rằng những tôn giáosau này là những mưu đồ giải quyết cùng một vấn đề.9Do bởi tội căm thù cha trong tiềmthức, Freud đã tin rằng nhân loại phóng chiếu lên trời hình ảnh một người cha cả gọi làThượng Đế Ông cũng nghĩ rằng những tư tưởng tôn giáo là “những ảo tưởng, lấp đầynhững ước vọng lâu đời nhất, mãnh liệt nhất và cấp thiết nhất của nhân loại”.10 Ngườiđích thực lành mạnh và trưởng thành, theo Freud, là người mãn ý với việc đứng độc lập

và đương đầu với các vấn đề của cuộc sống mà không cần đến thần thánh hay tôn giáonào cả

Trang 9

CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BÀ LA MÔN VÀ PHẬT GIÁO

2.1 Bà-la-môn

Nói đến Bà-la-môn giáo là nói đến cả một hệ thống tôn giáo bao gồm cả hai mặt: Tôngiáo tính và triết lý tính vô cùng đa dạng và phức tạp Nếu căn cứ vào sự tịnh tiến theochiều ngang của thời gian, Bà-la-môn giáo được xem là sự tích hợp của một quá trình

đi lên và trưởng thành của dân tộc Ấn, mà trong đó, các thế hệ đi qua luôn là tiền đề

để cho người sau kế tục Có lẽ chính vì vậy mà nhà nghiên cứu văn hóa Ấn Macdonell

đã nhận xét: “Ngoài Trung Quốc ra, không còn nước nào trên thế giới có thể tìm đượcnguồn gốc ngôn ngữ, văn học, tín ngưỡng và lễ nghi tôn giáo cùng những tập tục tậpquán xã hội của mình qua một sự phát triển không ngừng trong hơn 3000 năm như ở

Ấn Độ” Từ căn bản này, Upanisads đã phát triển lên biểu tượng Đấng sáng Brahman Tuy nhiên, sự hình thành đấng tối cao của Veda giáo không được hiểu theonghĩa tập quyền về tay của Đấng tạo hóa mà phải được xác định ở sự biểu hiện thôngqua hình ảnh các vị thần khác của Ấn giáo Nói như Mark Muller thì thay vì đi tìmkhái niệm cho một đấng tối cao, Veda đã tôn kính đấng sáng tạo dựa trên sự tôn kínhcác vị thần khác Cho nên Chandradhar Sharma kết luận rằng không có sự phát triển

tạo-từ Đa thần sang Đơn thần rồi đến Nhất nguyên luận của Upanisads mà nó là sự thốngnhất tư tưởng từ các Mantra đầu tiên sang Upanisads, nghĩa là nó là sự tiến bộ từ quanniệm hình tượng sang tư tưởng triết học Điều này thật rõ ràng khi ta biết rằng giữanhững hệ thống lễ nghi phức tạp của tập Bràhmana là sự hiện hữu của vô vàn các triết

lý mà các tập Upanisads đã hệ thống một cách đáng khâm phục Mối quan hệ giữaMantra và Upanisads luôn là một biến số mà trong đó kết quả lại đưa về nhất nguyênluận với các tập Upanisads là đỉnh cao chứa đựng những tư tưởng này Như nhà hiềntriết Narada đã hỏi Sanatkumàra: Thưa ngài, tôi biết Rig-Veda, Yajuh, Với tất cảđiều này giúp tôi hiểu các Mantra và những cuốn sách thánh, nhưng tôi không biết vềcái Tôi bản ngã Tôi nghe nhiều người như Ngài nói rằng, chỉ những ai biết được cáiTôi này mới thoát khỏi ưu phiền Hay như Munkada đã nói: “Có hai loại tri thức màcon người phải thấu hiểu Loại tri thức thấp là những gì mà Rig-veda, Yajur, mangđến, còn tri thức cao chỉ Brahman bất tử mới biết”.Như vậy, đi tìm bản chất của bảnngã cùng các quy luật của nó chính là nội dung mà bao thế hệ Veda đã và đang nỗ lựcxây dựng nhằm hoàn thiện thiên chức thiêng liêng mà Đấng tối cao Brahman đã giáophó Và cũng từ những quan kiến về Bản ngã này mà toàn bộ hệ thống triết lý Bà-la-môn giáo được hoàn thiện Nói khác hơn, triết học Bà-la-môn lấy tư duy hướng ngãlàm cơ sở

