1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN môn TRIẾT học tôn GIÁO QUAN NIỆM về NGHIỆP báo THEO bà LA môn GIÁO và PHẬT GIÁO

18 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 207,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DẪN NHẬPLà một phần trong cái hùng vĩ nền triết học Ấn Độ, Bà-la-môn giáo và Phật giáo đã có sự đóng góp to lớn, không những trên bình diện triết lý u huyền mà còn để lại những ảnh hưởng

Trang 1

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CƠ SỞ I

KHOA PHẬT HỌC TỪ XA - KHÓA VI

THÍCH TÂM AN (LÂM THANH TÂN) QUAN NIỆM VỀ NGHIỆP BÁO THEO BÀ LA MÔN

GIÁO VÀ PHẬT GIÁO BÀI TIỂU LUẬN GIỮA KỲ VI MÔN: TRIẾT HỌC TÔN GIÁO

Tp HCM, tháng 6 năm 2022

Trang 2

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CƠ SỞ I

KHOA PHẬT HỌC TỪ XA - KHÓA VI

THÍCH TÂM AN (LÂM THANH TÂN) QUAN NIỆM VỀ NGHIỆP BÁO THEO BÀ LA MÔN

GIÁO VÀ PHẬT GIÁO BÀI TIỂU LUẬN GIỮA KỲ VI MÔN: TRIẾT HỌC TÔN GIÁO

MSSV: TX6384 GVHD: TT.TS THÍCH GIÁC DUYÊN

Tp HCM, tháng 6 năm 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là bài tiểu luận của riêng tôi Tôi đã dành nhiều thời gian và tâm huyết để tìm và đối chiếu các nguồn tài liệu nghiên cứu Các thông tin, tài liệu tham khảo và kết quả trong bài tiểu luận là hoàn toàn trung thực, cụ thể, được kiểm duyệt kĩ lưỡng bằng nhiều phương pháp khác nhau và tôi chưa từng công bố tập luận văn này trong bất kỳ trường hợp nào

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành tri ân TT.TS THÍCH GIÁC DUYÊN, Người đã tận tâm giảng dạy

và hướng dẫn cho con trong quá trình thực hiện tiểu luận này.Thành kính tri ân Hội đồng điều hành Học viện Phật giáo Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh cùng chư

vị Giáo thọ sư đã dạy dỗ, động viên, khích lệ và giúp đỡ cho con trong suốt khoảng thời gian vừa qua.Xin chân thành tri ân Thượng Tọa Bổn Sư thượng Thanh hạ Phong, Vị ân sư khả kính, người đã tạo điều kiện cho con được xuất gia tu tập và lo lắng cho con về mọi mặt trong cuộc sống tu học.Xin chân thành cảm ơn Ba Mẹ người đã sinh con ra thân mạng này để được sống và tu học theo giáo pháp và con đường Giác Ngộ của Đức Phật.Xin cảm ơn tất cả những bậc thiện hữu tri thức đã giúp đỡ con trong quá trình học tập và hoàn thành tiểu luận này.Trong quá trình thực hiện, tiểu luận này con còn có nhiều khuyết điểm Ngưỡng mong chư vị Tôn Đức cùng các bậc thiện hữu hoan hỷ và chỉ điểm thêm để con được học hỏi và hoàn thiện bản tiểu luận này.

Trang 4

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH TÔN GIÁO

1.1 Khởi nguyên

1.2.Thời kỳ đầu

1.3.Thời cận-hiện đại

CHƯƠNG 2: NGHIỆP TRONG PHẬT GIÁO VÀ BÀ LA MÔN GIÁO 2.1.Nghiệp theo Bà la môn giáo

2.2.Nghiệp theo Phật giáo

2.3 Mối quan hệ giữa Phật giáo và Bà-la-môn giáo

CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG TU TẬP CHUYỂN HÓA NGHIỆP THEO QUAN ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO

