1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TRIẾT học HY lạp cổ đại và TRIẾT học cổ điển đức đã để lại NHỮNG dấu ấn VÀNG SON TRONG LỊCH sử TRIẾT học PHƯƠNG tây SO SÁNH NHỮNG đặc điểm CHÍNH của HAI nền TRIẾT học này (2)

16 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết học cổ điển Đức đã để lại những dấu ấn vàng son trong lịch sử triết học phương Tây. So sánh những đặc điểm chính của hai nền triết học này
Tác giả Lê Văn Can
Người hướng dẫn NS.TS.TN. Hương Nhũ
Trường học Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học Tây phương
Thể loại bài tiểu luận
Năm xuất bản 2020
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 80,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Triết học phi cổ điển và triết học hiện đại thế kỷ 20 Triết học Hy Lạp cổ đại được coi là đỉnh cao của nền văn minh cổ đại và là một trong những điểm xuất phát của lịch sử triết học thế

Trang 1

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH

-LÊ VĂN CAN

TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC

ĐÃ ĐỂ LẠI NHỮNG DẤU ẤN VÀNG SON TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY SO SÁNH NHỮNG ĐẶC ĐIỂM

CHÍNH CỦA HAI NỀN TRIẾT HỌC NÀY

Tiểu luận học kỳ III : Môn Dẫn Nhập Triết Học Phương Tây

Người hướng dẫn khoa học: NS.TS.TN Hương Nhũ

TP.Hồ Chí Minh ,Năm 2020.

Trang 2

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP HỒ CHÍ MINH

-TÊN TÁC GIẢ: LÊ VĂN CAN PHÁP DANH: TRÍ CƯỜNG LỚP ĐTTX: KHÓA VI MSSV: TX 6031

BÀI TIỂU LUẬN

TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC

ĐÃ ĐỂ LẠI NHỮNG DẤU ẤN VÀNG SON TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY SO SÁNH NHỮNG ĐẶC ĐIỂM

CHÍNH CỦA HAI NỀN TRIẾT HỌC NÀY

Tiểu luận học kỳ III : Môn Dẫn Nhập Triết Học Phương Tây

Người hướng dẫn khoa học: NS.TS.TN Hương Nhũ

TP.Hồ Chí Minh , Năm 2020.

Trang 3

Tôi xin trân thành tri ân những cá nhân, tập thể và những ai liên quan đã hướng dẫn giúp đỡ, cộng tác trong quá trình thực hiện đề tài

(Tác giả tiểu luận ký tên)

Lê Văn Can NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG XÉT DUYỆT .………

TP.HCM, ngày …… tháng …… năm 2020 NS.TS.TN Hương Nhũ

Trang 4

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Phạm vi đề tài 1

3 Cơ sở dữ liiệu 1

4 Phương pháp nghiên cứu 1

5 Bố cục tiểu luận 1

B NỘI DUNG……… 1

Chương 1 : Tổng quan về triết học ……… 2

1.1 Triết học và đối tượng của triết học ………2

1.1.1.Khái niệm triết học 2

1.1.2.Đối tượng của triết học……… 2

1.1.3.Vấn đề cơ bản của triết học……… 2

Chương 2: Triết học Hy Lạp cổ đại và những dấu ấn vàng son 3

2.1 Hoàn cảnh ra đời……… 3

2.2 Phân tích những hía trị tích cực cũa triết học Hy Lạp cổ đại……… 4

2.2.1.Trường phái triết học Milê ……… 4

2.2.2 Talet……… 4

2.2.3 Anaximăngđơ……… 4

2.2.4.Anaxmem 4

2.2.5.Hêractclit 5

2.2.6.Thuyết nguyên tử của Lơxíp,Đêmôcrít,Epiquya 5

2.2.7.Arixtốt 5

2.2.8.Socrates 6

Chương 3: Triết học cổ điển Đức và những dấu ấn vàng son ……… 6

3.1.Hoàn cảnh lịch sử ra đời 6

3.2.Phân tích những giá trị tích cực 7

3.2.1.Triết học Kant 7

3.2.2.Triết học Hegel 7

3.2.3.Triết học Feuerbach 7

Chương 4:Đặc điểm của triết học Hy lạp cổ đại&triết học cổ điển Đức 7

4.1.Những triết học Hy lạp cổ đại 7

4.2 Những triết học cổ điển Đức 8

C KẾT LUẬN 9

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 10

Trang 5

A.MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

tiến trình lịch sử của triết học phương Tây trải qua sáu giai đoạn:

