Ví dụ, ở Indonesia, cuộc phong tỏa đại dịch đã làm dấy lên những câu hỏi quan trọng về bản chất và mục đích của việc cầu nguyện trong Hồi giáo; và phúc lợi cá nhân của một người là quan
Trang 1GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC TÔN GIÁO
Đề tài:
QUAN ĐIỂM VỀ NGHIỆP BÁO THEO BÀ LA MÔN
GIÁO VÀ PHẬT GIÁO
TP Hồ Chí Minh, năm 2022.
Trang 2GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC TÔN GIÁO
QUAN ĐIỂM VỀ NGHIỆP BÁO THEO BÀ LA MÔN
GIÁO VÀ PHẬT GIÁO
Giảng Viên Phụ Trách: TT.TS Thích Giác Duyên Sinh viên thực hiện: Lê Văn Can
Pháp dmình: Trí Cường
Mã sinh viên: TX 6031
Lớp: ĐTTX Khóa VI
Chuyên ngành: Triết Học Phật Giáo
TP Hồ Chí Minh, năm 2022.
Trang 3MỤC LỤC
A.DẪN NHẬP 1
B.NỘI DUNG 2
CHƯƠNG 1:SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TRIẾT HỌC TÔN GIÁO 1.1 Triết học tôn giáo trước thời Kant 3
1.1.1.Thời Hy Lạp cổ đại 3
1.1.2.Thời kỳ thần học trung cổ tây âu(476-1453) 3
1.1.3.Thời kỳ phục hưng(TK 15-16) 3
1.1.4.Thời kỳ thần luận tự nhiên(TK17-18) 4
1.2.Triết học tôn giáo của Kant(1724-1804) 4
1.3.Triết học tôn giáo sau thời Kant 4
1.3.1.Triết học tôn giáo của Schleier Macher(1768-1834) 4
1.3.2.Triết học tôn giáo của Hegel(1770-1831) 4
CHƯƠNG 2:QUAN NIỆM VỀ NGHIỆP BÁO TRONG BÀ LA MÔN VÀ PHẬT GIÁO 2.1.Nghiệp trong Bà La Môn Giáo 5
2.2.Nghiệp Trong Phật Giáo 7
CHƯƠNG 3:ỨNG DỤNG TU TẬP VÀ VẬN DỤNG HỌC THYẾT NHÂN QUẢ NGHIỆP BÁO CỦA ĐẠO PHẬT TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI CƯ SĨ 3.1.Tin và sống theo định luật nhân quả 12
3.2 Tịnh hóa tam nghiệp 13
C.KẾT LUẬN 16
D.DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 4A.DẪN NHẬP
Trong cuộc sống, con người luôn phải đối mặt với rất nhiều nguy hiểm Một trong số
đó là thiên tai, dịch bệnh Và đại dịch Covid-19 đang xảy ra ở hiện tại đã ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của con người Ngoài việc thay đổi các thể thức và thực hành tôn giáo, Covid-19 cũng đã khơi mào cho các loại phân tích và trmình luận mới về tôn giáo Ví dụ, ở Indonesia, cuộc phong tỏa đại dịch đã làm dấy lên những câu hỏi quan trọng về bản chất và mục đích của việc cầu nguyện trong Hồi giáo; và phúc lợi cá nhân của một người là quan trọng hay nghĩa vụ của một người đối với Thượng đế là quan trọng hơn.Tương tự, ở Sri Lanka, virus đã khiến các Phật tử suy ngẫm về cách thức và lý do tại sao đại dịch lại xuất hiện và các bước cần thiết để ứng phó với nó.Có một lập luận chung liên quan đến sự hữu ích của giáo pháp Phật giáo, đó là học thuyết nhân quả nghiệp xem như một cách giải quyết cuộc khủng hoảng Covid-19 và giúp hiểu rõ nguồn gốc của nó Một trong số những cách tiếp cận đã được phổ biến rộng rãi
ở Thiên Chúa giáo phương Tây là thuyết hữu thần, cho rằng số phận của con người,