3.1 Vượt qua chướng duyên trong tu tập

3.2 Tu tập Sáu pháp hòa kính

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

A DẪN NHẬP

Là một phần trong cái hùng vĩ nền triết học Ấn Độ, Bà-la-môn giáo và Phật giáo đã

có sự đóng góp to lớn, không những trên bình diện triết lý u huyền mà còn để lại những ảnh hưởng sâu đậm trong từng nếp nghĩ, cử chỉ hay quan niệm sống của toàn thể dân tộc Ấn Độ.Và cũng vì là hai thực thể có cùng chung một dòng máu nên trong quá trình phát triển, cả hai đều đã có những ảnh hưởng nhất định lên nhau Nhưng vì ra đời muộn hơn nên đã có không ít quan niệm cho rằng Phật giáo là sự hệ thống lại các tư tưởng Ấn độ giáo, hoặc cũng có ý kiến cho rằng đạo Phật là phản biện của chủ nghĩa tôn giáo Ấn Còn có rất nhiều nữa những quan niệm hoặc là thế này hoặc là thế kia để so sánh những mệnh đề đã tồn tại từ lâu trong lòng của hai khối tư tưởng một thời đã từng được xem là đối kháng của nhau.Với tư cách là một thành viên của Phật giáo, chúng ta đã có suy nghĩ gì về những lời bàn luận trên? Thiết nghĩ, muốn hiểu được, có lẽ chúng ta phải hiểu được bản chất triết học của Bà-la-môn là gì Nhưng bằng cách nào? Ở đây, người viết xin thông qua những phạm trù nhận thức căn bản nhất của Phật giáo để xem Bà-la-môn giáo đã được hiểu như thế nào? Tuy nhiên, với những giới hạn nhất định của một bài viết – không phải

là một bài khảo cứu chuyên nghành – nên sự cho phép ở đây chỉ được giới hạn trong những điểm cơ bản nhất mà người viết cho rằng thật cần thiết để đánh giá về một trào lưu tư tưởng đã có quan hệ sâu đậm đối với Phật giáo trong suốt chiều dài lịch sử.Đó là lý do học viên chọn đề tài:Quan niệm về Nghiệp báo theo Bà-la-môn giáo

và Phật giáo làm tiểu luận của mình

Trang 6

CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH TÔN GIÁO 1.1 Khởi nguyên

Với những thành tựu to lớn của ngành khảo cổ học, người ta đã chứng minh được sự tồn tại của con người cách đây hàng triệu năm (từ 4 – 6 triệu năm) Tuy nhiên, với những hiện vật thu được người ta khẳng định: có đến hàng triệu năm con người không hề biết đến tôn giáo Bởi vì tôn giáo đòi hỏi tương ứng với nó là một trình độ nhận thức cao, nó là sản phẩm của tư duy trừu tượng trong một đời sống xã hội ổn định.Hầu hết trong giới khoa học đều thống nhất rằng chỉ khi con người hiện đại – người khôn ngoan (Homo Sapiens) – hình thành và tổ chức thành xã hội, tôn giáo mới xuất hiện Thời kỳ này cách đây khoảng 95.000 – 35.000 năm Tuy nhiên trong thời kỳ đầu mới chỉ là các tín hiệu đầu tiên Đa số các nhà khoa học đều khẳng định tôn giáo ra đời khoảng 45.000 năm trước đây với những hình thức tôn giáo sơ khai như đạo Vật tổ (Tôtem), Ma thuật và Tang lễ Đây là thời kỳ tương ứng với thời kỳ

