1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề cương ôn thi môn bệnh truyền nhiễm thú y (4 tín chỉ)

137 12 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 260,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÂN TRỌNG TIẾN BÀI TẬP MÔN BỆNH TRUYỀN NHIỄM THÚ Y (Số tín chỉ 4) Lớp TY K49 N01 Khoa Chăn nuôi Thú y GV hướng dẫn TS La Văn Công Thái Nguyên – Năm 2022 Câ.

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Khoa : Chăn nuôi Thú y

GV hướng dẫn: TS La Văn Công

Thái Nguyên – Năm 2022

Trang 2

Câu 1: Khái niệm về nhiễm trùng? Đặc điểm của hiện tượng nhiễm trùng?

* Khái niệm về nhiễm trùng

Nhiễm trùng là một hiện tượng sinh vật rất phức tạp xảy ra khi mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể động vật trong những điều kiện nhất định của ngoại cảnh

Quá trình nhiễm trùng là quá trình tương tác giữa một bên là cơ thể động vật

và một bên là vi sinh vật gây bệnh (vi khuẩn, virus ), là sự đấu tranh giữa cơ thể

bị xâm nhiễm và mầm bệnh Biểu hiện và tiến triển của nhiễm trùng phụ thuộc vào

* Đặc điểm của hiện tượng nhiễm trùng

Đây là điều kiện đầu tiên và cơ bản nhất Tính gây bệnh là khả năng cần thiết

và vốn có của mầm bệnh để gây nên hiện tượng nhiễm trùng Mầm bệnh thu được khả năng này trong quá trình tiến hoá, thích nghi của nó trên cơ thể động vật Trong quá trình tiến hóa và phát triển thích nghi, mỗi loại mầm bệnh đã thích nghi gây bệnh ở những động vật khác nhau, thậm chí ở các cơ quan tổ chức khác nhau trên một cơ thể bệnh Do đó, mỗi một mầm bệnh có những khả năng gây bệnh khác nhau

- Có loại khi xâm nhập vào cơ thể đã có thể gây bệnh như virus dại, virus Newcastle, vi khuẩn nhiệt thán

Trang 3

- Có loại chỉ gây bệnh khi sức đề kháng của cơ thể ký chủ suy yếu Ví dụ: E

coli gây nhiễm trùng đường ruột.

- Có loại chỉ gây bệnh khi những vi sinh vật khác đã từng sống cạnh tranh bị

tiêu diệt Ví dụ: người dùng kháng sinh uống lâu ngày, các dòng E coli bị tiêu diệt,

tạo điều kiện cho cầu trùng gây tiêu chảy

- Có loại mầm bệnh chỉ gây bệnh cho một loài động vật nhất định nhưng có loại gây bệnh chung cho nhiều loài động vật

+ Độc lực

Độc lực biểu hiện mức độ cụ thể của tính gây bệnh, thể hiện qua hai khả năng: tiết độc tố đầu độc cơ thể ký chủ và khả năng xâm nhập, sinh sản, phát triển trong các mô của cơ thể

Độc lực của mầm bệnh có thể được làm tăng lên hoặc giảm đi hoặc làm mất

đi hoàn toàn bằng nhiều phương pháp nhân tạo

Câu 2: Phương thức tác động của mầm bệnh lên cơ thể ký chủ?

* Phương thức tác động của mầm bệnh

Sau khi xâm nhập vào cơ thể động vật, để gây bệnh, mầm bệnh tác động trên

cơ thể ký chủ chủ yếu ở hai mặt: Sinh sản nhanh, chiếm đoạt vật chất của ký chủ; tiết độc tố đầu độc ký chủ, tiết các yếu tố hóa học để lan truyền, xâm nhập rộng rãi vào các cơ quan tổ chức, tiết enzyme để làm rối loạn công năng và tổn thương thựcthể các cơ quan tổ chức của ký chủ

Mầm bệnh thường tác động lên cơ thể ký chủ bởi các yếu tố sau:

a Độc tố

Ngoại độc tố (exotoxin): được sản sinh, bài tiết ra môi trường xung quanh bởi

tế bào vi khuẩn Đa số ngoại độc tố có bản chất tự nhiên là protein, kém bền với nhiệt Chúng được giảm độc khi xử lý với formol vẫn giữ được đặc tính kháng

Trang 4

nguyên Ngoại độc tố là những chất độc nhất đối với con người đã được biết đến

Các thành viên của giống Clostridium là những vi khuẩn sản sinh ngoại độc tố phổ biến nhất như C tetani, C botulinum

b Yếu tố lan truyền

Trong mô liên kết của cơ thể động vật, ở gian chất giữa các tế bào có một loại axit là hyaluronic có khả năng ngăn chặn các vật lạ là vi khuẩn, không cho chúng xâm nhập lan tràn

Khi mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể ký chủ, chúng sản sinh ra enzym

hyaluronidaza phân huỷ axit hyaluronic, làm tăng sức thẩm thấu của mô bào, do đó

vi khuẩn và độc tố có thể lan tràn, xâm nhập sâu vào cơ thể, enzym này được gọi làyếu tố lan truyền Ngoài ra, ở một số vi khuẩn gây bệnh còn có lông, nhờ có lông nên vi khuẩn dễ xâm nhập và lan truyền, cư trú trong các mô bào

c Enzym ngoại bào

Trong quá trình ký sinh, mầm bệnh còn tiết ra các loại enzim có tác dụng phá huỷ, đầu độc cơ thể ký chủ như Leucitinaza, phân huỷ Leucitin, Colagenaza và Muxinaza phá huỷ mô liên kết, Hemolysin phá huỷ hồng cầu, Leukocidin phá huỷ các bạch cầu, Cytotoxin gây hoại tử tế bào

d Giáp mô

Một số vi khuẩn gây bệnh có khả năng hình thành giáp mô trong cơ thể ký chủ Đây là một yếu tố độc lực của vi khuẩn Giáp mô giúp vi khuẩn tránh được sự thực bào của các tế bào thực bào trong cơ thể, do không bị thực bào nên vi khuẩn mới có cơ hội sinh sôi nảy nở và gây bệnh Vì có nhiều phương thức tác động khácnhau như trên nên mầm bệnh có thể gây ra hiện tượng rối loạn toàn thân và rối loạn cục bộ Biểu hiện triệu chứng toàn thân như sốt, ủ rũ là triệu chứng chung của nhiều bệnh nhiễm trùng, các biểu hiện cục bộ là triệu chứng riêng cho từng bệnh

Câu 3: Biểu hiện của hiện tượng nhiễm trùng như thế nào? Phân biệt các loại nhiễm trùng ?