về cơ bản, chịu sự quyết định của Thượng đế Thượng đế quyết định người nào xứng đáng được smình lên thiên đường hoặc đọa xuống địa ngục Nhóm thứ hai thì tin vào thuyết định mệnh Theo thuyết định mệnh, mỗi một người trong chúng ta đều có số phận nhất định và chúng ta không thể nào thay đổi được Theo cách nói của thuyết này: “Cái gì đến thì sẽ đến” Trong triết thuyết này, nhân tố quyết định số phận không phải là một đấng Thượng đế như trong thuyết hữu thần, mà là một sức mạnh siêu nhiên thần bí, được gọi là “số phận”, học thuyết này nâng sự hiểu biết và khả năng của chúng ta lên một tầm cao mới để thuyết phục, để thu hút Và còn có một nhóm thứ ba thì quan niệm hoàn toàn trái ngược, theo nhóm này thì mọi thứ đều diễn ra một cách ngẫu nhiên Đây là lý luận của học thuyết bất định Những người theo học thuyết bất định tin rằng, nếu người nào may mắn thì người đó sẽ có được hạnh phúc và thành công trong cuộc sống, nếu người nào kém may mắn thì phải chịu đau khổ hoặc thất bại Và tất cả những gì con người thọ nhận đều không do một quá trình quyết định nào
cả, mà chỉ là sự tình cờ, sự trùng lặp ngẫu nhiên.Cả ba trường phái này, Phật giáo đều không tán đồng Thế thì câu trả lời của Phật giáo và Bà la môn đối với điều bí ẩn về
nghiệp báo là gì? Vì lẽ đó học viên chọn : “Quan niệm về Nghiệp báo theo Bà-la-môn
giáo và Phật giáo”làm đề tài nghiên cứu và để cho bài viết có giá trị về nội dung cũng
như đầy đủ ý nghĩa, người viết dùng cách phân tích, tổng hợp, lập luận và chứng minh,so sánh để làm sáng tỏ mạnh đề ,từ đó đi đến kết luận và ứng dụng trong đời sống hành ngày Để hoàn thành cuốn tiểu luận này con xin thành kính tri ân đãnh lễ Hội đồng điều hành Học viện – Học viện phật giáo tại TP Hồ Chí Minh và chư giáo thọ sư đã hết lòng dạy dỗ, khích lệ, giúp đỡ cho con trong những tháng ngày theo học giáo pháp tại Học viện Đặc biệt con xin thành kính tri ân và đãnh lễ Giáo Thọ Sư: TT.TS Thích Giác Duyên người trực tiếp dạy dỗ, hướng dẫn cho con thực hiện đề tài này Trong quá trình thực hiện đề tài, do sở học còn non kém, chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót Kính mong được sự chỉ dạy thêm từ Giáo Thọ Sư cùng chư Tôn Đức
Trang 5B.NỘI DUNG CHƯƠNG 1
SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
TRIẾT HỌC TÔN GIÁO
Triết học tôn giáo, theo nghĩa hẹp, là một bộ môn triết học độc lập mà đối tượng của
nó là tôn giáo Thuật ngữ "triết học tôn giáo" lần đầu tiên xuất hiện ở Đức, vào cuối thế kỷ XVIII, được I Cantơ đưa ra trong tác phẩm Tôn giáo chỉ nằm trong giới của lý tính.Khi đó, tôn giáo được xem như là đối tượng suy tư triết học và với tư cách là một trong những hiện tượng của văn hoá ngang hàng vởi khoa học, pháp luật, nghệ thuật Còn khi tôn giáo trở thành đối tượng của phân tích triết học, của phê phán vả đánh giá
từ quan điểm các phương pháp và lý luận nghiên cứu khoa học thì triết học về tôn giáo được xem là một bộ phận của khoa học về tôn giáo, hay còn gọi là tôn giáo học, ngang hàng và các môn tâm lý, xã hội học và lịch sử tôn giáo.Như vậy, bộ môn triết học tôn giáo đã có bề dày lịch sử hai thế kỷ,triết học tôn giáo chia ra làm ba giai đoạn như sau
1.1 Triết học tôn giáo trước thời Kant
1.1.1.Thời Hy Lạp cổ đại
a.Xenophane(570-478 TCN).Ông đề cập đến tính hình đồng giữa thần và con người(thần cũng có những tính cách giống như con người,từ dung mao đến tính cách).Còn thần chân chánh thì phải thấy tất cả,nghe tất cả,vĩnh hằng,có một sức vô địch khiến cho tất cả vận động,đó chính là đấng quyền năng sáng tạo
b.Socrate(469-399 TCN).Ông thảo luận nhiều về đạo đức và tôn giáo,tìm hiểu về các nguyên nhân của các hiện tượng.Theo ông mọi cái trên thế giới điều do thần thánh sáng tạo ra để làm lợi ích cho con người