đồ đá cũ

1.2.Thời kỳ đầu

Bước sang thời kỳ đồ đá giữa, con người chuyển dần từ săn bắt, hái lượm sang trồng trọt và chăn nuôi, các hình thức tôn giáo dân tộc ra đời với sự thiêng liêng hóa các nguồn lợi của con người trong sản xuất và cuộc sống: thần Lúa, thần Khoai, thần Sông… hoặc tôn thờ các biểu tượng của sự sinh sôi (thờ giống cái, hình ảnh phụ nữ, phồn thực…), đó là các vị thần của các thị tộc Mẫu hệ Khi đồ sắt xuất hiện, các quốc gia dân tộc ra đời nhằm mục đích phục vụ cho sự củng cố và phát triển của dân tộc Tất cả các vị thần ấy còn tồn tại chừng nào dân tộc tạo ra vị thần ấy còn tồn tại của đế chế và được chấp nhận như một tôn giáo chính thống Theo thời gian, do nội dung của các tôn giáo mang tính phổ quát, không gắn chặt với một quốc gia cụ thể, với các vị thần cụ thể, với nghi thức cụ thể của một cộng đồng tộc người, dân tộc hay địa phương nhất định nên sự bành trướng của nó diễn ra thuận lợi, dễ dàng thích nghi với các dân tộc khác Do vậy, dù được phổ biến bằng cách nào (chiến tranh hay hòa bình), các tôn giáo đó đã được các quốc gia bị lệ thuộc trực tiếp hay gián tiếp, tự giác hay không tự giác tiếp nhận và trên nền tảng của tôn giáo truyền thống, biến đổi thành tôn giáo riêng của quốc gia đó Sự bành trướng kiểu như vậy diễn ra trong suốt thời kỳ văn minh công nghiệp và cho đến tận ngày nay Tuy nhiên cũng cần phải chú ý rằng, giữa tôn giáo khu vực hay tôn giáo thế giới vừa chung sống cạnh nhau, vừa tranh chấp xung đột nhau và không ít trường hợp, với sự ủng hộ của các thế lực quân sự, chính trị, chiến tranh tôn giáo đã xảy ra Những tôn giáo như Kitô, Hồi do tính cực đoan của mình (chỉ coi chúa hay thánh của mình là đối tượng tôn thờ duy nhất) nên ban đầu đi đến đâu cũng khó dung hòa với các tôn giáo khác đã có mặt ở đó từ trước Còn một số tôn giáo phương Đông như Nho, Phật thì khác, chúng chấp nhận hòa đồng với các tôn giáo bản địa, có xu hướng trần tục nhiều hơn là thế giới bên kia

1.3.Thời cận-hiện đại

Cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo ra một xã hội công nghiệp, xã hội này đòi hỏi phải có một tôn giáo năng động và tự do hơn, khó chấp nhận một tổ chức, một giáo

Trang 7

lý với những nghi thức cứng nhắc, phức tạp Tình trạng độc tôn của một tôn giáo trong một quốc gia đã bắt đầu chấm dứt và chấp nhận sự đa dạng trong đời sống tôn giáo Từ đây quan niệm và sau là chính sách tự do tôn giáo ra đời, phát triển nhanh hay chậm và thể hiện khác nhau ở các quốc gia khác nhau Những yếu tố lỗi thời được huỷ bỏ hoặc tự thay đổi, thay thế để thích nghi Với xu thế quốc tế hóa ngày càng gia tăng, việc mỗi cá nhân chỉ biết đến tôn giáo của mình đã trở nên lạc hậu Mỗi người đều rằng trên thế gian có nhiều thánh thần, có nhiều tôn giáo Họ bắt đầu hoài nghi và lựa chọn, thần thánh được mang ra tranh luận, bàn cãi và làm nảy sinh

xu thế thế tục hóa tôn giáo và xu thế này ngày càng thắng thế.Trong thời đại ngày nay, khi mà xu thế toàn cầu hóa đang chi phối mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, sự nâng cao về trình độ học vấn và đặc biệt là những thành tựu của khoa học và công nghệ đã làm cho các tôn giáo ngày càng trở nên thế tục hóa kéo theo sự đa dạng trong đời sống tôn giáo Từ đây xuất hiện các ý kiến khác nhau trong một tôn giáo

và dẫn đến sự chia rẽ trong các tôn giáo một cách có tổ chức, bùng nổ các giáo phái

và xuất hiện nhiều tôn giáo mới Bản thân trong các tôn giáo khu vực và thế giới cũng có những biểu hiện khác trước: số tín đồ ngày càng tăng nhưng số tín đồ thực

tế giảm, nghĩa là người ta theo đạo nhưng không hành đạo, nhiều tín đồ bỏ đạo để theo các "đạo mới" Trong nội bộ các tôn giáo có sự chia rẽ thành những giáo phái với những tính chất cấp tiến, ôn hòa hoặc cực đoan [1]

Trang 8

CHƯƠNG 2: NGHIỆP TRONG PHẬT GIÁO VÀ BÀ LA MÔN GIÁO 2.1.Nghiệp theo Bà la môn giáo