1 Triết học Hy Lạp cổ đại (thế kỷ 6 TCN – thế kỷ 4SCN)

2 Triết học Kytô giáo- Thời Trung cổ ( thế kỷ 4 SCN – 14)

3 Triết học Thời Phục Hưng (thế kỷ 15 – 16)

4 Triết học thời đại Khai Sáng (thế kỷ 17 – 18)

5 Triết học Cổ điển Đức ( thế kỷ 18 – 19)

6 Triết học phi cổ điển và triết học hiện đại (thế kỷ 20

Triết học Hy Lạp cổ đại được coi là đỉnh cao của nền văn minh cổ đại và là một trong những điểm xuất phát của lịch sử triết học thế giới đến triết học cổ điển Đức tiếp thu những tinh hoa của siêu hình học thế kỷ XVII trong việc phát triển tư duy lý luận và hệ thống hoá toàn bộ tri thức con người, các nhà triết học đều có ý đồ xây dựng một hệ thống triết học vạn năng của mình làm nền tảng cho toàn bộ thế giới quan con người, khôi phục lại quan niệm coi triết học là khoa học của các

khoa học.Do vậy học viên chọ đề tài Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết học cổ điển Đức đã để lại những dấu ấn vàng son trong lịch sử tư tưởng phương Tây Hãy so sánh những đặc điểm chính của hai nền triết học này ,làm đề tài nghiên cứu.

2 Phạm vi đề tài:

Học viên chỉ đi xâu nghiên cứu về triết học Hy Lạp&triết học cổ điển Đức qua đó đưa ra những nhận định ,so sánh về hai trường phái triết học này

3 Cơ sở dữ liệu:

Học viên dựa vào bài giảng của giáo thọ trên lớp và tham khảo một số tài liệu liên quan làm tư liệu

4 Phương pháp nghiên cứu:

Học viên dùng phương pháp nghiên cứu,tổng hợp &phân tích từ đó đưa ra kết luận làm sáng tỏ đề tài nghiên của mình

5 Bố cục tiểu luận: gồm 04 chương, 07 mục và 11 tiểu mục

Trang 6

B NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ TRIẾT HỌC

1.1.Triết học và đối tượng của triết học:

1.1.1.Khái niệm triết học:

Tư tưởng triết học ra đời từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VII Tr CN tại Trung Quốc,Ấn độ và sau đó là

Hy Lạp cổ đại.Thuật ngữ triết học xuất phát từ tiếng Hy Lạp philosiphia (với sự kết hợp phileo)-yêu thích,và sohia –thông thái,có nghĩa là phileo)-yêu thích sự thông thái,khát vọng vươn đến sự thông thái Platon (427 – 347 tr.CN) và Aristoteles (384 – 322 tr CN là những người đã phân biệt triết

học với các lĩnh vực khác,xác định nhiệm vụ của triết học là nhận thức các chân lý vĩnh cửu và tuyệt đối hay vươn tới cái phổ quát trong thế giới Như vậy, dù ở phương Đông hay phương Tây, triết học thời cổ đại đều có nghĩa là sự hiểu biết, sự nhận thức chung của con người về thế giới Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về triết học, song có thể hiểu rằng :

+ Triết học là khoa học bao gồm hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về

vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó

+ Triết học là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội và chịu sự quy định của tồn tại

xã hội

+ Triết học là một yếu tố của kiến trúc thượng tầng, là sự phản ánh cơ sở hạ tầng, chịu sự quy định của cơ sở hạ tầng

1.1.2 Đối tượng nghiên cứu của triết học:

-Triết học Hy Lạp cổ đại được coi là khoa học của mọi khoa học với nghĩa triết học bao gồm mọi tri thức của con người về thế giới, đặc biệt là giới tự nhiên, do đó còn gọi là triết học tự nhiên Thời phong kiến ở tây Âu, do sự thống trị của thần học Cơ Đốc giáo trong lĩnh vực tinh thần, nên triết học chỉ là tôi tớ cho thần học và mang tính kinh viện

