Chủ nghĩa duy tâm có hai khuynh hướng:Chủ nghĩa duy tâm chủ quan phủ nhận sự tồn tại của thế giới khách quan và coi nó là một cái gì đó hoàn toàn do tính tích cực của chủ thể không quy đ
Trang 1HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT
NAM TẠI TP HCM
KIỂM TRA CUỐI HK4, NĂM HỌC
2021 MÔN: Dẫn nhập triết học Phật giáo
Họ và tên: Nguyễn Thị Thu Nga
Pháp danh: TN.Chánh Y
Khoa: ĐTTX - K6 SBD: TX 6258
Điểm Bằng số:
Bằng chữ:
Nhận xét của giáo thọ
ĐỀ BÀI
Các học viên trả lời 01 trong 02 hỏi sau đây:
Câu 1: Dựa vào học thuyết 12 nhân duyên của Phật giáo, hãy phân tích 4 học thuyết sai lầm (thần ý luận, ngẫu nhiên luận, duy vật luận và duy tâm luận) về nguyên nhân hình thành con người của các phái triết học và tôn giáo khác
Câu 2: Hãy phân tích các luận bình đẳng của Phật giáo theo tinh thần kinh điển Pāli
Giảng viên: TT.TS Thích Nhật Từ
BÀI LÀM
Câu 1: Dựa vào học thuyết 12 nhân duyên của Phật giáo, hãy phân tích 4 học thuyết
sai lầm (thần ý luận, ngẫu nhiên luận, duy vật luận và duy tâm luận) về nguyên nhân hình thành con người của các phái triết học và tôn giáo khác
Trả lởi:
Mỗi khi ngước mắt nhìn vũ trụ, con người thường băn khoăn tự hỏi: “Vũ trụ do đâu mà có? Nguyên nhân đầu tiên của vạn vật là gì?” Câu hỏi nầy đã được đặt ra từ bao giờ mà đến nay vẫn không có được một câu trả lời nào thỏa đáng Bao nhiêu trí óc
đã từng thắc mắc, băn khoăn đau khổ vì nó Giá mà câu hỏi kia được giải đáp, có lẽ con người sẽ sung sướng lắm, là dù “buổi mai nghe mà buổi chiều chết” cũng lấy làm thỏa mãn vậy.Một là:Darwin (thế kỷ XIX) đã đưa ra quan điểm và chứng minh bằng thành tựu khoa học đương thời là, con người ra đời từ một giống vượn người (Hiện nay có tài liệu nói rằng cách đây hơn 200.000 năm, xem Báo khoa học phổ thông số Tết 1987) Quá trình chuyển vượn thành người, Darwin cho rằng do tác động của thay đổi khí hậu mà loài vượn đã phải thích nghi với cách kiếm ăn trong môi trường mới, di chyển bằng hai chân… rồi dần dần thành người.Hai là:Thời Mác- Ăngghen, Ăngghen cho rằng: chính lao động là điều kiện cơ bản quyết định sự chuyển biến của con vượn thành con người ngay trong quá trình chuyển biến cơ thể Đây là phát hiện lớn của Ăngghen.Mọi người vẫn quen với giả thuyết sự tiến hóa từ vượn sang người
Trang 2một cách dần dần, bằng cách thích nghi của cơ thể với môi trường trong quá trình lao động Về mặt sinh học, con người khác động vật là đi bằng hai chân, giải phóng đôi tay, phát trển đại não Yếu tố then chốt tác động vào cơ thể vượn chuyển thành người
là do chuyển sang ăn thịt trong điều kiện khí hậu xấu đi Đó là những điều mà Đại bách khoa toàn thư Liên Xô (1956) đã thừa nhận (Xem: Ma-chu-sin: Nguồn gốc loài người, Nxb Mia, 1986) Về mặt niên đại, thường cho rằng con người xuất hiện chỉ khoảng 40 - 80 ngàn năm trước, ở Châu Á.Quan Ba là:Nhưng đầu những năm 60 của thế kỷ XX đến nay, đã có nhiều phát hiện khoa học mới có liên quan tới nguồn gốc con người, trước hết là nguồn gốc sinh học và tự nhiên của con người (từ khảo cổ học,