* Biểu hiện của nhiễm trùng

Nhiễm trùng có thể biểu hiện theo hai trạng thái:

a Nhiễm trùng không triệu chứng

Trang 5

Thể ẩn: Động vật có nhiễm trùng không biểu hiện triệu chứng lâm sàng rõ rệt

nhưng nội tạng bị tổn thương và có rối loạn chức năng các cơ quan, có thể phát hiện được bằng các xét nghiệm

Động vật lành mang trùng: Động vật không có triệu chứng lâm sàng, không

có tổn thương bệnh lý nhưng cơ thể lại mang mầm bệnh và luôn đào thải mầm bệnh ra ngoài làm lây lan bệnh Vai trò của động vật lành mang trùng rất quan trọng về phương diện dịch tễ học, có liên quan chặt chẽ với quá trình sinh dịch do

đó cần phải chú ý kiểm soát, phát hiện để có biện pháp xử lý thích hợp

b Nhiễm trùng có biểu hiện triệu chứng rõ rệt

Động vật bị nhiễm trùng có biểu hiện rõ rệt những dấu hiệu toàn thân như sốt,nhiễm độc, mệt mỏi, biếng ăn, rồi sau đó xuất hiện những triệu chứng đặc trưng của một bệnh nhiễm trùng nào đó, những triệu chứng này xuất hiện đầy đủ vào giaiđoạn toàn phát của bệnh, thường là dấu hiệu chỉ điểm giúp cho việc chẩn đoán được bệnh

* Các loại nhiễm trùng

Có thể phân biệt một số loại nhiễm trùng sau:

- Nhiễm trùng từ ngoài: Mầm bệnh từ bên ngoài môi trường xâm nhập vào cơ

thể động vật khoẻ mạnh để gây bệnh

- Nhiễm trùng từ bên trong: Ở động vật khoẻ mạnh có một số loại mầm bệnh

thường xuyên cư trú nhưng không gây được bệnh, giữa cơ thể ký chủ và mầm bệnhtạm thời ở thể cân bằng Khi sức đề kháng của cơ thể ký chủ giảm, nhân cơ hội đó, mầm bệnh tăng cường độc lực và gây bệnh Ví dụ: vi khuẩn tụ huyết trùng

- Nhiễm trùng đơn thuần: Cơ thể chỉ bị một loại mầm bệnh tác động gây

bệnh

- Nhiễm trùng kết hợp (ghép): Cơ thể cùng một lúc bị hai hay nhiều mầm

bệnh tác động Trong trường hợp này tiến triển của bệnh rất nặng, triệu chứng lâm sàng thường phức tạp nên việc chẩn đoán và điều trị gặp khó khăn Ví dụ: bệnh phó thương hàn lợn ghép với dịch tả lợn

- Nhiễm trùng kế phát: Khi cơ thể bị nhiễm trùng, mầm bệnh này tác động

làm cơ thể suy giảm sức đề kháng, tạo điều kiện cho mầm bệnh thứ hai xâm nhập

Trang 6

gây bệnh gọi là nhiễm trùng kế phát Nhiễm trùng kế phát thường làm cho bệnh nặng hơn.

- Bội nhiễm, tái nhiễm: Khi một mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể đang bị

nhiễm bệnh đó thì gọi là bội nhiễm Nếu cơ thể bị bệnh đã khỏi hoàn toàn mà bị mắc lại bệnh đó thì gọi là tái nhiễm

- Bệnh tái phát: Nếu cơ thể bị bệnh, đã khỏi về lâm sàng sau đó bệnh xuất

hiện trở lại mặc dù không có nhiễm trùng lần 2 đó là do mầm bệnh còn ẩn náu

trong cơ thể, gặp cơ hội thuận lợi lại gây bệnh thì gọi là bệnh tái phát.

- Nhiễm trùng huyết: Bình thường ở động vật khoẻ mạnh, máu không có mầm

bệnh Khi mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể vào máu thì gọi là nhiễm trùng huyết

- Nhiễm mủ huyết: Nếu mầm bệnh là các vi khuẩn gây mủ nhiễm trong máu

thì gọi là nhiễm mủ huyết

- Bại huyết: Khi mầm bệnh sinh trưởng và phát triển một thời gian dài trong

máu, lấy máu làm "cơ địa" để sinh sống thì gọi là bại huyết Trường hợp này bệnh thường rất nặng và dẫn đến tử vong

Câu 4: Khái niệm bệnh truyền nhiễm? Đặc điểm chung của bệnh truyền nhiễm?

* Khái niệm

Bệnh truyền nhiễm là loại bệnh nhiễm trùng do các loại vi sinh vật (hay còn gọi là mầm bệnh) gây ra, có khả năng lây lan từ cơ thể sinh vật này sang cơ thể sinh vật khác một cách trực tiếp hoặc gián tiếp qua yếu tố trung gian

* Đặc điểm chung của bệnh truyền nhiễm

Trang 7

Một bệnh truyền nhiễm thường tiến triển qua các thời kỳ: nung bệnh, khởi phát, toàn phát và kết thúc.

Câu 5: Các thời kỳ tiến triển của bệnh truyền nhiễm?