- Thời Phục hưng và Cận đại ở tây Âu, triết học không chỉ đề cập tới những vấn đề tự nhiên, mà còn đề cập tới những vấn đề con người và xã hội Tính nhân đạo tư sản thể hiện rõ trong các trường phái triết học ở Anh, Pháp, Hà Lan, Đức, Italia v.v

- Triết học cổ điển Đức đã đề cập tới mọi vấn đề của thế giới (tự nhiên, xã hội, tư duy) Hêghen là nhà triết học cuối cùng trong lịch sử triết học có tham vọng coi triết học là khoa học của mọi khoa học.Triết học có vai trò hết sức to lớn trong đời sống xã hội, nó cung cấp cho chúng ta hệ thống quan điểm, tư tưởng về thế giới quan; góp phần giải thích thế giới trong dạng một chỉnh thể gồm nhiều yếu tố tác động qua lại và chuyển hoá lẫn nhau tạo cho chúng ta có nhận thức chung nhất về thế giới Không những thế, triết học còn góp phần hình thành và phát triển nhân sinh quan của con người (quan điểm, tư tưởng về con người, cuộc sống và hành vi ứng xử của con người trong cuộc sống)

1.1.3 Vấn đề cơ bản của triết học:

Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt

Mặt thứ nhất trả lời câu hỏi: giữa tư duy với tồn tại, giữa ý thức với vật chất, giữa tinh thần với tự nhiên thì cái nào có trước cái nào có sau? và cái nào có vai trò quy định đối với cái nào?

Mặt thứ hai trả lời câu hỏi: con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?

Trong lịch sử triết học, có cách khác nhau, thậm chí đối lập nhau khi giải quyết vấn đề cơ bản của triết học Khi trả lời những câu hỏi thuộc mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản; những người cho rằng tồn tại, vật chất, giới tự nhiên có trước và có vai trò quyết định đối với tư duy, ý thức, tinh thần, hợp thành trường phái duy vật (chủ nghĩa duy vật); ngược lại, những người cho rằng tư duy, ý thức, tinh thần là cái có trước, có vai trò quyết định đối với tồn tại, vật chất, giới tự nhiê, hợp thành trường phái duy tâm (chủ nghĩa duy tâm)

Trang 7

CHƯƠNG 2: TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ NHỮNG DẤU ẤN VÀNG SON

2.1 Hoàn cảnh ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại :

-Từ thế kỉ XV đến IX tr.CN ,chế độ cộng sản nguyên thuỷ ở Hy Lạp cổ đại tan rã và hình thành chế độ chiếm hữu nô lệ Thời kì này đã xảy ra những biến động lớn về kinh tế và thiết chế xã hội Vào thế kỉ thứ V tr.CN ,đã xảy ra cuộc chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư , kết thúc bằng chiến thắng thuộc về Hy Lạp , chiến thắng này đã mở ra thời kì hưng thịnh về kinh tế và chính trị của Hy Lạp

cổ đại một liên minh gồm 300 quốc gia thành bang được thành lập trong đó có Athen và SPAC là 2 thành bang hùng mạnh nhất Thành bang Athen, nằm ở vùng đồng bằng Attien thuộc trung bộ Hy Lạp , có địa lý thuận lợi nên trở thành một trung tâm kinh tế , văn hoá là thiết chế của chủ nô dân chủ Athen.Thành bang Spác nằm ở vùng bình nguyên Iaconi , đất đai thích hợp đối với phát triển nông nghiệp là dinh luỹ của chủ nô quí tộc cha truyền con nối, để thực hiện cai trị theo truyền thống , Spác đã xây dựng 1 thiết chế nhà nước quân chủ , thực hiện sự áp bức rất tàn khốc đối với

nô lệ Do sự cạnh tranh quyền bá chủ toàn Hy Lạp , nên đã xảy ra cuộc chiến tranh tàn khốc Pôlôpône kéo dài hàng chục năm , và cuối cùng dẫn tới sự thất bại nặng nề của Athen Cuộc chiến tranh này đã làm đất nước Hy Lạp suy yếu cả về kinh tế và chinh trị quân sự

-Sau đó Hy Lạp bị nước Maxedoan xâm chiếm Đến thế kỉ II sau CN, Hy Lạp lại bị La mã xâm chiếm Quá trình lịch sử đó gắn liền với sự hình thành và phát triển kinh tế xã hội và tư tưởng triết học : triết học (philosophia theo tiếng hy lạp cổ là tình yêu sự thông thái đồng thời xuất hiện ở cả