di truyền học, vật lý thiên văn…), làm chấn động thay đổi nhận thức truyền thống Từ
đó các giả thuyết khoa học về nguồn gốc con người lại xuất hiện.Theo học viên cả ba nhận thức về nguồn gốc loài người như trên chưa thuyết phục
Chủ nghĩa duy tâm là trường phái triết học khẳng định rằng mọi thứ đều tồn tại bên trong tâm thức và thuộc về tâm thức Là một cách tiếp cận tới hiểu biết về sự tồn tại, chủ nghĩa duy tâm thường được đặt đối lập với chủ nghĩa duy vật, cả hai đều thuộc lớp bản thể học nhất nguyên chứ không phải nhị nguyên hay đa nguyên
Chủ nghĩa duy tâm có hai khuynh hướng:Chủ nghĩa duy tâm chủ quan phủ nhận sự tồn tại của thế giới khách quan và coi nó là một cái gì đó hoàn toàn do tính tích cực của chủ thể không quy định.Chủ nghĩa duy tâm khách quan coi cơ sở của hết thảy mọi
sự vật tồn tại, cái bản chất sâu sắc nhất của thế giới là những nguyên lý "khách quan", tồn tại độc lập với con người, có trước tự nhiên và có trước loài người, luôn luôn vận động và biến đổi được gọi là "ý niệm tuyệt đối", "tinh thần tuyệt đối", "lý tính thế giới" Cách tiếp cận tới chủ nghĩa duy tâm của các triết gia phương Tây khác với cách tiếp cận của các nhà tư tưởng phương Đông Đối với nhiều triết gia phương Tây, ý niệm có quan hệ với tri thức trực tiếp của các hình ảnh hoặc quan niệm trí óc chủ quan Khi đó nó thường được đặt cạnh chủ nghĩa hiện thực mà chân lý được xem là tồn tại tuyệt đối trước tri thức của con người và độc lập với tri thức của con người Các nhà duy tâm nhận thức luận có thể khẳng định rằng những thứ duy nhất mà có thể được "biết chắc" một cách trực tiếp là các ý niệm Trong tư tưởng phương Đông, như được phản ánh trong chủ nghĩa duy tâm Ấn Độ giáo, khái niệm chủ nghĩa duy tâm sử dụng ý nghĩa ý thức, về cốt yếu là ý thức sống động của một Thượng đế có mặt ở mọi nơi, làm nền tảng cho mọi hiện tượng Một kiểu chủ nghĩa duy tâm châu Á là chủ nghĩa duy tâm Phật giáo Thuyết cho rằng Người đầu tiên trên thế-gian này do một Thượng-Đế sinh ra, được viết trong Thánh Kinh của người Do-Thái giáo Thuyết của Phật-giáo thì sao? Đoạn kinh trên được trích dẫn từ kinh “Khởi Thế Nhân Bổn – số 27” ( Đại Tạng Kinh Việt Nam, Trường Bộ Kinh, tập 2, Nxb Viện nghiên cứu Phật học Việt nam, 1991, Tr 387 Kinh tương đương: “Kinh Tiểu Duyên – số 5” Đại Tạng Kinh Việt Nam, Trường A Hàm, tập 1, Nxb Viện nghiên cứu Phật học Việt nam,
1991, Tr 285).Theo quan điểm của Phật giáo được thể hiện cụ thể qua kinh Khởi Thế Nhân Bổn (Nikàya) và kinh Tiểu Duyên (Agama), thế giới là vô cùng, vô tận Trong mỗi thế giới có các dạng thức tồn tại khác nhau Ngoài thế giới chúng ta đang sống đây còn có nhiều thế giới khác, trong đó, cõi Trời Quang Âm là một trong những thế giới có sự liên hệ mật thiết với chúng sanh ở cõi Nam Diêm Phù Đề Vào thời kỳ hình thành của thế giới này (có thể hiểu là quả đất và Thái dương hệ của chúng ta), các chúng sanh ở Quang Âm thiên sau khi thác sinh sẽ được chuyển sinh vào thế giới mà chúng ta đang sống Buổi đầu hình thành thế giới, chưa có sự phân biệt giữa ngày và