Ấn Độ giáo quan niệm rằng, linh hồn của bất kỳ một thể sống nào, bao gồm: động vật và thực vật; khi chết đi, hay hoại diệt, và đầu thai, đều có liên hệ một cách phức tạp với Nghiệp.Nghiệp hay gọi đúng hơn là Nghiệp Báo, theo Hindu giáo, là tổng số các hành động của một người, và là lực, sẽ quyết định sự đầu thai kế tiếp của người

đó qua vòng xoay, luân chuyển (Luân Hồi) của việc chết và tái sinh.Theo tư tưởng Nghiệp Báo và Luân Hồi, kinh Upanishad (Áo Nghĩa Thư – kinh điển với ý nghĩa uyên áo, giữa thầy và trò) cho rằng: Con người sẽ trở nên tốt, nhờ họ có những hành động tốt trong cuộc sống, và họ sẽ trở nên xấu nếu cuộc sống của họ có nhiều hành động xấu.Và để diễn rộng hơn, kinh Áo Nghĩa Thư, đã dẫn chứng những ví dụ như:Nếu người nào sống có những hành vi tốt đẹp thì sau khi chết sẽ đầu thai vào kiếp khác tốt đẹp hơn, hoặc thành Bà La Môn, hoặc thành người quý tộc, hoặc thành thương nhân.Còn những ai có hành vi xấu xa, sau khi chết, sẽ phải đầu thai vào những kiếp xấu xa như: kiếp chó, kiếp heo, ngạ quỷ, hay những kẻ nô lệ hèn mọn, làm tôi tớ cho người khác, v.v.Bên cạnh đó, quan điểm về Luân Hồi, còn được thể hiện trong các thuyết Ashrama (những bước trong hành trình của cuộc sống), về bốn giai đoạn mà con người phải trải qua để đạt được sự giải thoát của linh hồn, tức là tránh khỏi Luân Hồi, bao gồm:

1 Học tập

2 Lập gia đình, tạo sự nghiệp

3 Hướng về tâm linh

4 Thoát ly xã hội để tu hành

Bốn gia đoạn này, cũng được diễn giải qua tư tưởng Brahman (Đại Ngã) và Atman (Tiểu Ngã).Cũng theo Áo Nghĩa Thư, đại ngã là nguồn gốc tối cao của vũ trụ; và đại ngã là đại vũ trụ, là đại hồn, hay còn gọi là Thượng Đế Còn tiểu ngã là bản ngã của con người Hay, tiểu ngã là tiểu hồn, là tiểu vũ trụ Và tiểu ngã chỉ là một phần rất nhỏ từ đại ngã tách ra.Do đó, đại ngã và tiểu ngã vốn đồng về bản chất, nên đại ngã

và tiểu ngã có thể tương thông được với nhau Vì vậy, tiểu ngã có thể nhờ sự tu luyện để đạt được sự giải thoát của linh hồn, thoát khỏi các khổ não ràng buộc nơi cõi trần, và có thể đem tiểu ngã trở về hợp nhất với đại ngã.Nếu tiểu ngã nào không thể giải thoát được những ràng buộc, và vẫn không dứt khỏi nghiệp thì tiểu ngã đó không dứt khỏi Luân Hồi và phải đầu thai trở lại cõi trần, hết kiếp này đến kiếp khác.Dựa trên những định nghĩa và cách diễn giải về luật Luân Hồi này, đã giúp cho các thầy tu Bà La Môn giải thích được cho các tín đồ Hindu giáo, về lý do tại sao lại

có sự phân biệt đẳng cấp trong xã hội Ấn Độ của ngày xưa cũng như ngày nay

2.2.Nghiệp theo Phật giáo

Trang 9

Theo Phật giáo, nguyên nhân trói buộc con người trong luân hồi sinh tử, chính là tam độc: tham, sân và si.Luân Hồi tuân theo nguyên tắc của luật Nhân Quả, luân chuyển qua sáu cõi, tùy vào nghiệp của con người đã tạo ra trong quá khứ, mà người