c.Platon(427-347TCN).Theo ông ,có sự tồn tại thế giới kinh nghiệm hiện thực và thế giới kinh nghiệm siêu việt.Ông cho rằng linh hồn là cái bất tử,còn thể xát thì mất đi không tồn tại ,linh hồn theo ông có hai:
+Linh hồn vũ trụ:nhận thức được thế giới,điều khiển được thế giới
+Linh hồn con người:có thiện và ác(điều từ thần đem đến)
c.Aristote(384-322 TCN).Ông phê phán ý niệm của Platon qua bốn điểm như sau: + Không hợp lý khi ý thức tồn tại độc lập
+Thế giới của Platon chỉ mô phỏng chứ không phải hiện tượng để mô tả bản chất +Có nhiều đểm mất logic
+Là những bản chất vĩnh cửu
Ông tin rằng có một thế giới vạn vật điều có một nguyên nhân cuối cùng và lực tác động đầu tiên.Đó chính là năng lực bên ngoài của thế giới hiện tượng là chỉ cho thượng đế(kết quả tất nhiên tồn tại siêu việt mà chúng ta tìm cầu)
1.1.2.Thời kỳ thần học trung cổ tây âu(476-1453)
Thời kỳ này thần học chiếm ưu thế hơn triết học.Các triết gia chủ yếu như a.Agustin(ông đề cập đến niềm tin có ba nhóm,thứ nhất :Khách thể không cần sự can thiệp của lý trí mà vẫn tin như các sự kiện chân lý lịch sử,thứ hai:Khách thể cần được
lý giải,thứ ba:Khách thể chỉ biết tin đó là chân lý của tôn giáo)
b.Thomas Daquin(ông cho rằng lý tính tự nhiên của con người là sai,chỉ có lý tính khải thị của thượng đế mới đúng thôi
1.1.3.Thời kỳ phục hưng(TK 15-16)
Trang 6Triết học duy vật thoát khỏi thần học nhưng còn mang nặng triết học duy tâm,trong khi đó triết học kinh viện bị hoài nghi nên dẫn đến việc cải cách tôn giáo.Các hiền triết điển hình như
a.Niconlas Conoernicus (ông đã tìm ra nhiều vùng đất mới,lý thuyết nhật tâm trái với thuyết địa tâm của thiên chúa)
b.Giordano filppo Bruno(ông cho rằng thế giới tự nhiên là thượng đế trong sự vật hiện tượng)
1.1.4.Thời kỳ thần luận tự nhiên(TK17-18)
Đề cao lý tính tự nhiên của con người,bỏ đi lý tính thiên khải của thần,coi tôn giáo chân chánh là tôn giáo nên lý giải biểu đạt bản tính con người.Triết giai tiêu biểu trong thời kỳ này là Denis Diderot(1713-1784),ông cho rằng không có chúa vì không cần có chúa vẫn có vạn vật ,chúa là do con người thần thánh hóa mà tạo ra
1.2.Triết học tôn giáo của Kant(1724-1804)
Triết học tôn giáo của Kant phản ánh xu thế thế tục hóa trong đời sống sinh hoạt Kitô giáo và khuynh hướng phân ly giữa nhà nước và Giáo hội Kitô, dẫn tới sự hình thành các nhà nước thế tục sau Cách mạng tư sản Pháp 1789-1794 Điều đó càng minh chứng cho luận điểm của B.Pascal (1623-1662): “Thượng đế trong quan niệm của các triết gia khác với Thượng đế trong Kinh thánh”, nói cách khác, triết học tôn giáo khác với thần học Triết học tôn giáo của I.Kant đi theo một hướng khác với các nhà thần học đương thời, nhưng đã có đóng góp lớn trong cả lĩnh vực triết học tôn giáo lẫn ngành tôn giáo học hiện đại
1.3 Triết học tôn giáo sau thời Kant
1.3.1 Triết học tôn giáo của Schleier Macher(1768-1834)
Schleiermacher đã tìm thấy bản chất của tôn giáo qua kinh nghiệm; và bản chất của từng trải trong sự nhận thức mang tính độc lập của kẻ tin Ông đã đưa điều này trở nên vấn đề then chốt cho từng tính chất Thần học Cơ Đốc giáo khác Đức Chúa Trời hiện hữu ngay trên điều mà chúng ta tùy thuộc Tội lỗi là một điều thất bại của cảm giác chúng ta khi chúng ta lại muốn biệt lập khỏi Ngài Chúa Giê-xu Christ là một Đấng hoàn toàn độc lập với Đức Chúa Cha trong mỗi tư tưởng, lời nói và việc làm của Ngài