- Các thời kỳ tiến triển của bệnh truyền nhiễm

Bệnh truyền nhiễm là một quá trình đấu tranh giữa mầm bệnh và cơ thể sinh vật trong điều kiện ngoại cảnh nhất định, bao giờ cũng tiến triển qua các thời kỳ:

- Thời kỳ nung bệnh (ủ bệnh)

Thời gian này tính từ lúc vi sinh vật xâm nhập vào cơ thể cho đến khi xuất hiện các triệu chứng lâm sàng đầu tiên Đây là thời kỳ vi sinh vật gây bệnh thích nghi, sinh sản, tích luỹ độc tố trong cơ thể ký chủ Thời kỳ này con vật không biểu hiện các triệu chứng lâm sàng nhưng lại rất có ý nghĩa về dịch tễ vì:

- Vi sinh vật gây bệnh có thể được bài tiết ra ngoài cơ thể vào cuối thời kỳ nung bệnh và làm bệnh lây lan mà người ta không biết để đề phòng

- Biết được thời gian nung bệnh tối đa sẽ là cơ sở khoa học cho việc cách ly súc vật mới nhập về, cách ly con vật ốm, công bố hết dịch hoặc theo dõi được tình hình tiếp xúc và nhiễm bệnh của một cá thể hoặc một đàn

Thời kỳ nung bệnh có thể thay đổi dài ngắn khác nhau tuỳ thuộc nhiều yếu tố:

- Các bệnh truyền nhiễm khác nhau có thời gian nung bệnh khác nhau: có bệnh chỉ 3 - 6 ngày (bệnh nhiệt thán), có bệnh kéo dài 1 - 2 tuần (lao) hoặc 1 - 2 tháng (dại)

- Loại vi sinh vật gây bệnh, độc lực, số lượng và đường xâm nhập của mầmbệnh: Số lượng mầm bệnh xâm nhập ban đầu càng nhiều, độc lực càng cao thì thời gian nung bệnh càng ngắn Nếu đường xâm nhập phù hợp thì thời gian nung bệnh ngắn Ví dụ: bệnh dịch hạch ở thể phổi lây qua đường hô hấp có thời gian nung bệnh ngắn hơn dịch hạch thể hạch lây qua đường da, niêm mạc

- Trạng thái cơ thể: Nếu cơ thể khoẻ mạnh, có sức đề kháng cao thì thời gian nung bệnh càng kéo dài

- Thời kỳ khởi phát

Thời kỳ này cơ thể động vật có các triệu chứng khởi đầu của một bệnh Đặc biệt là triệu chứng nhiễm trùng, nhiễm độc toàn thân Các triệu chứng này thường

Trang 8

giống nhau giữa các bệnh truyền nhiễm nên thường ít khi có thể dựa vào triệu chứng

để chẩn đoán phân biệt được các loại bệnh khác nhau Nó chỉ là dấu hiệu để phát hiện sớm một bệnh

Thời kỳ này có thể kéo dài từ vài giờ đến 1 - 2 ngày tuỳ loại bệnh và mỗi một bệnh truyền nhiễm có thể có cách khởi phát bệnh khác nhau: có thể là đột ngột (bệnh nhiệt thán ở thể cấp tính) hoặc từ từ (bệnh thương hàn)

- Thời kỳ toàn phát

Động vật mắc bệnh biểu hiện đầy đủ các triệu chứng lâm sàng của một bệnh nên có thể giúp cho việc chẩn đoán và tiên lượng bệnh dễ dàng Các biến chứng cũng như tử vong, nếu có, cũng xảy ra trong giai đoạn này Triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng của thời kỳ toàn phát gồm những triệu chứng nhiễm trùng, nhiễm độc ngàycàng tăng do mầm bệnh đã đột nhập đến các cơ quan nội tạng nhất định Do tính hướng tổ chức của mầm bệnh nên con vật bệnh xuất hiện các triệu chứng điển hình

và các tổn thương đặc trưng của từng loại mầm bệnh Ví dụ: Sưng hạch hầu trong bệnh tụ huyết trùng trâu bò; vàng da và niêm mạc trong bệnh do xoắn khuẩn ở lợn

- Thời kỳ kết thúc

Tùy theo sức đề kháng của cơ thể bệnh, một bệnh truyền nhiễm có thể kết thúc theo nhiều khả năng:

- Con vật ốm có thể chết nếu mầm bệnh thắng cơ thể

- Bệnh chuyển sang thể mạn tính nếu mầm bệnh và cơ thể ở trạng thái cân bằng

- Khỏi bệnh nếu cơ thể thắng mầm bệnh Trong trường hợp này các triệu chứng của bệnh thuyên giảm một cách đột ngột hoặc từ từ, vật bệnh có cảm giác dễchịu, sốt giảm dần, đi tiểu nhiều hơn Quá trình hồi phục lâm sàng tương ứng với

sự phục hồi các tổn thương và rối loạn cơ năng của các cơ quan, các tổ chức thoái hoá, hoại tử bắt đầu tái sinh, mầm bệnh bị tiêu diệt hoặc bị thải trừ ra khỏi cơ thể.Biến chứng thường thấy trong giai đoạn này là bội nhiễm các loại vi khuẩn khác nhau hoặc bộc phát một bệnh tiềm ẩn trên cơ thể bệnh đã suy kiệt và giảm sút sức đề kháng

Nếu không có biến chứng, con vật sẽ khỏi bệnh

Có 3 mức khỏi bệnh:

- Khỏi hoàn toàn về lâm sàng và xét nghiệm: Không còn rối loạn về chức năng, tổn thương thực thể, không còn mang và bài xuất mầm bệnh

Trang 9

- Khỏi về lâm sàng đơn thuần: Cơ thể không còn mầm bệnh nhưng còn rối loạn chức năng và tổn thương thực thể Ví dụ: Trong bệnh đóng dấu lợn, khi khỏi bệnh, lợn hết sốt, hết các triệu chứng, hết vi khuẩn trong cơ thể nhưng vẫn còn các nốt viêm da (dấu) chưa hồi phục hết.

- Khỏi về lâm sàng, xét nghiệm, hết các rối loạn chức năng và tổn thương thực thể nhưng còn mang và bài xuất mầm bệnh, có thể lây lan sang các động vật cảm thụkhác

Câu 6: Các thể bệnh truyền nhiễm?

Bệnh ở thể mạn tính thường nguy hiểm ở chỗ: mầm bệnh tồn tại lâu dài trong cơ thể của vật bệnh và bài xuất thường xuyên ra môi trường xung quanh nên dễ làm lây lan bệnh

- Thể ẩn tính

Động vật bị bệnh không có triệu chứng nhưng ở các cơ quan nội tạng có thể

có bệnh tích Do đó muốn chẩn đoán bệnh phải dùng các kỹ thuật xét nghiệm Trong thể này, động vật bị bệnh cũng mang và thải mầm bệnh rất lâu, đó là nguyênnhân làm dịch dễ phát sinh

Trang 10

Câu 7: Trình bày các khâu của quá trình sinh dịch?