Trang 3đêm, chưa có sự phân biệt giữa nam và nữ Đất đai lúc đó có màu sắc và hương vị rất ngon ngọt Khi ấy, “những chúng sanh này, do ý sanh, nuôi sống bằng tự hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không” (Kinh Khởi Thế Nhân Bổn) Sau đó, có một số chúng sanh nổi lên ý tưởng thử nếm vị ngọt của đất Sau khi nếm, trong họ khởi dậy lòng tham ái thì ngay lúc đó, ánh sáng trên thân thể của họ biến mất Lòng tham ái đã khiến cho các chúng sanh ấy trở nên thô xấu, họ không còn được tự tại, thanh thản như lúc đầu Đồng thời, ý thức về giới tính xuất hiện, các chấp thủ phát sanh, điều kiện sống thay đổi…họ phải lao động cực nhọc để tồn tại và phải tranh đấu với nhiều điều kiện sống khắc nghiệt khác để khẳng định sự hiện hữu của mình.Cùng bàn về vấn
đề nguồn gốc loài người, một quan điểm được giải trình trước hội đồng khoa học và
đã được thông qua, đó là: “lúc trái đầt này hình thành, các chúng sanh xuất hiện đầu tiên từ Quang Âm Thiên, không cần thực phẩm Rồi vị ngọt của đất và lúa đã cám dỗ
họ khiến lòng ham muốn các hiện hữu khởi lên và phát triển trong tâm họ Sau đó các
bộ phận sinh dục cùng xuất hiện với các ham muốn dục tính Khi dục vọng con người phát triển, các nhu cầu xã hội phát triển và yêu cầu có tổ chức các xã hội: xã hội con người được hình thành từ đó và các giai cấp xã hội xuất hiện”.(Thích Chơn Thiện, Lý thuyết nhân tính qua kinh tạng Pàli, Luận án Tiến sĩ Phật học tại Đại học Delhy Ấn độ năm 1996, NXB TP Hồ Chí Minh ấn hành 1999, tr77) Như vậy, theo quan điểm của Phật giáo thì nguồn gốc loài người trên trái đất này được xuất phát từ một thế giới khác, thế giới đó có tên là Quang Âm Thiên và đồng thời có những ưu điểm vượt trội hơn so với thế giới của chúng ta Quan điểm này mặc dù được nhìn nhận, đánh giá dưới nhiều giác độ khác nhau nhưng theo chúng tôi, mãi đến hôm nay các lý thuyết về nguồn gốc loài người mà các nhà khoa học đưa ra vẫn đang còn nhiều vấn đề cần phải bàn cãi Trong quyển Đạo Phật và Khoa Học, trang 167, có thêm chi tiết như sau:
“Noãn, Thai, Thấp, Hóa sinh đều lấy cái định nghiệp mà tương cảm nhau, cho nên cái định báo của chúng-sanh cũng tùy theo chỗ cảm mà ứng Như loài sinh trứng thì ứng theo loạn tưởng mà sinh Loài sinh thai thì ứng theo tình ái mà sinh Loài Thấp sinh thì ứng theo hiệp mà sinh, tức là nương phụ với thấp khí Loài Hóa sinh thì ứng theo
Ly mà sinh, tức là bỏ đây tới kia Xong , tình, tưởng, hiệp, ly trong bốn giới ấy vốn không nhất định, hoặc tình biến làm tưởng, hiệp biến làm ly, hoặc đổi làm tình, hoặc thấp đổi làm hóa Vậy tùy nghiệp thọ báo, cũng có thứ bay mà trở lại làm thứ lặn, cũng có thứ lặn mà trở thành làm thú bay, như cá hóa rồng; đại để những truyện kỳ quái như vậy rất nhiều, thay hình đổi xác, quay lộn luôn luôn; vì thế, chúng-sanh có hoài không dứt”.Trong quyển Thiền Đốn Ngộ do Hòa-Thượng Thích-Thanh-Từ dịch năm 1974, phần Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn, trang 