Sự độc lập này kết hợp sự hiện hữu của Đức Chúa Trời ở trong Ngài Sứ mạng của Chúa Christ là làm cho hòa hợp sự độc lập này cho những người khác
1.3.2 Triết học tôn giáo của Hegel(1770-1831)
Hegel đã đưa ra được những quan điểm về tôn giáo hết sức sâu sắc và thực tiễn Ông gắn triết học với tôn giáo, xem triết học và tôn giáo có nội dung, nhu cầu và mối quan tâm chung Triết học và tôn giáo không khác biệt Ông tập trung nghiên cứu đối tượng của tôn giáo là chân lý vĩnh cửu trong tính khách quan, là chúa và luận giải về chúa,
về cái tuyệt đối Tìm hiểu sự ảnh hưởng của tôn giáo đối với đời sống xã hội, với giai cấp tổ chức và nhà nước và quá trình đấu trmình bảo vệ quan điểm của mình
Trang 7CHƯƠNG 2 QUAN NIỆM VỀ NGHIỆP BÁO TRONG BÀ LA MÔN VÀ PHẬT GIÁO
Trong đời sống thường nhật dường như nghiệp đã trở thành một thuật ngữ quen thuộc trong đời sống của mọi người Khi trải nghiệm một cảm giác nào đó, dù hài lòng hay phật ý, tốt hay xấu, thành công hay thất bại, chúng ta thường có khuynh hướng đem nghiệp ra đỗ lỗi Khi cảm giác hạnh phúc hiện hữu trong chúng ta, chúng ta thường cho rằng, đó là do nghiệp tốt, thiện từ quá khứ của chúng ta Ngược lại, khi cảm nhận
sự thất bại, bất an, hay khổ đau, chúng ta thường đổ lỗi cho nghiệp xấu, ác Điều đáng nói là, thậm chí không ít Phật tử đã quy y Tam Bảo lâu năm vẫn cho rằng đây là nghiệp của Phật giáo Từ đó dấy lên ý kiến cho rằng không nhiều người biết chính xác nghiệp là gì Thực sự không khó lắm để nhận ra tại sao ít người hiểu tường tận về nghiệp Đó là bởi vì nghiệp có lịch sử phát triển lâu dài Trong khả năng hiểu biết của người viết cho rằng tại Ấn Độ, có ba tôn giáo bàn đến thuyết Nghiệp: Bà La Môn giáo, Kỳ Na Giáo, và Phật giáo Bởi thế, chắc chắn rằng ý nghĩa của nghiệp hẳn khác nhau giữa ba tôn giáo này Cách dùng từ nghiệp của người bình thường cho chúng ta biết rằng họ đánh đồng nghiệp với thuyết định mệnh hay tiền định Điều đó hàm ý rằng họ không thể phân biệt nghiệp của Phật giáo với hai tôn giáo kia Và đó là lý do người viết dùng bài nghiên cứu này để khảo sát Nghiệp trong từng tôn giáo riêng biệt cũng như học thuyết về nghiệp được phát triển như thế nào bắt đầu từ Bà La Môn giáo, đến Phật giáo
2.1.Nghiệp trong Bà La Môn Giáo
Học thuyết về Nghiệp khống chế nền triết học Ấn Độ trước, trong, và sau thời đức Phật Chúng ta không nghe tôn giáo nào khác bàn về Nghiệp ngoài ba tôn giáo: Bà La Môn giáo, Kỳ Na giáo, và Phật giáo Trước hết, tôi muốn bàn về Nghiệp trong Bà La Môn giáo Theo triết học Ấn Độ, thể loại văn học sớm nhất của nước này là Vệ Đà (Vedas), được sáng tác sớm nhất vào khoảng thế kỷ 15 trước tây lịch[1] Có bốn loại
Vệ Đà: Rg Veda, Sāma Veda, Yajur Veda, và Athurva Veda Giới nghiên cứu cho rằng Rg Veda, Sāma Veda, Yajur Veda là những phiên bản gốc, còn Athurva Veda được thêm vào thời gian sau này Mỗi tác phẩm Vệ Đà được chia thành ba phần: Saṁhitās, Brāhmanas, và Āranyakas The Upanisads, vốn chứa đựng nhiều lĩnh vực triết lý, tạo ra phần cuối của Vệ Đà (Āranyakas) Trong số bốn tác phẩm Vệ Đà, phải nói rằng, Rg Veda có thẩm quyền và giá trị văn học hơn cả.Điểm cơ bản đầu tiên trong thuyết nghiệp cùa Bà La Môn giáo được nói đến trong phần Rta thuộc Rg Veda