* Các khâu của quá trình sinh dịch

Quá trình sinh dịch là quá trình bệnh truyền nhiễm lây liên tục từ động vật ốmsang động vật khoẻ

Động vật ốm được coi là nguồn bệnh, luôn bài thải mầm bệnh ra bên ngoài

Ở ngoại cảnh, mầm bệnh tạm thời tồn tại trên nhiều nhân tố có tác dụng trung gian để truyền bệnh gọi là các nhân tố trung gian truyền bệnh

Từ nhân tố trung gian truyền bệnh, mầm bệnh xâm nhập vào động vật khoẻ nhưng thụ cảm với bệnh sẽ làm cho quá trình sinh dịch xảy ra

Như vậy, một dịch bệnh muốn phát sinh cần phải có đủ 3 yếu tố: nguồn bệnh

- các nhân tố trung gian truyền bệnh - động vật cảm thụ Đây là 3 khâu của quá trình sinh dịch Chỉ cần thiếu 1 trong 3 khâu này là dịch bệnh không thể phát sinh.Muốn tiêu diệt một bệnh truyền nhiễm cần phải nắm được các quy luật của quá trình sinh dịch, từ đó mới có thể có các biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn, khống chế tiến tới thanh toán bệnh

* Nguồn bệnh

Nguồn bệnh là khâu đầu tiên và chủ yếu của quá trình sinh dịch Nguồn bệnh

là nơi mầm bệnh có thể khu trú thuận lợi, sinh sôi nảy nở và từ đó trong những điều kiện nhất định sẽ xâm nhập vào động vật cảm thụ bằng cách này hay cách khác để gây bệnh

Trang 11

Từ khái niệm trên thấy rằng: không phải bất cứ nhân tố ngoại cảnh nào cũng

có thể được coi là nguồn bệnh Bởi vì ở đó có thể chứa mầm bệnh, thậm chí mầm bệnh tồn tại khá lâu nhưng không có điều kiện để chúng sinh sôi nảy nở, tồn tại thuận lợi và lâu dài được Ví dụ: nha bào của vi khuẩn nhiệt thán tồn tại trong đất

có thể đến 35 năm nhưng chúng không thể sinh sản được Vì thế đất không được coi là nguồn bệnh với bệnh nhiệt thán

Như vậy, nguồn bệnh phải là những sinh vật sống hoặc đang mắc bệnh hoặc đang mang mầm bệnh Chỉ có cơ thể sinh vật là điều kiện tự nhiên duy nhất cho mầm bệnh sinh sống, phát triển thuận lợi và lâu dài

Nguồn bệnh có thể chia làm hai loại:

a Động vật đang mắc bệnh

Đó là các loài động vật và người đang mắc bệnh ở các thể khác nhau, đặc biệt con ốm ở thời kỳ nung bệnh là nguy hiểm nhất vì chúng đã mang và bài xuất mầm bệnh ra ngoài một thời gian trước khi xuất hiện triệu chứng

Những động vật mắc bệnh nhẹ cũng rất nguy hiểm vì chúng thường khó bị phát hiện, dễ bị bỏ qua, chúng có cơ hội tiếp xúc với động vật khoẻ và dễ làm lây lan bệnh

Trong tự nhiên: dã thú và loài gặm nhấm chính là nguồn bệnh nguy hiểm đối với người và gia súc vì chúng là những ổ chứa mầm bệnh của rất nhiều bệnh

truyền nhiễm

b Động vật mang trùng

Động vật nuôi, người, côn trùng và dã thú đều là động vật mang trùng Hiện tượng mang trùng có thể bao gồm cả các loại vật nuôi sau khi mắc bệnh và khỏi (có thể có miễn dịch hoặc không) nhưng có mang trùng (động vật lành bệnh mang trùng).Động vật mới lành bệnh nhưng còn mang và bài xuất mầm bệnh trong một thời gian hoặc những động vật chưa hề mắc bệnh nhưng mang mầm bệnh gọi là động vật khoẻ mang trùng

Côn trùng được coi là nguồn bệnh khi chúng có khả năng truyền mầm bệnh từđời này sang đời khác

Trang 12

Động vật mang trùng là nguồn bệnh cực kỳ nguy hiểm, chúng thường làm lây lan bệnh hơn cả động vật ốm Ở một số bệnh truyền nhiễm, động vật mang trùng

có tác dụng quyết định làm cho dịch phát sinh

Nhân tố trung gian truyền bệnh

Nhân tố trung gian truyền bệnh là khâu thứ hai của quá trình sinh dịch, có vai trò chuyển tải mầm bệnh từ nguồn bệnh đến động vật cảm thụ Mầm bệnh sau khi được nguồn bệnh bài xuất sẽ tồn tại một thời gian nhất định trên các nhân tố trung gian rồi bị tiêu diệt nếu như không có cơ hội xâm nhập vào động vật cảm thụ

Có rất nhiều nhân tố trung gian truyền bệnh:

a Thức ăn, nước uống

Đây là nhân tố phổ biến nhất vì đại đa số các bệnh truyền nhiễm đều lây nhiễm bằng đường tiêu hóa qua thức ăn, nước uống

Mầm bệnh từ vật ốm bài tiết ra đất, nước, dụng cụ chứa đựng chế biến thức ănrồi nhiễm vào thức ăn, nước uống, động vật khoẻ mạnh ăn, uống phải sẽ nhiễm bệnh

b Đất

Đất đóng vai trò quan trọng làm lây lan bệnh Đất bị ô nhiễm là do chất bài tiết của con vật, chất thải của cống rãnh, lò sát sinh, nhà máy chế biến thú sản, dochôn xác động vật chết vì bệnh Từ đất bệnh có thể theo bụi vào không khí, cuốn vào nước hoặc trực tiếp nhiễm vào thức ăn, nước uống hoặc qua vết thương để vào

cơ thể

c Nước

Nước tự nhiên là môi trường thích hợp cho vi sinh vật tồn tại do có chứa đầy

đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của vi sinh vật

Sự ô nhiễm các mầm bệnh ở trong nước có thể do nhiều nguồn khác nhau: từ đất, từ nước thải, từ bụi

Nước uống, nước tắm rửa rất cần thiết cho đời sống của động vật nên nước bị

ô nhiễm là nguyên nhân có thể làm phát sinh ồ ạt nhiều loại bệnh truyền nhiễm

d Không khí

Mầm bệnh rơi vào không khí là do chúng dính vào bụi hoặc nước bọt do con vật ốm ho bắn ra, từ đó mầm bệnh có thể được đưa đi rất xa rồi xâm nhập

Trang 13

vào động vật khoẻ qua đường hô hấp Không khí ô nhiễm mầm bệnh là nhân tố trung gian nguy hiểm.