đó, sẽ tái sinh vào một trong sáu cõi, gồm: Trời-Thần; Người; Atula; Súc Sinh; Quỷ Đói (Ngạ Quỷ); và Địa Ngục.Còn định nghĩa của Nghiệp theo đạo Phật là hành động hay việc làm Nghiệp được gây nên bởi hành, cụ thể là do thân, khẩu, ý, tạo ra.Thế nên, tùy theo Nghiệp Báo mà chúng ta có thể sinh ra trong một tình trạng, hay hoàn cảnh nào đó, tùy thuộc vào chính những hành động của chúng ta trong quá khứ đã tạo nên.Nếu trong kiếp hiện tại, mặc dù, chúng ta sống một đời sống trong sạch, nhưng chúng ta lại gặp phải những điều bất hạnh thì chúng ta phải biết rằng,

đó là, do nghiệp xấu của ta trong quá khứ đã tác động, mà có.Trái lại, nếu chúng ta đang sống trong một đời xấu xa, tội lỗi, nhưng chúng ta vẫn đang được hưởng an vui hạnh phúc, giàu sang, may mắn, thì đó, cũng là do nghiệp tốt của chúng ta đã tạo trong quá khứ, mà có.Đạo Phật quan niệm rằng, kiếp sau của chúng ta như thế nào, tùy thuộc vào 4 loại nghiệp như sau:

1 Nghiệp Cận Tử: Đây là nghiệp quan trọng nhất Khi chúng ta sắp chết chúng

ta sẽ tiếc nuối vòng đời, chúng ta sẽ được tua lại, trong đó, có những việc chúng ta tiếc là mình đã làm, và cũng có những việc chúng ta tiếc là đã không làm

2 Tích Lũy Nghiệp: là nghiệp sinh ra trong quá trình chúng ta sống Nghiệp được sinh ra bởi Tâm, Thân, Khẩu Mỗi một lời nói, suy nghĩ, hành động của chúng ta đều giống như đang gieo hạt, và hạt đó sẽ sinh ra quả tốt hay xấu tương ứng

3 Tập Quán Nghiệp: là thói quen của chúng ta sinh ra nghiệp

4 Cực Nghiệp: Nghiệp tạo ra, gây ra hậu quả nghiêm trọng, trái với luân thường đạo lý như: giết người

Luật Nhân Quả trong Phật giáo, cũng khá tương đồng với Hindu giáo, trong quan điểm về Nghiệp Báo và Luân Hồi Nhưng đứng trên góc độ xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, không phân biệt cao thấp, thì Phật giáo lại đi ngược lại với xã hội phân chia gia cấp hay phân biệt đẳng cấp mà Hindu giáo muốn tạo dựng Trong khi quan điểm của Hindu giáo, chú trọng vào việc đưa bản ngã của con người ra khỏi tầm ảnh hưởng của Ý Thức, thì Phật giáo lại chú trọng đến sự phát triển Ý Thức lên đỉnh điểm của nhận thức để chuyển hóa tâm thức và giác ngộ được Thật Tính của các pháp.Về phương pháp giải thoát, do vì quá chú trọng đến sự thể nhập của tiểu ngã vào đại ngã làm đối tượng, nên các phương pháp của Hindu giáo thường sử dụng các lễ nghi, nghiên cứu kinh Vệ Đà, Áo Nghĩa Thư, và thực hành Yoga, với mục đích hạn chế Ý Thức để đạt được giải thoát.Trong khi đó, Phật giáo lại cho rằng: Người thực tập muốn đạt được Giải Thoát phải là người có khả năng nhận ra được các pháp như “Nó Đang Thật Là” Điều này, đã được đức Phật dậy

Trang 10

như sau: Ai thấy được lý Duyên Khởi thì người ấy thấy được Pháp Ai thấy được Pháp thì người ấy thấy Phật.Bởi vậy, trong Phật giáo, các pháp môn, dù là lễ bái, niệm Phật, hay tọa thiền, v.v., tất cả đều lấy việc, nâng cao sự nhận thức của tâm thức lên đến tột đỉnh của sự giác ngộ Nói khác hơn, tất cả chỉ để hoàn thiện tính năng tự hoạt của tâm, mà một trong các đại diện của cái tâm đó là Ý thức.Đó chính

là những nét căn bản về Con Đường Giải Thoát của Ấn Độ giáo và Phật giáo.Dĩ nhiên, ngoài Ân Độ giáo và Phật giáo, thì các tôn giáo khác cũng có những quan điểm về Nghiệp, Luân Hồi, và con đường giải thoát để truyền giảng giáo pháp của mình.Nếu chúng ta đều đi tìm hiểu từng tôn giáo một thì sẽ tốn rất nhiều thời gian,

và cũng khiến đề tài sẽ trở nên rộng hơn, dễ khiến cho chúng ta choáng ngợp.Chính

vì vậy, chúng ta chỉ nên chú trọng đến Ấn Độ giáo và Phật giáo, vì cả hai tôn giáo này có những sự liên hệ đặc biệt như sau: Vì giáo lý của đạo Phật có sau giáo lý của