Về mặt nghĩa đen, Rta là trật tự của vũ trụ, vạn vật[2] Chính từ cái Rta này, người ta tin quy luật về Nghiệp trong tư tưởng Ấn Độ được phát sinh Quy luật này lan tỏa khắp vũ trụ Nó điều khiển thiên nhiên một cách nhất quán Thượng đế hay con người đều phải tuân thủ quy luật Rta Đây là quy luật đạo đức, quy luật xã hội cũng như quy luật tế thần Để mang lại kết quả tốt đẹp, mọi hành động trong lễ tế thần phải tuân thủ quy luật của Rta Theo những gì được đề cập trong Rg Veda, tế thần được tin là một hình thức của Nghiệp, cái đem lại những kết quả như trông đợi nếu hành động được thực hiện một cách “thích hợp” Khi hành lễ tế thần, người ta phải tuân thủ từng bước một cách tuyệt đối Thậm chí những sai khác trong từng chi tiết nhỏ nhặt lúc hành lễ cũng đủ làm hỏng tất cả khóa lễ tế thần Nhưng nếu lễ tế thần được thực hiện một cách thích hợp, kết quả tốt đẹp và được trông đợi chắc chắn sẽ xảy ra Không ai hay bất cứ điều gì có thể ngăn cản được Hay nói cách khác, người ta tin chắc rằng tế thần được
Trang 8thực hiện theo giáo lý Vệ Đà tạo ra Nghiệp tốt đẹp; nghiệp này sẽ đem lại kết như ý.
Tế thần trong Bà La Môn giáo được cho là một loại trách nhiệm duy nhất Nó được gọi là hành động (Karma or Kriya) và là quy luật vĩnh hằng, không thay đổi Những buổi lễ huyền bí, dù tốt đẹp hay xấu ác, đạo đức hay phi đạo đức, đều đã được sắp đặt
để phát sinh những kết quả của nó Do đó, cái Nghiệp trong Bà La Môn giáo không liên quan gì đến tái sanh Người ta nói đến tốt đẹp hay xấu ác với ý nghĩa rằng, họ làm
lễ tế thần đúng hay sai theo các bước đã quy định sẵn Sau khi chết, người ta sẽ được hỏa táng, trở về với tổ tiên, và sống ở trên mặt trời Còn khi trở lại mặt đất, họ sẽ có thân thể, đoàn tụ với gia đình Điều này được hiểu rằng có hai thế giới: thế giới này và thế giới bên kia (ngụ ý thế giới tổ tiên mà họ trở về sau khi chết) Trong giai đoạn phát triển về sau của Bà La Môn giáo được gọi là giai đoạn Upanisads, học thuyết về Nghiệp có liên hệ đến tái sanh Bṛhadāraṇyaka Upaniṣads nói rằng sau khi chết, người
ta có hai con đường để đi theo nghiệp mà họ đã thực hiện trong đời hiện tại: (1) con đường về với thượng đế (devayāna) và (2) đường về với tổ tiên (pitriyāna) Bṛhadāraṇyaka Upaniṣads VI.2.15 nói rằng: “Những ai biết tế thần và những ai trú trong núi rừng hoang vắng, tin tưởng, và vang vái thần linh, họ sẽ đi xuyên qua ngọn lửa, từ ngọn lửa đi vào ngày, từ ngày đi vào mặt trăng tròn, ở tại mặt trăng tròn sáu tháng khi mặt trời xoay về hướng bắc; trong sáu tháng ở mặt trăng, người ta sẽ đi vào thế giới của thượng đế, từ thế giới của thượng đế đi vào mặt trời, từ mặt trời đi vào vùng sấm sét; sấm sét sẽ đưa họ về với thế giới Phạm Thiên (Brahman) Những người
có địa vị cao sẽ ở lại thế giới Phạm Thiên thời gian lâu nhất Họ sẽ không trở lại nữa.” Bṛhadāraṇyaka Upaniṣads VI.2.16 mô tả cũng tương tự như vậy: “Hay nói cách khác, những ai đến được thế giới thiên đường bằng cách tế thần linh, bằng cách ban thưởng, bằng cách tu khổ hạnh hành xác, họ sẽ đi vào làn khói, từ làn khói đi vào đêm, từ đêm