146 lại ghi: “Vô minh là noãn sinh, phiền não bao bọc ở trong là thai sinh, nước ái đượm nhuần là thấp sinh, chợt khởi phiền não là hóa sinh (từ loài này hóa sinh loài khác)” Ta thấy là con người có mặt trên trái đất này trước các loài thực vật và các loài động vật Nhưng những con vật đầu tiên thuộc loại noãn sinh và thai sinh trên trái đất này từ đâu mà có? Con gà, con chim, con rùa v.v có trước hay cái trứng gà, trứng chim, trứng rùa có trước, nếu những cái trứng có trước, cái gì sinh ra những cái trứng đầu tiên ấy? Người viết thiển nghĩ rằng những con vật đầu tiên ấy cũng là do hóa sinh mà ra Kể cả những loài thai sinh cũng giống như vậy mà thôi Về nòi giống: chúng ta không thấy nói tới, đại loại trên thế giới này có mấy trăm nước và có rất nhiều tiếng nói khác nhau, ngay trong một nước cũng có nhiều thứ tiếng nói khác nhau, tại sao thế? Có lẽ rằng những nhóm chúng-sanh đầu tiên khi hóa sinh đến cõi này, ở những vùng cách biệt nhau nên phát
Trang 4sinh ra tiếng nói khác nhau; lại nữa, trên thế-giới này có những người da trắng, những người da vàng, những người da đen, tại sao vậy?Có người muốn làm vui cho người khác, nên nói: “Thuở khai sinh lập địa, khi Thượng-Đế sinh ra con người bằng cách: Ngài nặn hai con người, một nam một nữ, xong Ngài bỏ hai con người ấy vào lò đốt lửa nung, lúc ấy Ngài ngủ quên nên không lấy ra kịp thời, khi nhớ ra hai người ấy đã
bị cháy đen thui Ngài bèn nặn hai người khác, rồi bỏ vào lò nung, lần này vì sợ cháy đen như lần trước Ngài lấy ra sớm qúa, nên trông còn trắng bệch Thượng-Đế vẫn chưa vừa ý, nên nặn thêm hai con người nữa, Ngài tự nhủ, lần này Ta phải canh chừng
để lấy ra cho đúng cho vừa ý, và qủa thật lần này Ngài nung được hai con người có nước da vàng vàng, không đen cũng không trắng đúng theo ý, Ngài nói: Thế là được rồi.Bởi lẽ đó chúng ta mới có những người anh cả da đen, những người anh hai da trắng, và những người thứ ba da vàng Ba cặp nam nữ này đã sinh con đẻ cháu nảy nở
ra nhân loại trên trái đất này từ ngày đó đến ngày nay!” Ðưa ra một “đấng” tạo hóa để giải quyết vấn đề nguyên lai của vũ trụ, thực ra, cũng giản dị và dễ dàng lắm Nhưng
đó không phải là một lối giải đáp hợp lý Những kẻ không có đức Tin thì không bao giờ có thể được an ủi một cách quá dễ dàng như vậy Họ vẫn có thể băn khoăn, điên dại, khổ sở về câu hỏi ác nghiệt kia.Công nhận một đấng tạo hóa, tức là chận đứng sự hiểu biết của con người lại Người xưa, khi trông thấy những hiện tượng kỳ bí của vũ trụ, cũng đã ước mong được một lời giải đáp có thể làm thỏa mãn họ Họ không thể cắt nghĩa được các hiện tượng ấy một cách khoa học, cho nên đã cầu cứu đến những lực lượng siêu nhiên, thần bí Gió thổi là bởi thần gió đi qua Nước ngập là bởi thần thủy giận dữ Nếu khoa học mà chấp nhận lối trả lời đó thì làm sao khoa học có thể tiến lên mà cắt nghĩa bằng thuyết nhân duyên sinh rằng gió là kết qủa của sự chuyển động không khí, rằng lụt là do nước nguồn chảy về quá nhiều?Tất cả những giải đáp