Nếu côn trùng mang mầm bệnh có thể truyền mầm bệnh cho cả thế hệ sau củachúng thì không những chúng chỉ là nhân tố trung gian truyền bệnh mà còn được coi là nguồn bệnh

g Các loài động vật khác

Tất cả các loài động vật không cảm thụ hoặc ít cảm thụ với bệnh đều là nhữngnhân tố trung gian truyền bệnh cơ học Mầm bệnh dính trên cơ thể động vật hoặc động vật ăn xác chết rồi thải mầm bệnh qua phân của chúng (ví dụ: quạ ăn xác chết)

Trong các loài động vật, cần chú ý đến loài chim hoang dã vì chúng có khả năng mang mầm bệnh đi rất xa trong các mùa di cư và phát tán mầm bệnh khắp nơi, đây là nguồn gốc gây ra các vụ dịch qua các năm

Ngoài loài chim thì loài gặm nhấm, đặc biệt là chuột, có vai trò rất nguy hiểm trong việc truyền bệnh

h Người

Người cũng đóng vai trò là nhân tố trung gian truyền bệnh Người có thể mang nhiều loại mầm bệnh, đặc biệt là những người trực tiếp tiếp xúc với gia súc như công nhân chăn nuôi, công nhân lò mổ, bác sĩ thú y

i Dụng cụ đồ vật

Tất cả các dụng cụ, đồ vật dùng trong chăn nuôi, trong giết mổ, chế biến, trong sản xuất bị ô nhiễm đều có thể phát tán mầm bệnh Mức độ tác hại của các đồ

Trang 14

vật trong việc lây truyền phụ thuộc vào thời gian tồn tại của mầm bệnh trên đồ vật đó.

k Sản phẩm gia súc

Thịt, sữa, da, lông, xương, sừng, móng của súc vật ốm hoặc mang trùng đều

là nguyên nhân làm lây lan bệnh

* Động vật thụ cảm

Động vật thụ cảm là những loài động vật có khả năng bị mắc một bệnh truyền nhiễm nào đó Đây là khâu thứ ba không thể thiếu được của quá trình sinh dịch Có nguồn bệnh, có nhân tố trung gian truyền bệnh nhưng không có động vật thụ cảm thì dịch bệnh không thể phát sinh

Vì vậy, sức thụ cảm của động vật với bệnh là điều kiện bắt buộc để dịch có thể phát sinh và phát triển

Sức thụ cảm của động vật với bệnh phụ thuộc vào sức đề kháng của cơ thể chúng Làm tăng sức đề kháng không đặc hiệu như chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, khai thác hợp lý và vệ sinh phòng bệnh đồng thời tăng sức đề kháng đặc hiệu (tiêm phòng tích cực bằng vacxin) là những biện pháp chủ động tích cực nhằm xoá bỏ khâu thứ ba của quá trình sinh dịch, làm dịch không thể phát sinh

Câu 8: Trình bày cơ chế và phương thức truyền bệnh truyền nhiễm?

* Cơ chế truyền bệnh

Mầm bệnh lây từ cơ thể ốm sang cơ thể khoẻ do những quy luật nhất định chi phối, đó là cơ chế truyền bệnh

Khi xâm nhập vào cơ thể, mỗi loại mầm bệnh có một nơi khu trú đầu tiên đó

là nơi mà mầm bệnh đầu tiên gặp những điều kiện thuận lợi nhất để sinh sản rồi từ

đó lan tới các cơ quan tổ chức khác Nơi khu trú đầu tiên cũng là nơi bảo đảm cho mầm bệnh được bài xuất ra khỏi cơ thể và quyết định phương thức bài xuất

Ví dụ: nếu nơi khu trú là phổi thì mầm bệnh bài xuất ra ngoài theo nước mũi, đờm và hơi thở; là ruột thì theo phân; là máu thì nhờ côn trùng hút máu

Phương thức bài xuất mầm bệnh lại quyết định nơi tồn tại của mầm bệnh ở ngoại cảnh Bài xuất theo đờm, nước bọt thì mầm bệnh tồn tại trong không khí, bàixuất theo phân thì mầm bệnh tồn tại ở đất, nước

Trang 15

Nơi tồn tại của mầm bệnh ở ngoại cảnh và nơi khu trú đầu tiên quyết định phương thức xâm nhập của mầm bệnh vào cơ thể động vật thụ cảm

Ví dụ: Nếu mầm bệnh có trong không khí sẽ xâm nhập qua đường hô hấp để vào phổi

Mỗi loại mầm bệnh chỉ có một nơi khu trú đầu tiên nhất định cho nên cũng chỉ có một cơ chế truyền bệnh nhất định

* Phương thức truyền bệnh

Bệnh truyền nhiễm có thể lây truyền theo hai phương thức sau:

a Phương thức truyền bệnh trực tiếp

Mầm bệnh được truyền thẳng từ con ốm sang con khoẻ không qua các nhân tốtrung gian Ví dụ: bệnh dại thường lây truyền trực tiếp qua vết cắn

Mầm bệnh của những bệnh lây trực tiếp thường là những vi sinh vật ký sinh bắt buộc, không thể sinh sản trong môi trường dinh dưỡng nhân tạo và khó tồn tại ở ngoạicảnh

b Phương thức truyền bệnh gián tiếp

Mầm bệnh phải thông qua các nhân tố trung gian để truyền bệnh, có nhiều bệnh buộc phải lây gián tiếp, ví dụ ký sinh trùng đường máu

Các mầm bệnh lây truyền gián tiếp thường có sức đề kháng cao và có thể tồn tại một thời gian dài ở ngoại cảnh trên nhân tố trung gian truyền bệnh

Có 4 phương thức truyền bệnh gián tiếp:

- Truyền theo đường tiêu hoá: đường truyền bệnh là đường từ phân tới miệng.Nơi khu trú đầu tiên của mầm bệnh là ruột Mầm bệnh theo phân ra ngoài, tồn tại tạm thời ở đất, nước, côn trùng rồi xâm nhập vào ống tiêu hóa qua thức ăn, nước uống

- Truyền qua đường hô hấp: đường truyền bệnh là hô hấp - không khí - hô hấp

- Truyền bệnh qua đường máu: đường truyền bệnh là máu - côn trùng hút máu - máu

- Truyền bệnh qua da và niêm mạc: đường truyền bệnh sẽ là da, niêm mạc - nhân tố trung gian - da, niêm mạc

Trên cơ sở nghiên cứu các phương thức truyền bệnh, người ta xác định được phương hướng và các biện pháp phòng trừ thích hợp đối với từng loại bệnh

Trang 16

Câu 9: Trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh dịch?

* Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh dịch

Quá trình sinh dịch chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến:

- Các yếu tố thiên nhiên

Yếu tố thiên nhiên bao gồm các điều kiện về đất đai, khí hậu, thời tiết chúngảnh hưởng rất lớn đến sự sống của các sinh vật, do đó có thể có những ảnh hưởng

có lợi hoặc không có lợi tới các khâu của quá trình sinh dịch

a Ảnh hưởng đến nguồn bệnh

Nếu nguồn bệnh là động vật nuôi thì điều kiện thiên nhiên ảnh hưởng rất lớn đến nguồn thức ăn, phương thức chăn nuôi, do đó ảnh hưởng đến sức đề kháng củacon vật dẫn đến làm tăng hoặc giảm nguồn bệnh

Nếu nguồn bệnh là dã thú, côn trùng thì các yếu tố thiên nhiên có ảnh hưởng càng rõ rệt vì điều kiện thiên nhiên quyết định vùng cư trú, sự phát triển về loài, số lượng và sự hoạt động của các động vật này

Ngoài ra, điều kiện thiên nhiên còn thông qua nguồn bệnh mà ảnh hưởng đến độc lực của mầm bệnh, điều này càng rõ khi mầm bệnh được thải ra môi trường bên ngoài

b Ảnh hưởng đến nhân tố trung gian truyền bệnh

Nếu nhân tố trung gian truyền bệnh là sinh vật thì điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến vùng cư trú, sự sinh sản và phát triển loài, số lượng và sự hoạt động củachúng và do đó làm tăng hoặc giảm vai trò truyền bệnh

Nếu nhân tố trung gian không phải là sinh vật (đất, nước, không khí, đồ

vật ) thì điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến thời gian tồn tại của mầm bệnh, ảnh hưởng đến mức độ phân tán rộng hay hẹp của mầm bệnh

c Ảnh hưởng đến động vật thụ cảm

Các yếu tố thiên nhiên (khí hậu, thời tiết, ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm ) góp phần làm tăng hoặc giảm sức đề kháng của động vật thụ cảm, do đó có thể làm hạnchế hoặc phát sinh dịch bệnh

- Các yếu tố xã hội

Trang 17

Bệnh truyền nhiễm là một hiện tượng sinh vật nhưng dịch bệnh lại xảy ra trong một xã hội nhất định nên các yếu tố xã hội có những ảnh hưởng nhất định đến quá trình sinh dịch.

Các yếu tố xã hội: chế độ xã hội, điều kiện sinh hoạt của xã hội (đời sống vật chất, trình độ văn hoá, trình độ khoa học kỹ thuật, tập quán xã hội, các hoạt động kinh tế, các tai biến xã hội (chiến tranh, dịch bệnh của con người ) đều ảnh hưởng đến dịch bệnh của gia súc, gia cầm

Trong một xã hội có trình độ khoa học kỹ thuật cao, cơ sở vật chất kỹ thuật tốt, quy mô chăn nuôi hiện đại và điều kiện vệ sinh tốt thì dịch bệnh chắc chắn khóxảy ra

Câu 10: Trình bày tính quy luật của bệnh truyền nhiễm?

* Tính quy luật của dịch

Nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển của các bệnh truyền nhiễm người tathấy rằng:

- Dịch bệnh có thể biểu hiện ở mức độ khác nhau

- Dịch lẻ tẻ: số con phát bệnh lẻ tẻ trong một thời gian dài, tỷ lệ mắc bệnh

không cao, khả năng lây lan không lớn Ví dụ: bệnh tụ huyết trùng

- Dịch địa phương: dịch xảy ra có tính chất vùng miền, giới hạn trong một địa phương chứ không lan rộng Ví dụ: bệnh nhiệt thán, uốn ván Dịch bệnh phát ra và lan rộng trong một thời gian ngắn, phạm vi dịch có thể là một huyện hoặc một tỉnh

- Dịch lớn (dịch lưu hành): bệnh phát ra ồ ạt, lây lan rất nhanh và rất rộng

có thể khắp một quốc gia (dịch cúm gà) hoặc có thể có tính chất châu lục (bệnh

lở mồm long móng)

- Bệnh có tính chất mùa vụ

Mùa vụ trong một năm thường ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của thực vật, ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng thức ăn của súc vật trong chăn nuôi, ảnh hưởng đến các nhân tố trung gian là sinh vật, ảnh hưởng đến sức đề kháng của

cơ thể gia súc và sự tồn tại của mầm bệnh ở ngoài môi trường

Trang 18

Nhiều hoạt động của con người, lễ tết có tính chất mùa vụ kết hợp với các yếu

tố thiên nhiên làm cho dịch bệnh cũng có tính chất mùa Rất nhiều bệnh có thể phát

ra ở mùa này nhưng ít phát ra ở mùa khác Ví dụ:

- Bệnh tụ huyết trùng hay xảy ra ở miền Bắc vào cuối mùa xuân, đầu mùa hè

- Bệnh Newcastle có thể xảy ra quanh năm nhưng thường tập trung vào vụ đông xuân

- Bệnh cúm gà thường xảy ra từ tháng 10 - 11 năm này đến tháng 2 - 3 năm sau

- Tính chu kỳ

Trong trường hợp không có sự tác động của con người, một số bệnh truyền nhiễm thường xuất hiện có tính chất chu kỳ: cứ sau một thời gian nhất định thì bệnh lại xuất hiện, điều này quyết định bởi sự tăng, giảm mức độ miễn dịch của quần thể động vật thụ cảm

Hiểu biết về tính quy luật của dịch giúp người ta có các biện pháp phòng chống dịch bệnh thích hợp như đề ra các biện pháp vệ sinh phòng bệnh ở các mùa,

đề ra lịch tiêm phòng vacxin hàng năm trước mùa phát bệnh

Câu 11: Trình bày nguyên lý của biện pháp phòng chống bệnh truyền nhiễm?