đi vào mặt trăng khuyết, ở lại mặt trăng khuyết sáu tháng khi mặt trời xoay về hướng nam; trong sáu tháng ở mặt trăng, người ta sẽ đi về thế giới tổ tiên; và từ thế giới tổ tiên, người ta sẽ đi vào mặt trăng Đến mặt trăng, người ta sẽ thành thức ăn Tại đấy,
họ sẽ trở thành thượng đế, khi họ nói với vua Soma, mặt trăng: “Thăng! Giáng!” Khi kết thúc vòng này, họ sẽ đi vào bầu trời, từ bầu trời đi vào gió, từ gió đi vào mưa, từ mưa đi về trái đất Đến trái đất, họ lại trở thành thức ăn Một lần nữa, họ lại nương vào lửa của con người và tái sanh bằng lửa của người phụ nữ Rồi lên thế giới thiên đường một vòng nữa, họ lại luân chuyển trong cái vòng tương tự” “Tuy nhiên, những ai không biết hai con đường này sẽ trở thành côn trùng, sâu bọ, và rắn rít.”Như vậy, Nghiệp trong Upaniṣads không có liên hệ gì đến đạo đức, luân lý và sự chủ ý bởi vì không có sự khác biệt giữa cá nhân và vũ trụ, giữa tiểu ngã và đại ngã (microcosm và macrocosm) Trên cấp độ vũ trụ, Brahman và ātman được hiểu là đồng nhất Ngã ((Ātman) là thường hằng, bất biến, vì thế không thể thành bất cứ điều gì khác Dựa trên khái niệm về Ātman, cho dù tôi làm ác trong đời này, tôi vẫn sẽ không bị tác động bởi hành động ác, bởi vì “cái tôi” là vĩnh hằng, không thay đổi Nói cách khác, theo học thuyết về nghiệp của Upaniṣads, ātman là người tạo nghiệp (kartṛ) nhưng cũng là người thụ hưởng kết quả của nghiệp (bhoktṛ) Nghiệp trở thành một hoạt động và tri nhận cái Ngã vĩnh hằng trong con người[3] Chúng ta có thể tuyên bố một cách chắc chắn rằng Nghiệp trong Rg Veda và Upaniṣads là một loại tiền định bởi vì người tạo nghiệp không phải chịu một trách nhiệm đạo đức nào và sở hữu một cái Ngã bất biến thường hằng
2.2.Nghiệp Trong Phật Giáo
Trang 9Đức Phật thuyết giảng giáo lý về Nghiệp là để phản hồi lại nghiệp của Bà La Môn giáo và Kỳ Na giáo Đức Phật nói nghiệp(kamma) là tác ý (cētana) Trong cái nghiệp của Bà La Môn, như đã nói ở phần trước, những người đạt đến giác ngộ đi xuyên qua mặt trời vào vùng sấm sét khi họ chết; từ đó, họ sẽ đi vào thế giới Phạm Thiên , trú ở
đó, và sẽ không bao giờ tái sanh nữa Phật phản hồi điều này trong Kinh Tam Minh (Tevijja Sutta) rằng,[4] cho dù họ thấy mặt trời và mặt trăng đi nữa, họ thậm chí cũng không biết lối vào, huống là lối vào thế giới Phạm Thiên (Brahmā) Phật tranh luận với Bà La Môn rằng, người Bà La Môn tự cho họ có đạo đức thanh tịnh, nhưng kỳ thực họ không có đạo đức, làm sao họ có thể vào được thế giới Phạm Thiên? Sau đó, Phật nói với Bà La Môn Vāseṭṭtha rằng, ngài biết lối vào thế giới Phạm Thiên và làm cách nào để đến được đó Phương cách Phật nói là, giả sử có người tình cờ gặp Phật, nghe giáo pháp của ngài, từ bỏ đời sống thế gian, và thọ trì giới cấm Về sau, người này xuất gia thành Sa Môn, quán từ, bi, hỷ, và xả Theo Phật, đây là lối vào thế giới Phạm Thiên Phật cực lực bác bỏ quan điểm của Ba La Môn cho rằng, tế thần là thiện nghiệp đưa đến đời sống hạnh phúc trong tương lai Phật nói ngược lại điều này trong Kinh Tăng Chi (tập II, phẩm 42)[5] Theo đó, một vị Sa môn phạm hạnh, đầy đủ giới đức sẽ đi vào thế giới Phạm Thiên sau khi chết Chết ở đây hàm ý là nhập Niết Bàn (Nirvāna) khi vị ấy chứng đắc quả vị A-ha-hán, không phải chết theo nghĩa đen thông thường[6].Thuyết nghiệp của Phật giáo cũng bác bỏ thuyết định mệnh về nghiệp của