có tính cách mê tín như thế đều là những trở lực lớn lao ngăn cản bước tiến của trí thức nhân loại Khi đã công nhận rằng đấng tạo hóa đã sinh ra muôn vật, không ai còn
có thể tự hỏi rằng nguyên do nào đã tạo ra đấng tạo hóa và đấng tạo hóa nương vào đâu để được phát sinh Như thế, chính ý niệm về nguyên nhân đầu tiên sẽ làm cho sự tìm hiểu của ta bị chận đứng hoàn toàn, không thể tiến thêm một bước nào nữa.Ðạo Phật chủ trương không có nguyên nhân đầu tiên Ý niệm về nguyên nhân đầu tiên là một “vọng tưởng điên đảo” do sự cố chấp mê lầm của chúng sinh mà có Nếu hiểu được giáo lý đạo Phật, ta sẽ thấy câu hỏi “nguyên nhân đầu tiên là gì?” là một câu hỏi ngớ ngẩn, buồn cười, không đáng làm cho chúng ta thắc mắc,chúng ta đã thấy rằng, theo đạo Phật; các hiện tượng vũ trụ luôn luôn biến chuyển và sinh diệt, không lúc nào dừng nghỉ Sự sinh diệt của những hiện tượng ấy được thể hiện trên đường lối nhân duyên (paticca samuppada) Một hiện tượng phát sinh, không những chỉ do một
“nhân” tiền hữu, mà còn là do vô số các “duyên” (điều kiện giúp cho sự phát sinh) khác Các duyên này cũng không phải tự nhiên mà có Chúng cũng là một “quả” do vô
số “duyên” khác tạo nên Như thế, “một” hiện tượng có liên quan (dù gần dù xa) với
“tất cả” các hiện tượng của vũ trụ.Nói “hiện tượng” đây tức là nói một “dòng hiện tượng” Bởi vì khi nói đến một hiện tượng, ta thường nghĩ đến cả lịch trình phát sinh, trưởng thành, hư hoại, và tan rã (thành, trụ, hoại, không) của hiện tượng ấy Có thành, trụ, hoại, không tức là có chuyển biến, mà có chuyển biến thì cố nhiên nó không phải
là “một” hiện tượng đồng nhất bất biến “Nó” là một “dòng hiện tượng”, bởi vì “nó” của phút sau đã không phải “nó” của phút trước Với lại, trước khi “nó” (dòng hiện tượng) phát hiện, ta bảo rằng chưa có “nó” Kỳ thực, “nó” đã có muôn ngàn nhân
Trang 5duyên tiền hữu rồi, sở dĩ ta không nhận được “nó” là vì ta không thấy được “nó” bằng cặp mắt thiển cận mà thôi.Bạn tôi có “ráp” một cái xe đạp ở Saigon từ năm 1945 tại hiệu Dur-Ford, giá 400đ Cái xe ấy cũ dần, hư dần, bạn tôi đã thay mấy ổ líp, nào niềng, nào lốp, nào vỏ, nào tăm Bạn tôi lại thay cả tay lái, và vừa rồi, gảy khung xe, bạn tôi liệng vào xó hè, không dùng nữa Bạn tôi chỉ nó mà bảo tôi: “Ðó là chiếc xe tôi mua ở Saigon năm 1945 giá 400đ đãy” Bạn tôi không ý thức được sự thay đổi của chiếc xe kia và vẫn một mực “đồng nhất” cái xe năm nay với cái xe trước đây 12 năm
Lẽ ra, trong “quá trình” biến chuyển của chiếc xe, bạn tôi phải thấy chiếc xe hôm sau khác với chiếc xe hôm trước, và hơn thế nữa, chiếc xe phút sau khác với chiếc xe phút trước…Tệ hơn nữa là bạn tôi cho rằng chiếc xe chỉ “có” từ khi bạn tôi mua và “hết có” từ khi nó gảy khung Bạn tôi không biết rằng chiếc xe đã “có” từ trước khi bạn tôi mua, và hơn nữa, “có” từ vô thỉ, trong các nhân và duyên của nó Bạn tôi lại cũng không biết rằng cái xe vẫn “có” sau khi nó gảy khung, hư hoại nằm sau xó hè Nó nằm