* Nguyên lý của biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm

Trang 19

Bệnh truyền nhiễm muốn xảy ra được phải có đầy đủ 3 khâu của quá trình sinh dịch.

Nguồn bệnh là khâu đầu tiên và chủ yếu, là xuất phát điểm của quá trình sinh dịch Nhân tố trung gian truyền bệnh nối liền nguồn bệnh với động vật thụ cảm Động vật thụ cảm làm cho dịch biểu hiện ra, đồng thời nó lại biến thành nguồn bệnh làm cho quá trình sinh dịch được nhân lên Vì vậy chỉ cần xoá bỏ một trong

ba khâu hoặc cắt đứt sự liên hệ giữa các khâu sẽ làm quá trình sinh dịch không xảy

ra được - Đó là nguyên lý cơ bản của biện pháp phòng và chống bệnh truyền

nhiễm

Nội dung của việc phòng và chống dịch bệnh cho động vật theo Pháp lệnh thú

y của nước ta bao gồm:

- Bảo đảm đủ tiêu chuẩn vệ sinh thú y tại các cơ sở chăn nuôi, chế biến thức

ăn chăn nuôi, chế biến sản phẩm động vật

- Thực hiện các biện pháp phòng bệnh, chẩn đoán xác định bệnh, khống chế tiêu diệt dịch bệnh cho động vật

- Thực hiện việc kiểm dịch động vật và sản phẩm động vật, kiểm soát giết mổ động vật và kiểm tra vệ sinh thú y thực phẩm có nguồn gốc từ động vật để phát hiện, ngăn chặn dịch bệnh lây lan và bảo đảm an toàn cho người

Câu 12: Trình bày các biện pháp phòng bệnh truyền nhiễm?

* Các biện pháp phòng bệnh truyền nhiễm

Phòng bệnh truyền nhiễm là thực hiện các biện pháp tổng hợp tác động đến nhiều khâu của quá trình sinh dịch để ngăn chặn không cho dịch xảy ra

- Biện pháp đối với nguồn bệnh

Phải tiêu diệt hoặc hạn chế không để nguồn bệnh phát tán mầm bệnh ra môi trường Khi dịch chưa xảy ra, nguồn bệnh là những động vật mang trùng

a Với gia súc và gia cầm mang trùng

- Phát hiện sớm, chủ động và tích cực: để phát hiện ra những gia súc, gia cầm

mang trùng cần thực hiện định kỳ các xét nghiệm vi sinh vật học và huyết thanh học

Trang 20

- Cách ly triệt để: khi đã phát hiện ra những động vật mang trùng cần phải cách ly triệt để Nếu với số lượng ít, có thể giết mổ.

- Điều trị dự phòng: đối với những gia súc quý, đắt tiền, mang trùng hoặc ở những tổng đàn lớn (gia cầm, lợn) khó có thể dùng biện pháp xét nghiệm để phát hiệnđộng vật mang trùng, cần định kỳ tiến hành các biện pháp điều trị dự phòng nhằm tiêudiệt mầm bệnh trong đàn

b Với động vật mang trùng là dã thú, côn trùng

Phải áp dụng mọi biện pháp để tiêu diệt hoặc ngăn chặn không cho chúng tiếp xúc với gia súc và gia cầm

- Biện pháp đối với các nhân tố trung gian truyền bệnh

Các biện pháp với các nhân tố trung gian nhằm làm cho chúng không mang mầm bệnh hoặc mầm bệnh bị tiêu diệt bằng cách tiêu độc thường xuyên

Đối tượng tiêu độc rất rộng rãi gồm chuồng trại, sân chơi, bãi chăn, dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển, súc sản phẩm (da, lông, xương, sừng, móng )các khu vực chế biến, lưu trữ nguyên liệu của gia súc, gia cầm, thức ăn, nước uống,thân thể gia súc và con người

a Biện pháp tiêu độc

- Trực tiếp tiêu diệt mầm bệnh: đó là các biện pháp tiêu độc vật lý (dùng ánh

sáng mặt trời, nhiệt độ) biện pháp tiêu độc hóa học (sử dụng chất sát trùng)

- Tạo điều kiện sống không thích hợp để chúng bị tiêu diệt, đó là biện pháp tiêu độc cơ giới, bao gồm việc thu dọn phân rác, chất độn chuồng, chôn, đốt thức ăn thừa, rửa, cọ, quét, nạo dụng cụ, tường, nền nhà, sân chơi, cống rãnh

b Các phương pháp tiêu độc cụ thể

- Tiêu độc chuồng trại: Cần tiêu độc cơ giới trước, tiêu độc hóa học sau Có

thể dùng các chất hóa học như sữa vôi 10 - 20%, clorua vôi 20%, formol 2 - 5%, NaOH(xút) 4 - 5%, cresol 3%, cresyl 3 - 5%, axit phenic 2 - 5%, dung dịch Long life,

virkon, antisep, iodin Các chất tiêu độc trên cơ thể dùng phun hoặc quét

- Tiêu độc phương tiện vận chuyển: Với các xe cơ giới, xe thô xơ để vận chuyển súc vật hoặc thức ăn, nguyên vật liệu dùng trong chăn nuôi, cần được thường xuyên lau, dọn, rửa sạch sẽ và phun thuốc tiêu độc khi ra vào cơ sở chăn nuôi, chế biến thức ăn Các chất sát trùng thường dùng là formol, cresol, Long life, antisep

Trang 21

- Tiêu độc nguồn nước: Với nguồn nước uống hoặc tắm rửa, sử dụng trong chăn nuôi cần sử dụng nguồn nước sạch: nước giếng khoan, sau khi lắng lọc, sử dụng khí clo để sát khuẩn rồi mới được sử dụng Với nguồn nước thải từ trại chăn nuôi, các xí nghiệp chế biến thú sản, xí nghiệp chế thuốc sinh vật, các nguồn nước

bị ô nhiễm, cần có thiết bị hoặc hệ thống lắng lọc rồi sử dụng khí clo, nước clo hoặc clorua vôi để tiêu độc