Bà La Môn và Kỳ Na giáo Phật nhấn mạnh rằng thuyết định mệnh (niyati) và nghiệp hoàn toàn khác nhau Quan điểm về nghiệp nhấn mạnh hành động của con người có tầm rất quan trọng cùng kết quả của nó: tác nhân phải chịu trách nhiệm về hành động
họ tạo ra Phật dạy con người có quyền tự do lựa chọn; hành động hiện tại của họ không phải là kết quả của những hành động trong đời trước; không phải mọi thứ xảy đến với con người đều được xem là do nghiệp Những cảm giác không như ý hay bệnh tật mà chúng ta trải nghiệm có thể phát sinh từ nhiều nguyên nhân: (1) từ mật, (2) đờm giải, (3) gió, (4) từ sự thiếu cân bằng của ba tính chất này, (5) từ sự thay đổi thời tiết, (6) từ những hành vi bất cẩn, (7) đến đột ngột (bởi hành động của người khác), (8) từ kết quả của nghiệp (Kinh Tương Ưng, chương 36, phẩm 21)[7] Lời Phật dạy cho chúng ta biết rằng một kết quả nào đó xảy đến có tám nguyên nhân; và chỉ một trong tám nguyên nhân là do nghiệp.Phật giải thích rằng, đối với một người không tu tập giới, tâm, và tuệ, một điều ác nhỏ có thể dẫn dắt họ bị đọa lạc dưới địa ngục, như bỏ nắm muối vào ly nước, ly nước sẽ quá mặn, và không thể uống được Đối với người tu tập giới, tâm, và tuệ, một hành động tương tự như vậy chỉ khiến họ thọ cái quả nhẹ hơn rất nhiều ngay trong đời này; và trong trường hợp nếu phải chịu quả báo ở đời tương lai, thì chỉ như bỏ nắm muối vào sông hằng; nước sông hằng không phải vì nắm muối mà mặn đến nỗi không thể uống được Như vậy, hai tác nhân cùng thực hiện một hành động nhưng thọ quả bảo khác nhau Điều này hàm ý rằng, nơi người có tu tập và có phẩm hạnh, một sơ suất nhỏ sẽ không để lại quả báo nguy hại lên họ, vì giới đức sẽ làm bão hòa cái quả báo nhỏ ấy Người không có giới đức phải thọ nhận quả báo xấu hơn.Phật cũng dạy thuyết nghiệp liên hệ với tái sanh Tiểu Kinh Nghiệp Phân Biệt chép rằng thanh niên Bà la môn đến gặp Phật và thỉnh ngài giải thích tại sao giữa loài với nhau, có người đoản thọ, có người trường thọ; có người xấu tướng, có người hảo tướng; có người quyền thế nhỏ, có người quyền thế lớn, có người có tài sản nhỏ,
có người có tài sản lớn; có người sinh trong gia đình lạ liệt, có người sinh trong gia đình cao quý? Phật trả lời như sau: “các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa
Trang 10tự của nghiệp Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình; nghĩa là có liệt, có ưu”[8] Lời Phật dạy ở đây phảng phất trách nhiệm đạo đức Chân lý chung của vũ trụ là, hành vi đạo đức, nhân ái sẽ trổ quả báo tốt đẹp trong thời gian dài; hành vi phi đạo đức, không nhân ái sẽ trổ quả báo khổ đau Bản chất của thiện nghiệp làm tăng ích hạnh phúc tinh thần và vật chất cho loài người; nó phù hợp với nguyên lý chung, rằng không ai có thể có hạnh phúc trên sự đau khổ của người khác.Đại dịch Covid -19 là hồi chuông cảnh tỉnh chúng ta về giáo