Hy Lạp , Trung Quốc , Ấn Độ cổ đại vào khoảng thế kỉ 6 tr.CN, sự ra đời của triết học đánh dấu một bước phát triển của tư tưởng nhân loại , từ cảm nhận vũ trụ một cách trực quan đến thế giới quan dựa trên các tri thức mang tính khái quát , trừu tượng hoá của tư duy Triết học Hy Lạp cổ đại phát triển trên cơ sở kinh tế đó là quyền sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất và người nô lệ Vào thế kỉ IX -VII tr.CN, nền sản xuất chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp cực kì phát triển Đó là thời kì nhân loại chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt , với việc xuất hiện quan hệ tiền hàng đã làm cho thương mại và trao đổi hàng hoá được tăng cường Thời kì này người Hy Lạp đã có thể đóng những thuyền lớn cho phép họ vượt biển Địa Trung Hải tìm đến những miền đất mới , nhờ đó lãnh thổ của Hy Lạp và thuộc địa của nó được mở rộng , tạo điều kiện cho sự giao lưu văn hoá giữa các dân tộc Sự phát triển của sản xuất đã dẫn đến các quan hệ và tổ chức xã hội cũ bị đảo lộn -Nếu như trước đây các tổ chức xã hội cũ như bộ tộc , bộ lạc mang tính cộng đồng cao , cuộc sống mỗi cá nhân hầu như hoàn toàn hoà tan vào cuộc sống cộng đồng , thì giờ đây xuất hiện các tư tưởng tư hữu và sau đó là chế độ tư hữu về của cải , điều đó buộc mỗi người cần ý thức và suy nghĩ hơn về bản thân mình , cần có một lập trường sống riêng phù hợp với hoàn cảnh mới , nhu cầu đó đòi hỏi sự ra đời của triết học

2.2.Phân tích những giá trị tích cực của triết học duy vật Hy Lạp cổ đại :

Triết học Hy Lạp cổ đại là một thời kỳ phát triển rực rỡ của triết học nhân loại với nhiều thành công rực rỡ Tuy nhiên, bên cạnh những thành công rực rỡ triết học Hy Lạp cổ đại vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế Sau đây, chúng ta chỉ đánh giá các mặt tích cực của triết học Hy Lạp cổ đại qua một số nhà triết gia nổi tiếng

2.2.1 : Triết học tự nhiên của trường phái Milê :

Trường phái triết học Milet là trường phái của các nhà triết học đầu tiên xứ Lonie, một vùng đất nổi tiếng của Hy Lạp Nằm chạy dài trên miền duyên hải Tiểu Á, nằm giữ huyết mạch giao thông,

là cửa mở đi về phương Đông, và là trung tâm kinh tế, văn hóa của thời kỳ chiếm hữu nô lệ Nơi đây được xem là quê hương của nhiều trường phái triết học của triết gia nổi tiếng

Trường phái này do ba nhà triết học lập nên như: Thales, Anaxi-mène và Anaximandes Đóng góp quan trọng nhất của trường phái này là đã đặc nền móng do sự hình thành các khái niệm triết học

để các triết gia sau này tiếp tục bổ xung và làm phong phú thêm những khái niệm đó như khái niệm chất, không gian, sự đấu tranh của các mặt đối lập v.v… Một điều đáng quý nữa là các triết gia đã xuất phát từ thế giới để giải thích thế giới, khẳng định thế giới xuất phát từ một thời nguyên vật chất duy nhất

Trang 8

4 2.2.2 : Talet ( 624 – 547 tr.CN):

-Các quan điểm của Talet : Trong toán học, bằng việc phát minh nhiều định lý cơ bản của hình học, số học, nghĩa là bằng việc sử dụng những công thức trừu tượng, Talét đã đặt cơ sở cho sự ra đời toán học lý thuyết Theo Talet vật chất (nước ) tồn tại vĩnh viễn , còn mọi vật do nó sinh ra đều biến đổi không ngừng , sinh ra và chết đi , toàn bộ thế giới là một chỉnh thể thống nhất mà nền tảng

là nước

-Giá trị tích cực trong triết học của Talet : Quan niệm triết học của ông giới thiệu thế giới tuy còn thô mạc, nhưng đã có ý nghĩa vô thần, chống lại thế giới quan tôn giáo đương thời và chứa đựng những yếu tố biện chứng tự phát

