1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Tiểu luận mô hình nhà nước phúc lợi đông á ở nhật bản và bài học cho quá trình xây dựng hệ thống phúc lợi xã hội ở việt nam

17 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 1,98 MB
File đính kèm 20.rar (423 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kể từ khi khởi sự công cuộc đổi mới vào năm 1986 để thoát ra khỏi mô hình quản lý theo phương thức kế hoạch hóa tập trung và quan liêu bao cấp, chuyển sang mô hình quản lý dựa trên nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều thể chế kinh tế và xã hội đã thay hình đổi dạng một cách khá ngoạn mục. Trong khuôn khổ của những giải pháp cải tổ sâu rộng ấy, diện mạo của hệ thống phúc lợi xã hội nói chung cũng như hệ thống an sinh xã hội nói riêng cũng thay đổi gần như toàn diện : hệ thống phúc lợi xã hội và an sinh xã hội của thời quan liêu bao cấp đã bị giải thể để nhường bước cho sự hình thành của một hệ thống mới.

Trang 1

Accelerating the world's research.

MÔ HÌNH NHÀ NƯỚC PHÚC LỢI

ĐÔNG Á Ở NHẬT BẢN VÀ BÀI HỌC CHO QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG HỆ

THỐNG PHÚC LỢI Ở VIỆT

NAM-BTL

C.U Vinsen

Trang 2

ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA KINH T Ế CHÍNH TRỊ

MÔ HÌNH NHÀ NƯỚC PHÚC LỢI ĐÔNG Á Ở

H ỌC PHẦN: MÔ HÌNH NHÀ PHÚC LỢI

SINH VIÊN: TR ẦN TOÀN MINH

MÃ SINH VIÊN:19050178

L ỚP:QH-2019-KINH TẾ CLC 2

GI ẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS.TS PHẠM THỊ HỒNG ĐIỆP

HÀ N ỘI, 2021

Trang 3

2

M ỤC LỤC

DANH M ỤC TỪ VIẾT TẮT 3

DANH M ỤC HÌNH VẼ 3

M Ở ĐẦU 4

1 Lý do , tầm quan trọng của vấn đề cần nghiên cứu 4

2 Mục tiêu nghiên cứu 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 5

N ỘI DUNG 6

Ph ần 1 : Đặc điểm nhà nước phúc lợi Đông Á 6

Ph ần 2 : Mô hình nhà nước phúc lợi Đông Á tại Nhật Bản 9

2.1 Đặc điểm độc đáo trong mô hình nhà nước phúc lợi Nhật Bản 9

2.2 Đặc điểm các lĩnh vực phúc lợi xã hội trong quốc gia Nhật Bản 9

2,2,1 Chế độ phúc lợi trong chăm sóc sức khỏe 9

2.2.2 Chế độ phúc lợi đối với bà mẹ và trẻ em 10

2.2.3 Chế độ phúc lợi đối với người già 11

2.2.4 Chế độ phúc lợi đối với người tàn lật 11

2.2.5 Chế độ phúc lợi đối với người có thu nhập thấp 11

Ph ần 3 : Liên hệ với Việt Nam 12

3.1 Vai trò quan trọng của hệ thống phúc lợi đối với Việt Nam 12

3.2 Điều kiện cần thiết để vận dụng mô hình nhà nước phúc lợi Đông Á 13

3.3 Bài học rút ra cho Việt Nam 13

K ẾT LUẬN 15

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 16

Trang 4

3

DANH M ỤC TỪ VIẾT TẮT

STT Ký hi ệu chữ viết tắt Ch ữ viết đầy đủ

: T ổng sản phẩm quốc

n ội

Economic Cooperation and Development:

T ổ chức Hợp tác và Phát

triển Kinh tế

DANH M ỤC HÌNH VẼ

Hình 1: Bình quân chi tiêu chính ph ủ về an sinh xã hội , y tế và giáo dục giai đoạn