2.2 Phật giáo

Phật giáo là một tôn giáo vĩ đại có độ phủ rộng vô cùng lớn trên thế giới Khởi nguồn

từ Ấn Độ, Phật giáo lan toả hầu như khắp các nước ở bốn bề Đông, Bắc, Tây, Nam.Trải qua hơn 25 thế kỷ tồn tại và phát triển, đạo Phật du nhập vào trên 100 nước trênthế giới, ở hầu khắp các châu lục nhưng luôn với trạng thái ôn hoà, chưa bao giờ điliền với chiến tranh xâm lược hay xảy ra các cuộc thánh chiến Tính đến năm 2008,đạo Phật có khoảng 350 triệu tín đồ và hàng trăm triệu người có tình cảm, tín ngưỡng

và có ảnh hưởng bởi văn hoá, đạo đức Phật giáo.Người sáng lập ra đạo Phật là Thái tửTất Đạt Đa sinh năm 624 trước công nguyên thuộc dòng họ Thích Ca Dù sống trongcuộc đời vương giả nhưng Thái tử vẫn nhận ra sự đau khổ của nhân sinh, vô thường

1

Trang 10

của thế sự nên Thái tử đã quyết tâm xuất gia tìm đạo nhằm tìm ra căn nguyên của đaukhổ và phương pháp diệt trừ đau khổ để giải thoát khỏi sinh tử luân hồi Cuối cùng,Thái tử đến ngồi nhập định dưới gốc cây Bồ đề và sau 49 ngày đêm thiền định, Thái

tử đã đạt được Đạo vô thượng, thành bậc “Chánh đẳng chánh giác”, hiệu là Phật Thích

Ca Mâu Ni.Tư tưởng chủ đạo của đạo Phật là dạy con người hướng thiện, có tri thức

để xây dựng cuộc sống tốt đẹp yên vui trong hiện tại Đạo Phật không công nhận cómột đấng tối cao chi phối đời sống của con người, không ban phúc hay giáng hoạ cho

ai mà trong cuộc sống mỗi người đều phải tuân theo luật Nhân – Quả, làm việc thiệnthì được hưởng phúc và làm việc ác thì phải chịu báo ứng Ngoài ra, đạo Phật cũng thểhiện tinh thần đoàn kết và không phân biệt giữa người tu hành và tín đồ, quan điểmcủa đạo Phật là “Tứ chúng đồng tu”, đó là Tăng, Ni, Phật tử nam và Phật tử nữ đềucùng được tu và nếu ai có quyết tâm đều có thể thành tựu như Đức Phật Cùng vớiHindu giáo, Phật giáo đã góp phần quan trọng trong việc thiết lập những cách thức tưduy, phong cách sống cơ bản của Ấn Độ

CHƯƠNG 3 QUAN NIỆM LUÂN HỒI CỦA BÀ LA MÔN VÀ PHẬT GIÁO

3.1 Luân hồi và những hiểu lầm về luân hồi

3.1.1 Luân hồi là gì?

Luân hồi (trong Phật giáo còn gọi là Vòng luân hồi hay Bánh xe luân hồi) (chữ Hán:

輪 迴 , sa., pi saṃsāra, bo `khor ba འའའའའའའ), nguyên nghĩa Phạn ngữ là "langthang, trôi nổi" theo ngữ căn sam-√sṛ, có khi được gọi là Hữu luân (zh 有輪), vòngsinh tử, hoặc giản đơn là Sinh tử (zh 生死) Thuật ngữ này chỉ những lần đầu thai tiếpnối nhau, trạng thái bị luân chuyển của một loài Hữu tình khi chưa đạt giải thoát,chứng ngộ Niết-bàn Quá trình này thể hiện trên hình ảnh bánh xe luân hồi, bánh xekhông có điểm đầu và cuối, nó sẽ xoay mãi và ngừng lại đến khi nào chúng sinh giảithoát khỏi Tam giới.Theo Phật giáo, nguyên nhân trói buộc trong luân hồi là tam độc,gồm có tham ái (sa tṛṣṇā), sân (sa dveśa) và si (sa moha, hoặc vô minh, sa avidyā).Tùy vào nghiệp của chúng sinh đã tạo trong quá khứ mà chúng sinh đó sẽ tái sinh vàomột trong sáu cõi: trời, thần (a-tu-la), người, súc sinh, quỷ đói (ngạ quỷ), địa ngục.Trong Đại thừa, luân hồi được xem là thế giới của hiện tượng và thể tính của nó chính

là thể tính của Niết-bàn.Sau khi tái sinh, phần lớn các chúng sinh sẽ không còn nhớ gì