đó, nằm mãi đó để biến chuyển, để tiếp tục dòng đăng lưu nhân quả của nó, tương quan và tương duyên với vạn vật khác Con của bạn tôi sẽ tháo một cái chuông lắp vào xe nó, biết đâu Cháu của bạn tôi sẽ tháo một cái tăm để mài nhọn, làm chiếc dùi đóng sách, biết đâu Và biết đâu đống sắt còn lại ấy sẽ “luân hồi” vào trong một dụng
cụ khác bằng kim khí…Bạn tôi chấp rằng chỉ có một cái xe đồng nhất bất biến, mà kỳ thực, chỉ có một hiện tượng “xe” luôn luôn chuyển biến Ðó là "vọng tưởng’’ thứ nhất.Bạn tôi, vì cái ý thức vụ lợi, chỉ cắt xén một giai đoạn của thực tại để mà cho rằng “có”, và cho tất cả những giai đoạn trước và giai đoạn sau đều là “không” Cái quan niệm về có và không sai lạc ấy là một “vọng tưởng” thứ hai.Hai thứ vọng tưởng kia phản chiếu một nhận thức sai lầm chung cho tất cả mọi người.Muôn vàn hiện tượng có biến chuyển, vì thế có sinh diệt thành hoại, nên ta cảm thấy cái có và cái không của vạn vật Quan niệm về có và không của chúng ta hoàn toàn do sự sinh diệt của ngàn muôn hiện tượng mà có Kỳ thực, muôn ngàn hiện tượng chỉ kế tiếp nhau mà phát hiện theo luật tương quan tương duyên, cái có và cái không của chúng chỉ là giả tưởng do trí óc “vọng tưởng” của ta tạo ra mà thôi Không có gì thêm vào, cũng không
có gì bớt đi “Rien ne se crée, rien ne se perd” câu nói này thật là chí lý Vậy thì có và không chỉ là những giả tưởng của các hiện tượng sinh diệt Trí óc ta nhận “có”, là khi nào ta thấy được một hiện tượng do nhân duyên cấu hợp; trí óc ta nhận “không” khi ta thấy hiện tượng ấy theo nhân duyên mà tan rã Cái “có, không” của ta quan niệm, là cái có, không của các đợt sóng, chứ không phải của nước Muôn ngàn đợt sóng thấp, cao, lớn, bé, đua nhau thành, hoại, có, không; còn nước (bản thể của muôn ngàn đợt sóng ấy) vẫn không bao giờ chịu luật có, không, thành, hoại của các đợt sóng vốn là hiện của mình.Về mỗi đợt sóng, ta có thể phân biệt đầu đuôi, mất còn, to nhỏ Những danh từ này chỉ để nói cho sinh diệt của các làn sóng, không thể gán vào cho nước.Về các hiện tượng, ta phân biệt có thỉ, có chung, có nhân , có duyên, có lớn, có nhỏ Nhưng những danh từ thỉ chung, nhân duyên, lớn nhỏ ấy không thể gán cho vũ trụ, cho thực tại, cho bản thể Hiện tượng tuy còn mất sinh diệt, bản thể vẫn bất biến, trường tồn Hai đầu đòn cân tuy có lên xuống, có chậm mau, có sau trước, nhưng chính bản thân cái đòn cân vẫn là cái đòn cân, không có lên xuống, chậm mau, sau trước gì cả.Thực tại là cả một cái gì vượt ra khỏi sinh diệt, tồn vong, không có Thế
mà người ta nở nào xem thực tại như là những hiện tượng có sinh diệt, có thỉ chung,
và bắt trí óc phải tìm ra “nguyên nhân đầu tiên” của nó.Trong biển sinh diệt, “một” hiện tượng là nhân cho “tất cả” các hiện tượng khác, và cũng là quả do tất cả mọi hiện