1970 -2000 ở các nước Đông Á so với các nước khác thuộc nhóm OECD ,Tây Âu và

M ỹ Latin 7

Trang 5

4

M Ở ĐẦU

1 Lý do , t ầm quan trọng của vấn đề cần nghiên cứu

Kể từ khi khởi sự công cuộc đổi mới vào năm 1986 để thoát ra khỏi mô hình quản lý theo phương thức kế hoạch hóa tập trung và quan liêu bao cấp, chuyển sang

mô hình quản lý dựa trên nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều thể chế kinh tế và xã hội đã thay hình đổi dạng một cách khá ngoạn mục Trong khuôn khổ của những giải pháp cải tổ sâu rộng ấy, diện mạo của hệ thống phúc lợi xã hội nói chung cũng như hệ thống an sinh xã hội nói riêng cũng thay đổi gần như toàn

diện : hệ thống phúc lợi xã hội và an sinh xã hội của thời quan liêu bao cấp đã bị giải thể để nhường bước cho sự hình thành của một hệ thống mới

Tuy nhiên, cho đến nay, các định chế của một hệ thống an sinh xã hội mới vẫn chưa được xác lập một cách vững chắc, ổn định, và người ta dễ dàng nhận ra rằng vẫn còn đang chất chứa nhiều tình trạng mâu thuẫn và bất ổn ở nhiều mặt Bài chuyên đề này sẽ đi vào tìm hiểu một số đặc trưng chính của hệ thống an sinh xã hội theo mô hình nhà nước phúc

lợi Đông Á và điển hình là một nước có nền văn hoá phương Đông , Nhật Bản Việt Nam cũng là một nước thuộc nền văn hoá phương Đông , do vậy có thể rút ra được nhiều những nguyên tắc và bài học kinh nghiệm từ mô hình từ Nhật Bản trong việc xây dựng an sinh xã hội vào bối cảnh cụ thể của Việt Nam đương đại

2 M ục tiêu nghiên cứu

Trong bài nghiên cứu này , mục tiêu của bài viết là giải quyết những vấn đề sau :

- Mục tiêu thứ nhất : Phân tích ý nghĩa phúc lợi xã hội , so sánh sự giống và khác nhau giữa phúc lợi xã hội và an sinh xã hội

- Mục tiêu thứ hai : Nêu ra phân tích về đặc điểm cơ bản của các mô hình phúc lợi các nước Đông Á từ đó nêu ra đặc điểm chính của mô hình , đặc biệt phân tích sâu

sự hình thành và phát triển qua các giai đoạn , đặc điểm nổi bật riêng biệt ,các lĩnh vực phúc lợi toàn xã hội của nhà nước phúc lợi Nhật Bản

- Mục tiêu thứ ba : Đưa ra các gợi ý cho quá trình xây dựng hệ thống phúc lợi ở Việt Nam

Trang 6

5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào các hình thức tổ chức phúc lợi ở nước Nhật Bản , một nước thuộc mô hình phúc lợi Đông Á , bài viết này tập trung phân tích rõ các đặc điểm thể chế phúc lợi cơ bản của quốc gia này và có sử dụng mô hình một số quốc gia lân cận hoặc có sự tương đồng để đối chiếu và so sánh Bài viết này cũng tổng hợp các quan điểm của các học giả nghiên cứu về thể chế nhà nước của quốc gia này Tuy nhiên , với giới hạn thời gian của bài nghiên cứu , việc tổng hợp hết tất cả các nghiên cứu và quan điểm trước đây là vô cùng khó khăn Do đó , trong khuôn khổ nghiên cứu hiện tại chỉ bao gồm các nhóm quan điểm chính và có thể không đầy đủ về hình thức tổ chức nhà nước này