về kiếp trước đó Các chúng sinh sẽ có một cuộc đời mới Việc chúng sinh sẽ tái sinhvào cõi nào sau khi chết có thể dự đoán được nếu quan sát cận tử nghiệp của chúngsinh đó.Cội nguồn của luân hồi từ đâu, loài hữu tình có từ bao giờ…, những câu hỏinày đã được nhiều người nêu lên nhưng Phật tuyệt đối không trả lời những sự thắcmắc vô bổ này vì theo Phật, chúng chẳng giúp ích gì trên con đường tu tập, và sẽ tựthấu tỏ khi giác ngộ thành Phật Niết-bàn, sự giải thoát khỏi luân hồi chỉ có thể thựchiện trong kiếp làm người, trong tất cả con đường tái sinh khác chúng sinh không thểđạt Bồ-đề vì không có đủ khả năng nhận thức được yếu tố chính của luân hồi, đó làtham và vô minh Muốn thoát khỏi sinh tử luân hồi thì cần phải dứt được nghiệpchướng do ái dục mang lại; muốn thoát khỏi nó, theo Phật, chỉ có con đường bát chínhđạo mới dẫn con người đến cõi niết bàn.Trong hầu hết các tôn giáo Ấn Độ, đời sống

2

Trang 11

không được xem như bắt đầu với việc sinh và chấm dứt với sự chết, nhưng như là một

sự hiện hữu tương tục trong đời sống hiện tại của cơ thể và mở rộng vượt xa hơn nữavới quá khứ và tương lai Bản chất của những hành động xảy ra trong phạm vi mộtkiếp sống (tốt hay xấu) quyết định số phận tương lai của mỗi chúng sinh Luân hồiđược liên kết gần gũi với ý tưởng tái sinh, nhưng chủ yếu liên hệ đến điều kiện củađời sống, và kinh nghiệm của sự sống.Trong đạo Phật, vào thời điểm sắp chết, tâmthức (thức của những giác quan khác nhau, chẳng hạn như nhãn thức, nhĩ thức, ) hoạtđộng như hạt giống cho sự sản sinh một tâm thức mới trong một cấu trúc sinh họcmới, dẫn đến ý chí thúc đẩy tại thời điểm của cái chết (là điều tự chúng tiêm nhiễmbởi những sự thúc đẩy của ý chí kiếp trước)

3.1.2 Những hiểu lầm về luân hồi

Trong kinh phạm võng thuộc trường bộb kinh Đức Phật đề cập đến 62 tà kiến trongthời đại của ngài Sáu mươi hai loại kiến-chấp bị bao-trùm cả trong màn lưới Phạm-Võng, gồm có:

– 18 kiến-chấp về quá-khứ,

– 44 kiến-chấp về tương-lai

Mười tám kiến-chấp về quá-khứ có:

– 4 luận-chấp về Thường-trú-luận;

– 4 luận-chấp về Thường, Vô-thường-luận;

– 4 luận-chấp về Hữu-biên, Vô-biên-luận

– 5 luận-chấp về Hiện-tại Niết-bàn-luận

a.MƯỜI TÁM KIẾN-CHẤP VỀ QUÁ-KHỨ

Các kiến-chấp liên-quan đến quá-khứ: gồm có 18 luận-chấp về quá-khứ do chủ-trươngcủa các Sa-môn, Bà-la-môn, nhờ nhập định mà nhớ lại được đời, kiếp trước (một kiếp

có nhiềuđời):

* 4 luận-chấp về Thường-trú-luận: cho rằng thế-giới và bản-ngã chúng-sanh đềuthường-còn mãi mãi:

– trường-hợp 1: vì nhớ được nhiều đời trước;

– trường-hợp 2: vì nhớ được nhiều kiếp trước;

– trường-hợp 3: vì nhớ được nhiều thành-kiếp, và hoại-kiếp trước (thành, hoại-kiếp cónhiềukiếp);

– trường-hợp 4: vì dựa theo óc suy-luận

* 4 luận-chấp về Thường-trú-luận và Vô-thường-luận: cho rằng thế-giới và bản-ngãvừathường-trú với một hạng chúng-sanh, vừa vô-thường với các hạng chúng-sanhkhác:

– trường-hợp 1: từ cõi Quang-âm thiên có vị hữu-tình sanh sang cung Phạm-thiêntrước nhứt, tự cho mình là chúa-tể, coi các chúng-sanh khác, sanh sau, là con cháu củamình Vị Đại-Phạm-Thiên đó có mạng sống lâu dài, sắc-tướng đẹp-đẽ, uy-quyền rộng

3

Ngày đăng: 26/07/2022, 10:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w