Trang 6tượng khác làm nhân “Một” do “tất cả” mà thành, “tất cả” đều do “một” mà phát hiện Trong một có tất cả, trong tất cả có một, lý “nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất” ấy vốn là căn bản của luật nhân duyên tương hợp tương thành.Trong thế giới tương quan tương duyên nhiệm mầu của hiện tượng, trí óc ta có tật cắt xén, phân chia thành từng cá thể riêng biệt rồi đi tìm một nguyên nhân cho cá thể ấy.Quan niệm nhân quả một chiều (một nhân một quả) của Aristote ngày xưa đã là sai lạc lắm rồi Nay muốn ngược dòng nhân quả một chiều ấy để tìm đến nguyên nhân đầu tiên thật không còn gì dại dột và ngây ngô hơn nữa.Các giả tướng sinh diệt, có không, chung thỉ, hoàn toàn do óc vô minh, vọng tưởng của con người tạo ra cả Một ngày kia, thể nhập vào Thực Tại, vào cuộc sống muôn đời, ta không còn thấy những giả tướng sinh diệt có không kia nữa Thực tại là thực tại Nó không “có” và không “không” như các hiện tượng sinh diệt Thực tại vượt ra ngoài giả tướng có không Nếu như thực tại có “có”, thì cái “có” ấy chẳng phải là cái “có” của giả tướng nhân duyên Nếu nó có “không”, thì cái “không” ấy cũng chẳng phải là cái “không” của giả tướng nhân duyên Thực tại không “có” một cách giả tạm như hiện tượng sinh diệt, nên gọi là “diệu hữu”; thực tại không “không” một cách giả tạm như hiện tượng sinh diệt nên gọi là “chân không” Vậy con người nằm trong thực tại, con người chính là thực tại, là những hiện tượng của thực tại bất sinh bất diệt Vì vô minh, con người đã “đối tượng hóa” thực tại, cho nên đã lo sợ, buồn vui, thương ghét, đã khổ đau vì những giả tướng sinh diệt, thành hoại, thỉ chung Và nay con người lại muốn điên đảo thêm, khổ đau khắc khoải thêm, cho nên mới bôn ba đi tìm cái “bắt đầu” của vũ trụ, cái “nguyên nhân đầu tiên” hư ảo không bao giờ có vậy Niềm tin trong đạo Phật là niềm tin trên cơ sở hiểu biết, trí tuệ Đức Phật đã từng dạy: “Đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều ấy từng được nghe nói đến, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều ấy được quảng bá rộng rãi, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều ấy do truyền thống để lại, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều ấy được kinh điển truyền tụng, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều ấy do một
vị giáo chủ nói ra, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ do suy đoán, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ do suy luận, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì mình thấy điều đó có lý, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều đó phù hợp với thành kiến, quan điểm nhận thức của mình, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều ấy do thầy mình nói ra Nhưng chỉ khi nào tự mình biết rằng những điều đó là không đúng, những điều đó không chính đáng, những điều đó bị người hiền trí phê phán, và khi chấp nhận, khi thực hành
sẽ đưa đến tai hại và khổ đau thì các ngươi hãy từ bỏ những điều đó Khi nào chính các người biết rằng những điều đó là chân chính, những điều đó không bị chê trách, những điều đó được người hiền trí khen ngợi, những điều đó khi được chấp nhận và thực hành sẽ dẫn đến an lạc hạnh phúc, thì các người phải nỗ lực mà thực hành” (Kinh Kalama, Tăng Chi Bộ kinh I)
Hết