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là thu thập sô liệu qua tài liệu có sẵn , xử lý số liệu thứ cấp Thêm vào đó , phương pháp thu thập các quan điểm trong tài liệu nghiên cứu trước đây cũng được sử dụng để làm nền tảng phân tích các đặc trưng của loại hình nhà nước phúc lợi Nhật Bản và chủ thể là mô hình Đông Á Bài viết có sử dụng một số phân tích và trích dẫn từ các tài liệu nghiên cứu từ các học giả trên thế giới Tuy nhiên cách phân tích tìm hiểu có nhược điểm là tính tổng quát không cao , vẫn có dấu ấn về quan điểm cá nhân của các chuyên gia và cách đánh giá đôi khi có cái nhìn thiên kiến theo quan điểm chủ quan của tác giả Với sự kết hợp của các số liệu và hệ thống các quan điểm đánh giá , mong rằng bài nghiên cứu sẽ bớt đi được tính máy móc của số liệu và giảm được thiên kiến nếu chỉ nhìn vào ý kiến của các học giả đi trước

Trang 7

6

N ỘI DUNG

Ph ần 1 : Đặc điểm nhà nước phúc lợi Đông Á

Thứ nhất , nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển thể chế phúc lợi

xã hội dựa trên chủ thuyết coi phúc lợi phụ thuộc vào hiệu quả kinh tế Sự thành công trong việc nhanh chóng phát triển kinh tế ở một số nước Đông Á như Nhật Bản , Hàn Quốc

có nguyên nhân cơ bản từ sự điều hành tiến trình công nghiệp hoá của “ nhà nước phát triển Tuy nhiên , không chỉ chính sách kinh tế mà còn cả chính sách xã hội được thể chế hoá đã đóng góp một phần vào chiến lược tổng thể phát triển kinh tế Các nước Đông Á

đã bắt đầu áp dụng những chương trình an sinh xã hội đầu tiên ngay ở trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp hơn so với các nước châu Âu Các chương trình an sinh xã hội được

sử dụng như những công cụ chính sách để phát triển kinh tế Goodman và White nhấn mạnh đặc điểm của các nhà nước phúc lợi Đông Á bao gồm : dựa trên một chủ thuyết phát triển coi phúc lợi phụ thuộc vào hiệu quả kinh tế ; không khuyến khích dựa vào nhà nước

mà chủ trương đẩy mạnh nguồn phúc lợi từ khu vực tư nhân ; và chuyển hướng các nguồn lực tài chính của bào hiểm xã hội vào đầu tư cho kết cấu hạ tầng( Segura – Ubiergo,2007 ) Sự ưu tiên cho phát triển kinh tế này dẫn đến nhà nước phúc lợi chủ yếu ban hành các chương trình bảo hiểm xã hội cho công nhân công nghiệp – lực lượng lao động chính có năng suất lao động cao của xã hội , trong đó người lao động buộc phải đóng góp trước khi được hưởng các phúc lợi xã hội Để tránh nhu cầu hưởng thụ phổ cập , nhà nước không cung cấp tài chính cho các chương trình phúc lợi mà chỉ để rà quy định , cả chính thức và không chính thức , để điều tiết việc đóng góp và chi trả quyền lợi xã hội cho các công ty

và người lao động Các chương trình bảo hiểm xã hội được điều hành bởi những đại lý gần như là của nhà nước , hoạt động như những cánh tay nối dài của nhà nước

Hai là , nhà nước chi tiêu ngân sách hạn chế cho phúc lợi xã hội Chi tiêu ngân sách cho phúc lợi ở các nước Đông Á rất khiêm tốn so với các khu vực khác trên thế giới Nhiều nghiên cứu đã dẫn ra số hiệu cho thấy tổng chi tiêu của chính phủ cho các vấn đề xã hội ở các nước Đông Á thấp hơn nhiều so với các khu vực như OECD , Tây Âu , của nhà nước Mỹ Latin ( Kim , 2013 ) Nếu chỉ dùng con số chi tiêu chính phủ cho các vấn đề xã hội