2.2.3 : Anaximăngđơ (khoảng 610 - 546 TCN):

-Các quan điểm của Anaximăngđơ : Bản nguyên bây giờ không còn là nước, mà là cái có ý nghĩa phổ quát hơn Theo Anaximăngđơ, để truy tìm bản nguyên sâu xa nhất, nguyên nhân của các nguyên nhân, thì không thể dừng lại ở những hành chất cụ thể được Theo Anaximăngđơ, sự sống hình thành trước tiên ở đại dương, sau đó tiến dần lên cạn Con người có thể chất yếu đuối nên sinh

ra và phát triển trong bụng một loài cá khổng lồ Chỉ khi trưởng thành loài người mới lên đất liền

và sống độc lập

-Giá trị tích cực trong triết học Anaximăngđơ : Đó là quan niệm ngây thơ về nguồn gốc sự sống, song trong cái vẻ nghèo nàn, trừu tượng này đã thể hiện những đột phá táo bạo về thế giới quan,: lần đầu tiên trong triết học cổ đại Hy Lạp Anaximăngđơ đã cố gắng giải thích thế giới từ nguyên nhân tự thân, gạt bỏ yếu tố vật linh thuyết, vật hoạt luận, đưa ra tư tưởng biện chứng tự phát về tính phổ biến của vận động, biến đổi, sự thống nhất các mặt đối lập, về quá trình thành sự sống từ thế giới vô cơ, con người từ loài vật

2.2.4 : Anaximen (588 - 525 tr.CN):

-Các quan điểm của Anaximen : nhân vật thứ ba của trường phái Milet, tìm cách dung hòa hai bậc tiền bối, nhưng bác bỏ sự lựa chọn của họ Bản nguyên thế giới phải là cái xác định, chứ không phải vô định, bởi lẽ tòa lâu đài vũ trụ không thể tự nhiên mà sinh thành với toàn bộ diện mạo của

nó Tuy nhiên với tính cách là cơ sở của mọi sự sinh thành, phát triển, diệt vong, của mọi trạng thái

sự vật, bản nguyên phải là cái năng động và biến hóa, cái ta không thấy, mà cảm nhận sự hiện hữu khắp nơi của nó, đóng vai trò hàng đầu của sự sống, như nước, mà biến hóa hơn nước

-Những giá trị tích cực và hạn chế của triết học Anaximet : cũng như hai nhà triết học trên, những quan điểm của ông vẫn mang nặng tính ngây thơ, chất phác, nhưng nó phần nào cũng có giá trị nhất định trong thời kì đó

2.2.5 : Hêraclít :

-Hêraclít không chỉ là nhà duy vật tự phát, mà còn là nhà triết học đã đặt cơ sở cho cách hiểu về thế giới như một quá trình, được diễn đạt bằng câu cách ngôn “mọi thứ đều tuôn chảy”theo quy luật, hay Lôgốt Lôgốt là khái niệm chủ đạo trong triết học Hêraclít, dùng để giải thích bản nguyên lẫn bản chất của thế giới Đó là một khái niệm đa nghĩa: Thần ngôn, tính quy luật, tính tất yếu, trật

tự, chuẩn mực

- Những giá trị tích cực trong triết học Hêraclít : triết học của ông là triết học duy vật, ông cho rằng thế giới là do vật chất sinh ra và dạng vật chất đầu tiên đó là lửa

Ông đã nêu rõ tính thống nhất của thế giới và sự vận động vĩnh viễn của vật chất Ông cho rằng nhận thức được bắt đầu từ cảm tính : mắt và tai, nhưng mắt là nhân chứng chính xác hơn tai Ông

đã đi tìm bản chất của tinh thần không phải là ở ngoài vật chất mà chính là ở trong thế giới vật chất; giá trị ấy có tính định hướng cho việc tìm bản chất đích thực của đời sống tinh thần

Hêraclít đã đưa triết học duy vật cổ đại tiến lên một bước mới với những quan điểm duy vật và những yếu tố biện chứng Học thuyết của ông sau này đã được các nhà triết học cận đại hiện đại kế thừa Mỗi nhà triết học từ lập trường triết học của mình đã tiếp cận và đánh giá khác nhau về triết học Hêraclit Ông là đại biểu xuất xắc của phép biện chứng duy vật Hy Lạp cổ đại