Ấn Độ giáo, nên trong hàng đệ tử của đức Phật, cũng có khá nhiều các bậc tôn giả,

đã từng thực hành, hay ít nhiều đã thấm nhuần những tư tưởng của kinh Áo Nghĩa Thư hay Vệ Đà; mà ngay cả đức Phật, khi còn là thái tử, cũng đã thực tập qua những

bộ kinh này.Vì vậy, khi giảng dậy cho những vị tôn giả, đức Phật đã dùng khá nhiều những tư tưởng của kinh Vệ Đà hay Áo Nghĩa Thư để giúp cho những tôn giả, đã có những kinh nghiệm về các kinh này, có thể dễ lĩnh hội được những quan điểm khác biệt giữa hai tôn giáo Trong thời đức Phật còn tại thế thì Ấn Độ giáo đang sinh hoạt rất mạnh tại Ấn Độ.Trong kinh điển của đạo Phật, cũng đã nhắc đến những bậc thức giả Bà La Môn đã từng ghé qua những tu viện nơi đức Phật cư trú để chất vấn và tranh luận.Cho nên, trong những nét căn bản giữa Phật giáo và Ấn Độ giáo đã có rất nhiều tư tưởng về giáo lý gần như giống nhau, nhưng mục đích thì lại hoàn toàn khác nhau

2.3 Mối quan hệ giữa Phật giáo và Bà-la-môn giáo

Cùng bắt nguồn trên mảnh đất của triết lý, lẽ tất nhiên Phật giáo và Bà-la-môn giáo không thể nào không có những mối quan hệ sâu đậm được Nhưng, đó là quan hệ gì? Từ xưa đã có rất nhiều ý kiến, nhận xét được đưa ra để biện giải cho vấn đề này Trong đó, với mục đích phân biệt rõ hơn về hai trào lưu tư tưởng mà đã có ý kiến cho rằng Phật giáo là một trào lưu độc lập và đã phủ nhận sự minh triết của Bà-la-môn giáo tồn tại trong Phật giáo Ngược lại, cũng có người khi nhìn thấy những điểm chung nhất giữa hai giáo phái đã vội cho rằng Phật giáo là sự tổng hợp đỉnh cao của Bà-la-môn giáo Nói khác hơn, một bên nỗ lực tách riêng còn một bên cố gắng đưa đến sự hợp nhất mà trong đó cả Phật giáo và Bà-la-môn giáo chỉ là hai mặt của tư tưởng Ấn Tuy nhiên phủ nhận hay khẳng định sự chính xác của một hoặc hai

xu hướng trên không phải là vấn đề ở đây Vì sao? Vì nếu là phủ nhận hoặc khẳng định thì điếu đó đã cho thấy rằng nó ít nhiều không khỏi có sự hiện hữu của sự phiến diện Nó có thể xuất phát từ những tự ái cá nhân hoặc tự ái tôn giáo để rồi đưa đến sự thiếu khách quan trong nhận định Cho nên, ở đây, mối quan hệ tác động sẽ

Ngày đăng: 26/07/2022, 09:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Các tôn giáo, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2001, tr. 85 – 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tôn giáo
Nhà XB: Nxb. Thế giới
Năm: 2001
2.Triết học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tập 1, tr. 21 – 722 Khác
3.Hữu Ngọc, Lê Hữu Tầng, Dương Phú Hiệp: Từ điển triết học giản yếu, Nxb. Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, 1987 Khác
4.M. T. Stepaniannts: Triết học phương Đông, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003 Khác
5.Nguyễn Đăng Thục: Lịch sử triết học phương Đông, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 2001.Tài liệu internet Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w