Trang 8

7

để đánh giá sự phát triển của nhà nước phúc lợi thì các nước Đông Á sẽ nằm trong số những nhà nước phúc lợi kém phát triển nhất

Hình 1: Bình quân chi tiêu chính phủ về an sinh xã hội , y tế và giáo dục giai đoạn 1970 -2000 ở các nước Đông Á so với các

nước khác thuộc nhóm OECD ,Tây Âu và Mỹ Latin

Hình 1.1 cho thấy tổng chi tiêu của các nước Đông Á cho các vấn đề xã hội thấp hơn nhiều so với các nước khác thuộc nhóm OECD , Tây Âu , hay thậm chí là các nước khu vực Mỹ Latin Trong khi chi tiêu trung bình cho phúc lợi xã hội từ 8,7 % đến 18,9 % GDP và từ 37,6 % đến 52,6 % tổng chi tiêu ngân sách ở các khu vực khác thì các nước Đông Á chỉ chi tương ứng là 6,2 % và 29,6 % Có thể nói , các nước Đông Á thuộc nhóm nước chi tiêu ít nhất cho phúc lợi xã hội Ngay cả Nhật Bản , một nước chi tiêu ngân sách cao nhất cho phúc lợi xã hội trong nhóm nước Đông Á ( khoảng 23 % ngân sách ) , con số này vẫn là thấp hơn so với các tiêu chuẩn chi tiêu của Tây Âu và Bắc Mỹ ( Jones , 1993 ) Nhưng điều đáng chú ý không chỉ là mức chi tiêu thấp của chính phủ cho phúc lợi

xã hội mà còn là cách thức chi tiêu So với các nước phát triển khác , nơi mà phúc lợi xã hội là khu vực chiếm tỷ trọng nhiều nhất của chi tiêu công , thì các nước châu Á chi tiêu nhiều hơn vào việc tạo dựng vốn con người trên các lĩnh vực như y tế , giáo dục , hay nói cách khác là tập trung vào chức năng “ hiệu suất ” của chính sách xã hội Ở Đông Á , phát triển kinh tế và tạo dựng vốn con người là những chính sách chiếm vị trí trung tâm , trong khi lợi ích về phúc lợi chỉ được duy trì ở mức hạn chế Bảng …… cho thấy các nước Đông Á chi nhiều hơn cho các chương trình phát triển kinh tế , giáo dục so với chi cho y

tế hay an sinh xã hội

Một số học giả nhấn mạnh ảnh hưởng của yếu tố văn hoá , đặc biệt là những giá trị của Nho giáo trong xã hội phương Đông Điều này có liên quan đến đặc điểm thứ ba của

mô hình nhà nước phúc lợi phát triển , đó là vai trò của gia đình theo kiểu truyền thống

Trang 9

8

châu Á với chức năng tự chăm lo cho các thành viên của mình trong suốt quá trình phát triển

Ba là , gia đình truyền thống có vai trò quan trọng trong tương quan với nhà nước

và thị trường về cung ứng phúc lợi Ảnh hưởng của Nho giáo là yếu tố chính phân biệt các nhà nước phúc lợi Đông Á với các nhà nước phúc lợi phương Tây Chữ “ Nhân ” trong Nho giáo nhấn mạnh vai trò của gia đình và mạng lưới phi chính thức trong việc cung cấp

và chuyển giao phúc lợi Dựa vào bản thân ( tự lập ) , có trách nhiệm lẫn nhau , sẵn sàng

hỗ trợ gia đình và cộng đồng là những giá trị cốt lõi của Nho giáo Mức chi tiêu thấp của nhà nước cho các vấn đề xã hội ở Đông Á chịu ảnh hưởng của cấu trúc gia đình truyền thống Theo đó , mô hình nhà nước phúc lợi phương Tây không vận dụng được ở Đông Á

vì các nước châu Á theo truyền thống Nho giáo thường nhấn mạnh trách nhiệm của gia đình trong việc chăm sóc và bảo vệ các thành viên của mình Vì vậy , nhà nước không phải chịu nhiều áp lực đối với việc cung cấp và duy trì phúc lợi phổ cập cho mỗi người dân Mặt khác , Nho giáo trong truyền thông cũng đề cao vai trò của giáo dục , điều này rất phù hợp với yêu cầu của các nước Đông Á trong thời kỳ công nghiệp hoá để tạo ra nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế

Trang 10

9

Ph ần 2 : Mô hình nhà nước phúc lợi Đông Á tại Nhật Bản

2.1 Đặc điểm trong mô hình nhà nước phúc lợi Nhật Bản

Nhà nước phúc lợi kiểu Nhật Bản được cho là độc đáo bởi vì mặc dù những chỉ phí

xã hội tương đối ít nhưng lại thành công trong việc duy trì tỉ lệ thất nghiệp và nghèo đối thấp Tỉ lệ thất nghiệp trong những năm đầu thập kỷ 90 đưới 3%, thấp gần bằng Thụy Điển

Tỉ lệ thất nghiệp thấp ở Thụy Điển dễ dàng giải thích được là do chỉ phí tiêu dùng cao trong chính sách thị trường lao động Các nước châu Âu sử dụng các chương trình phúc lợi để giảm nguồn cung lao động Đức dùng các loại trợ cấp cho người già để khuyến khích công nhân cao tuỗi rời bỏ thị trường lao động Tương tự, Hà Lan dùng lợi ích người khuyết tật

để đạt mục đích Tuy nhiên, trong trường hợp Nhật Bản, tiêu dùng xã hội, kể cả chính sách tiêu dùng cho thị trường lao động thấp nhất trong các nước OECD bới vì họ không dùng trợ cấp hưu trí, thất nghiệp hay lợi ích người khuyết tật để hạn chế nguồn cung về lao động

Ngay từ trước năm 1990 , chỉ số Gini trước và sau thuế của Nhật bản đều nhỏ Điều

đó chứng tỏ rằng ảnh hưởng của việc phân phối lại không đáng kê, khác hẳn so với các nước tư bản phát triển khác hệ sô , Gini tương đối nhỏ do có những chính sách kinh tế hữu

hiệu làm giảm sự chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp xã hội Nói cách khác, ở nhà nước phúc lợi Nhật Bản, một số chính sách kinh tế thay thể chức năng của nhà nước phúc lợi thông thường

Hệ thống tuyển dụng suốt đời tại các công ty lớn làm cho tỉ lệ thất nghiệp ở Nhật Bản thấp Bên cạnh đó công ty mở rộng lợi ích người công nhân dược hướng tới những thành viên trong gia đình khiến người đàn ông trở thành người nuôi sống cả gia đình

Chính sách bảo vệ những công ty vừa và nhỏ cũng góp phần đảm bảo việc làm cho người lao động Công nhân xây dựng (chiếm khoảng 10% lực lượng lao động) được đảm bảo việc làm nhờ vào chính sách đầu tư nhiều vỗn vào các công trình công cộng của nhà nước

2.2 Đặc điểm các lĩnh vực phúc lợi xã hội trong quốc gia Nhật Bản

Trong các chương trình phúc lợi xã hội ở Nhật Bản thì chương trình về y tế và chăm sóc sức khỏe được hình thành sớm nhất và lớn nhất về kinh phí Hai chương trình Bảo hiểm sức khỏe công nhân và Bảo hiểm sức khỏe quốc gia đã thu hút phần lớn người dân Nhật Bán tham gia, chiếm tới hơn 90% đân số Nhật Bản Bảo hiểm sức khỏe quốc gia bao gồm những người kinh doanh và nông đân Bảo hiểm này thường bị thâm hụt tài chính so với Bảo hiểm sức khỏe công nhân luôn có số đư tài chính Bởi vì Báo hiểm sức khỏe quốc