2.2.6 : Thuyết nguyên tử của Lơxíp, Đêmôcrít, Epiquya:

-Nguyên tử luận là chương mới trong triết học tự nhiên của Hy Lạp cổ đại, do Lơxíp (Leucippos,

Trang 9

500 - 440 TCN) sáng lập, Đêmôcrít (Democritos, 460 - 370 TCN) phát triển, Vào thời kỳ Hy Lạp hóa Epiquya (Epicuros, 342/341 - 271/270 TCN) điều chỉnh và nhân bản hóa theo xu hướng thống nhất với duy cảm luận, chủ nghĩa vô thần và chủ nghĩa khoái lạc

-Những giá trị tích cực của triết học Lơxip : Ông là người đầu tiên nêu lên học thuyết nguyên tử,

đã đưa triết học Hy Lạp cổ đại lên một tầm cao mới Mà giá trị của học thuyết nguyên tử vẫn còn đến ngày nay

- Những giá trị tích cực trong triết học Đêmôcrít :

+ Với những thành tựu rực rỡ của mình, Đêmôcrít đã đưa chủ nghĩa duy vật lên một đỉnh cao mới Học thuyết nguyên tử của ông là một tiên đoán thiên tài mà cho đến nay nó vẫn giữ nguyên giá trị, các nhà khoa học hiện đại đã chứng minh một số quan điểm của ông là đúng.Ngoài ra quan điểm

về nguồn gốc vũ trụ cũng có một số giá trị nhất định

+ Quan điểm quyết định luận cũng là một quan điểm của ông có giá trị đã đóng góp cho nền triết học Hy Lạp cổ đại Quan điểm này đã chống lại quan điểm mục đích luận, thế giới quan duy tâm

và tôn giáo Về quan điểm nguồn gốc của con người cũng có giá trị nhất định Nó cũng chống lại chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo Ông đã đưa lý luận nhận thức duy vật lên một bước mới, khác với các nhà triết học trước, Đêmôcrit không phủ nhận vai trò của nhận thức cảm tính, tuyệt đối hóa vai trò của lý tính Đây cũng là một quan điểm đúng đắn mà sau này các nhà triết học Macxit cũng công nhận Ngoài ra, các quan điểm của ông còn có vai trò quan trọng trong chủ nghĩa vô thần, đó

là những quan điểm về nguồn gốc, phủ nhận sự tồn tại của thần linh

2.2.7.Arixtốt ( 384 – 332 tr.CN) :

Các quan điểm triết học của Arixtốt :

+ Bản thể luận - nhị nguyên vật chất - mô thức

+ Vật lý học và vũ trụ luận

+ Lý luận nhận thức - sự “sửa chữa” lại Platôn

+ Logic học

Những tích cực trong triết học Arixtốt :

-Giá trị của triết học Arixtot thể hiện ở quan điểm về thế giới tự nhiên: đó là học thuyết về sự tồn tại coi vật chất và hình dạng là cái tạo nên sự vật,quan điểm biện chứng thừa nhận là toàn bộ sự vật

có một bản thể vật chất mãi mãi vận động và biến đổi thông qua vận động mà thế giới tự nhiên được biểu hiện ra, vận động không tách rời tự nhiên

-Theo ông, nhận thức cái chung trong cái đơn lẻ là thực chất của nhận thức cảm tính Lý luận nhận thức của ông cũng là một thành tựu đóng góp chonền triết học nhân loại Trong lý luận nhận thức của ông chứa đựng những yếu tố duy vật đó là cảm giác luận và kinh nghiệm luận, đây là những quan điểm có giá trị Ngoài ra nhiều quan điểm khác của ông cũng đã đóng góp vào nền tri thức nhân loại những giá trị nhất định: học thuyết về linh hồn, vật lý học và vũ trụ học

2.2.8.Socrates (470 – 399 TCN)

- Socrates (Xô-crát ) là một triết gia người Hy Lạp cổ đại (Người Athens), ông được coi là một trong những người đã sáng tạo ra nền triết học phương Tây, và là nhà triết gia đạo đức đầu tiên của nền tư tưởng đạo đức phương Tây.Ông là một nhân vật rất bí ẩn, không hề viết ra bất cứ điều gì, chỉ được biết đến chủ yếu thông qua các tác phẩm do những tác giả cổ đại cùng thời kể lại, trong