lý nhân quả nghiệp báo của Phật giáo, Covid-19 liên hệ tới học thuyết nghiệp báo nhân quả (do biệt nghiệp và cộng nghiệp gây ra).Covid-19 xuất hiện đầu tiên ở Vũ Hán Trung Quốc sau đó lan rộng ra khắp thế giới,trang thống kê worldometers.info cho biết, tính đến sáng 30-10-2021 (theo giờ Việt Nam), toàn thế giới đã ghi nhận hơn 246.743.400 ca nhiễm Covid-19 và đáng buồn hơn là số ca tử vong do virus SARS-CoV-2 đã vượt mốc 5 triệu người,các biện pháp kiểm soát đại dịch đã gây ra tổn thất kinh tế đáng kể trong năm 2021 Nhiều người cho rằng với đại dịch phải hành động ngay nếu không số người chết sẽ tăng nhmình và có thể không kiểm soát được trong thời gian ngắn, chưa kể còn phải đồng thời giảm thiểu các tác động tàn phá về kinh tế
và xã hội Trong khi đó, những thách thức về môi trường và khí hậu lại không được nhìn nhận với tinh thần khẩn trương như vậy Đó cũng là lý do tại sao chính phủ và người dân các nước có vẻ hành động chậm chạp với những thách thức đó.Biến đổi khí hậu mà biểu hiện chính là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng đã tạo nên các hiện tượng thời tiết cực đoan hiện nay Đây là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ XXI vì biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng trực tiếp đến
hệ sinh thái, tài nguyên môi trường và cuộc sống của con người Nhiệt độ ngày càng tăng kết hợp với lũ lụt và hạn hán đang trở thành mối đe dọa với sức khỏe dân số toàn cầu Bởi đây là môi trường sống lý tưởng cho các loài muỗi, những loài ký sinh, chuột
và nhiều sinh vật mang bệnh khác phát triển mạnh.Tổ chức WHO đưa ra báo cáo rằng các dịch bệnh nguy hiểm đang lan tràn ở nhiều nơi trên thế giới hơn bao giờ hết Những vùng trước kia có khí hậu lạnh giờ đây cũng xuất hiện các loại bệnh nhiệt đới.Hàng năm có khoảng 150 ngàn người chết do các bệnh có liên quan đến biến đổi khí hậu, từ bệnh tim do nhiệt độ tăng quá cao, đến các vấn đề hô hấp và tiêu chảy Trong thời Phật, khi dịch bệnh xảy ra, có một gia chủ trình thưa Đức Phật vì sao ngày nay làng mạc xơ xác, hạn hán, dịch bệnh, nhiều người mạng chung, Đức Phật đã trả
lời: " Này Bà-la-môn, ngày nay, các loài người bị tham ái phi pháp làm cho say đắm,
và bị ác tham chinh phục, bị các tà kiến chi phối Vì bị tham ái phi pháp làm cho say đắm, vì bị ác tham chinh phục, vì bị tà kiến chi phối, trời không mưa xuống đều đặn.
Vì vậy, bữa ăn khó tìm, mùa màng hư mất, trắng xóa với côn trùng, chỉ còn lại cọng dẹp Do vậy, nhiều người mạng chung Đây là nhân, này Bà-la-môn, đây là duyên, vì sao ngày nay loài người bị tiêu diệt, bị giảm thiểu trông rõ như thế, các làng trở thành không phải làng, các thị trấn trở thành không phải thị trấn, các thành phố trở thành không phải thành phố, các quốc độ trở thành không phải quốc độ." Lại nữa, này Bà-la-môn, ngày nay, các loài người bị tham ái phi pháp làm cho say đắm, và bị ác tham chinh phục, bị các tà kiến chi phối Vì bị tham ái phi pháp làm cho say đắm, vì
bị ác tham chinh phục, vì bị tà kiến chi phối, các loài Yakkha (Dạ-xoa) thả ra các loài phi nhân dữ tợn Vì vậy, nhiều người mạng chung Đây là nhân, này Bà-la-môn, đây
là duyên, ngày nay loài người bị tiêu diệt, bị giảm thiểu trông rõ như thế, các làng trở thành không phải làng, các thị trấn trở thành không phải thị trấn, các thành phố trở