Trang 11

10

gia còn phải đâm nhận cả việc bảo hiểm cho người già, người thất nghiệp và những người

có thu nhập thấp Hệ thống phúc lợi xã hội về sức khỏe ở Nhật Bản có những chương trình chăm sóc sức khỏe cho các nhóm dân cư rất cụ thể Ví dụ, như hệ thống địch vụ sức khỏe cho người giả, chương trình bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho bả mẹ và trẻ em, chương trình chăm sóc sức khỏe cho người tàn tật, cho những nạn nhân của bom nguyên tử Những chương trình này đã đám bảo quyền được hướng phúc lợi về y tế cho mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội Nhật Bản

Trước đây, Nhật Bản cho rằng việc nuôi đưỡng và chăm sóc trẻ em thuộc về gia đình Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, quan niệm này đã thay đổi và đã ban hành luật phúc lợi trẻ em (người dưới 18 tuổi) (năm 1947) và luật phụ cấp nuôi đưỡng trẻ (năm 1961) Cũng sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, phụ nữ Nhật Bản tham gia lao động xã hội nhiều hơn Điều này buộc xã hội phải tham gia trực tiếp vào công tác chăm sóc trẻ em Chính vì vậy, một số chính sách vả biện pháp phúc lợi bả mẹ trẻ em ở Nhật Bản đã được

thực hiện: Cải thiện môi trường sống xung quanh trẻ em Chính phủ đã phát triển loại nhà cho thuê dành cho hộ gia đình có từ 3~5 người, ưu tiên cho gia đình có con nhỏ Xây dựng nhiều nơi vui chơi công cộng cho trẻ em (sân chơi), kế cả chỗ vui chơi ở cửa hàng, khách sạn, nhà ga vả bảo tàng

phụ cấp hàng tháng (khoảng vài nghìn yên/trẻ em) cho việc nuôi mỗi đứa trẻ đưới 5 tuổi cho đến khi học xong lớp 9 (hoặc lớp 6) tùy theo sự điều chính của chế độ phúc lợi này (sự điều chỉnh chế độ phúc lợi trẻ em cũng đã xảy ra ở năm 1992)

gian trông trẻ cho phù hợp với điều kiện làm việc của mẹ (có thể trông trẻ tới 7 giờ tối, hoặc 10 đêm) Có nhà trẻ cho trẻ tản tật vả trông trẻ theo thời vụ Lệ phí gửi trẻ được quy định tùy theo mức thu nhập của từng người gửi Nội dung đạy trẻ theo để cương thống nhất của Bộ Giáo dục Nhật Bản

đời Ngoài ra còn có dịch vụ phúc lợi cho các bà mẹ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, như: không nơi nương tựa (bố mẹ ly dị, hoặc bị chết), trẻ em thiếu cha, bị tản tật, bị thần kinh,

bị rối loạn tình cảm Nhà nước đã lập ra các trung tâm tư vấn và cung cấp các địch vụ phục hồi chức năng cho những đối tượng trẻ em này Đối với các bà mẹ trong trường hợp này, nhà nước cũng có những ưu tiên về việc làm cho họ, tư vấn về nghề nghiệp và giúp đỡ về kinh tế (cho vay không lãi đề kinh doanh, giảm thuế thu nhập)