đó nổi bật nhất chính là hai môn sinh Plato và Xenophon

-Một số tác phẩm khác viết về ông đến từ những tác giả đương thời như Antisthenes, Aristippus và Aeschines xứ Sphettos Aristophanes, một nhà viết kịch, chính là tác gia đương thời chủ yếu đã tạo

ra những vở kịch có nhắc đến Sokrates trong suốt cuộc đời của nhà triết học này còn tồn tại đến ngày nay, ngoài ra, một đoạn trong cuốn "Sổ tay Du ký" của Ion xứ Chios cũng cung cấp những thông tin rất quan trọng về thời trẻ của Sokrates

-Sokrates có một sức ảnh hưởng vô cùng mạnh mẽ đối với những triết gia sau thời kỳ cổ đại và kỷ nguyên hiện đại Những tác phẩm văn học, nghệ thuật và văn hóa đại chúng miêu tả về Sokrates đã khiến ông trở thành một trong những hình tượng được biết đến rộng rãi nhất trong nền tư tưởng triết học phương Tây

Trang 10

6 Ông là người đầu tiên đề cập đến vấn đề con người, đưa triết học đi sâu vào đời sống của từng con người

- Quan điểm của về nhận thức, triết học, đạo đức là một

- Các câu nói nổi tiếng của Socrates:Ông có hai câu nói rất nổi tiếng là “Tôi biết một điều là tôi không biết gì hết” và “Hãy tự biết chính mình”

KẾT LUẬN

Những giá trị triết học Hy Lạp cổ đại :

- Giá trị của triết học duy vật thời kì này là ở khuynh hướng duy vật trong việc giải thích bản chất thế giới, với đỉnh cao nhất là học thuyết nguyên tử của Đêmôcrit

- Giá trị của triết học duy vật thời kì này còn được thể hiện ở những tư tưởng biện chứng : như ở học thuyết Hêraclit, Đêmôcrit, Arixtot Các quan điểm biện chứng này đã được các nhà triết học sau này kế thừa và phát triển Nhận thức luận cũng là một giá trị của các nhà triết học duy vật,

mà đỉnh cao là nhận thức của Đêmôcrít, Arixtot

- Triết học thời kì này có thể tóm gọn theo 3 chủ đề chính : một là tìm hiểu về tự nhiên, hai là

về nhận thức, và cuối cùng là về con người

- Đặc điểm triết học thời kì này thể hiện ở tính chất bao trùm về mặt lý luận của triết học đối với tất cả lĩnh vực của nhận thức Vì ra đời trong bối cảnh trình độ nhận thức của con người còn tương đối thấp, tri thức về mọi mặt chưa phát triển bao nhiêu, nên triết học đóng vai trò là dạng nhận thức lý luận hầu như duy nhất, hy vọng lý giải những vấn đề lý luận của các khoa học cụ thể

- Tính đa dạng, muôn vẻ, sự phân cực quyết liệt giữa các trường phái làm nên đặc trưng phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại, xác lập “đường lối Democritos” và “đường lối Platon” trong lịch

sử triết học phương Tây Tính chất này chịu sự chi phối bởi điều kiện địa lý đặc biệt của các thị quốc, sự thay thế nhau các trung tâm kinh tế, văn hóa, quá trình giao lưu với văn hóa phương Đông, phong cách phóng khoáng, yêu chuộng tự do kết hợp với sự khôn ngoan và tinh tế của người Hy Lạp, La Mã…Trong bức tranh muôn vẻ của triết học Hy Lạp cổ đại đã chứa đựng hầu như tất cả những hình thái và phương thức tư duy căn bản nhất, được tiếp tục hoàn thiện, cải biến

và phát triển sau này

- “Con người - thước đo của vạn vật”; lời tuyên bố này của Protagoras chứng tỏ rằng dù chủ trương hướng ra vũ trụ, giải thích và khao khát chinh phục nó, người Hy Lạp vẫn dành nhiều tâm huyết tìm hiểu những vấn đề nhân sinh, xã hội Quá trình nhân bản hóa chủ đề nghiên cứu đã để lại những tư tưởng nhân văn, khai sáng sâu sắc

Ngày đăng: 26/07/2022, 09:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w