Ngày đăng: 26/07/2022, 08:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Esping Andersen, & Gosta. (1997). "Hybrid or Unique ? The Japanese Welfare State between Europe and America ". Journal of European Social Policy 7 (3), 179 - 190 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hybrid or Unique? The Japanese Welfare State between Europe and America
Tác giả: Gosta Esping-Andersen
Nhà XB: Journal of European Social Policy
Năm: 1997
3. Esping-Anderson, & Gosta. (1996). Welfare States in Transition : National Adapation in Global Economies, Thousand Oasks. CA:Sage Sách, tạp chí
Tiêu đề: Welfare States in Transition: National Adaptations in Global Economies
Tác giả: Gosta Esping-Andersen
Nhà XB: Sage Publications
Năm: 1996
4. Holiday, Ian. (2000). "Productivist Welfare Capitalism : Socil Policy in East Asia ". Political Studies 48(4) : 706 - 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Productivist Welfare Capitalism : Socil Policy in East Asia
Tác giả: Holiday, Ian
Năm: 2000
5. Nguyễn Duy Dũng. (2005). Một số vấn đề xã hội bức xúc của Nhật bản hiện nay. T ạ p chí nghiên c ứ u Nh ậ t b ản và Đông Bắ c Á . S ố 2(56)/4-2005, 17-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu Nhật bản và Đông Bắc Á . Số 2(56)/4-2005
Tác giả: Nguyễn Duy Dũng
Năm: 2005
6. Nguyễn Duy Dũng, & Bùi Thị Liên. (1998). "Về cải cách và điều chỉnh phúc lợi ở Nhật Bản , giai đoạn từ 1979 đến nay". T ạ p chí nghiên c ứ u Nh ậ t B ả n.S ố 6(18)/12- 1998: 26-28, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về cải cách và điều chỉnh phúc lợi ở Nhật Bản , giai đoạn từ 1979 đến nay
Tác giả: Nguyễn Duy Dũng, & Bùi Thị Liên
Năm: 1998
7. Phạm Thị Hồng Điệp. (2020). Mô hình nhà nướ c phúc l ợ i. Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình nhà nước phúc lợi
Tác giả: Phạm Thị Hồng Điệp
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2020
8. Segura-Ubiego, & Alex. (2007). The Political Economy os the Welfare in Latin America: Globalization, Democracy, and Development. New York : Cambridge University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Political Economy os the Welfare in Latin America: Globalization, Democracy, and Development
Tác giả: Segura-Ubiego, Alex
Nhà XB: Cambridge University Press
Năm: 2007
9. Statistics Bureau. (1997). Stastistical Handbook of Japan 1997. Tokyo : The Japan Statistical Association Sách, tạp chí
Tiêu đề: Statistical Handbook of Japan 1997
Tác giả: Statistics Bureau
Nhà XB: The Japan Statistical Association
Năm: 1997
10. The Constitution of Japan. (n.d.). Retrieved from http://japan.kantei.go.jp/constitution_and_government_of_japan/constitution_e.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Constitution of Japan
11. Trần Thị Nhung. (2003). "Vấn đề bảo đảm xã hội Nhật Bản trong tình hình kinh tế , xã hội hiện nay ". T ạ p chí nghiên c ứ u Nh ậ t B ản và Đông Bắ c Á .S ố 6(48)/6-2013:17 -22, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề bảo đảm xã hội Nhật Bản trong tình hình kinh tế, xã hội hiện nay
Tác giả: Trần Thị Nhung
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á
Năm: 2013
12. TS. Phạm Ngọc Anh. (2021). T ạ p chí t ổ ch ức nhà nướ c. Retrieved from https://tcnn.vn/news/detail/37891/Chinh_sach_an_sinh_xa_hoi_o_Nhat_Banall.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí tổ chức nhà nước
Tác giả: TS. Phạm Ngọc Anh
Năm: 2021
13. Walker A; Wong C-k;. (2005). East Asian welfare regimes in transition: from Confucianism to globalisation. Bristol: Policy Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: East Asian welfare regimes in transition: from Confucianism to globalisation
Tác giả: Walker A, Wong C-k
Nhà XB: Policy Press
Năm: 2005
1. Dương Phú Hiệp, & Nguyễn Duy Dũng (chủ biên). (1996). Một số vấn đề phúc lợi xã hội của Nhật Bản. In N. D. Dũng. Hà Nội: Trung Tâm Nghiên cứu Nhật Bản Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w