+ Tiêu độc đất: Đất có quá trình tự tiêu độc do chứa nhiều loại vi sinh vật đối kháng với mầm bệnh vì vậy người ta có thể lợi dụng bằng cách bỏ trống một thời gian không chăn thả Trong trường hợp đất bị ô nhiễm, cần sử dụng các hóa chất sau để phun, rắc, tưới như vôi bột, sữa vôi 20%, NaOH 5%, clorua vôi, axit

sunfuric 5%, axit phenic 5%

+ Tiêu độc lò ấp trứng: Lau, dọn vệ sinh hàng ngày; trước và sau khi ấp cần tiêu độc bằng cách xông hơi formol

+ Tiêu độc dụng cụ: Các dụng cụ dùng trong chăn nuôi phải được lau dọn thường xuyên Những dụng cụ rẻ tiền, mau hỏng (chổi, máng ăn bằng gỗ, rổ, sảo ) có thể đốt Những dụng cụ bằng kim loại, vải, đồ dùng chứa thức ăn, có thể sử dụng các biện pháp tiêu độc vật lý, hóa học sao cho phù hợp

+ Xử lý phân: Phân, rác độn chuồng có thể sử dụng phương pháp ủ nhiệt sinh vật

để tiêu độc; đánh phân thành đống rồi trát kín bên ngoài bằng bùn Ở các trang trại lớn cần xây dựng các bể biogas

+ Đối với nhân tố trung gian là sinh vật như côn trùng và chuột: Cần phải có biện pháp tiêu diệt hoặc ngăn chặn không cho tiếp xúc với gia súc và gia cầm Nguyên tắc chung để tiêu diệt côn trùng và chuột là:

- Dựa vào đặc tính sinh học của chúng để hạn chế sự sinh sản và tiêu diệt chúng ở các giai đoạn sinh trưởng Đó là việc thường xuyên giữ chuồng trại sạch

sẽ, đậy kín thức ăn, phát quang bụi rậm, tháo thoát các vũng nước đọng

- Sử dụng các biện pháp tiêu diệt thích hợp với từng loại côn trùng và chuột

- Biện pháp đối với động vật thụ cảm

Các biện pháp phòng bệnh đối với động vật thụ cảm nhằm làm tăng sức đề kháng không đặc hiệu và đặc hiệu của chúng đối với mầm bệnh, bao gồm:

a Vệ sinh phòng bệnh

Để tăng cường sức đề kháng không đặc hiệu cho động vật thụ cảm, cần vệ sinh ăn uống, vệ sinh thân thể, vệ sinh chuồng trại và nơi chăn thả, vệ sinh sinh sản, sử dụng và khai thác hợp lý Các biện pháp vệ sinh trên phải được xây dựng

Trang 22

thành quy trình, tiêu chuẩn kỹ thuật và phải được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc.

Thực hiện tốt khâu vệ sinh phòng bệnh có tác dụng một mặt chủ động tấn công mầm bệnh ở ngoại cảnh, mặt khác làm tăng sức chống đỡ của động vật thụ cảm do đó ngăn chặn được mầm bệnh không cho chúng xâm nhập vào cơ thể để gây bệnh

b Tiêm phòng

Tiêm phòng là một biện pháp chủ động, tích cực và rất quan trọng vì làm cho động vật thụ cảm tự sản sinh hoặc tiếp nhận các yếu tố miễn dịch đặc hiệu để chống đỡ có hiệu quả với mầm bệnh trong một thời gian nhất định

Thuốc dùng tiêm phòng gồm 2 loại: vacxin và kháng huyết thanh

- Tiêm phòng bằng vacxin:

Vacxin là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hoặc vật liệu di truyền như ARN, ADN ) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vacxin thế hệ mới - vacxin công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng; nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng

Vacxin là chế phẩm sinh học được con người tạo ra và đưa vào cơ thể động vật để gây miễn dịch, tập dượt cho cơ thể thực hiện quá trình đáp ứng miễn dịch chống lại tác nhân gây bệnh

Xuất phát từ phát hiện của Jener năm 1876 khi ông dùng virus đậu bò từ các nốt đậu của bò sữa đem chủng cho người để phòng bệnh đậu mùa có hiệu quả

Để ghi nhận sự kiện này, người ta đề nghị gọi các chế phẩm sinh học có

nguyên lý phòng bệnh như vậy với một tên gọi chung là vacxin (xuất phát từ từ vacca có nghĩa là con bò cái)

Danh pháp gồm 2 từ kép: từ đầu là vacxin, từ sau là tên bệnh Ví dụ: vacxin dịch tả lợn, vacxin tụ huyết trùng lợn

Hiện nay người ta chia vacxin làm 3 loại:

Trang 23

+ Vacxin vô hoạt (còn gọi là vacxin chết): là vacxin chế từ mầm bệnh đã bị giết chết bằng các tác nhân lý, hóa học nhưng trên bề mặt của chúng vẫn giữ

nguyên các protein còn hoạt tính sinh học của kháng nguyên nên vẫn giữ nguyên tính kích thích sinh miễn dịch

Trong vacxin vô hoạt, người ta thường cho thêm hóa chất để giữ cho kháng nguyên được ổn định và giúp cho kháng nguyên tồn tại lâu trong cơ thể, kéo dài thời gian miễn dịch Hóa chất này gọi là chất bổ trợ

Vacxin vô hoạt thường rất an toàn nhưng thời gian miễn dịch ngắn và hiệu lực kém

+ Vacxin nhược độc: vacxin chế bằng mầm bệnh đã được làm yếu, không cònkhả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng Khi tiêm vào cơ thể, mầm bệnh vẫn cònkhả năng thích ứng và nhân lên, cung cấp nguồn kháng nguyên lâu dài và kích thích sinh miễn dịch Loại vacxin này thường cho miễn dịch mạnh và ổn định, thời gian miễn dịch kéo dài, nhưng có loại có thể gây ra phản ứng và đòi hỏi phải cẩn trọng trong bảo quản cũng như sử dụng

+ Vacxin thế hệ mới (hay vacxin công nghệ gen): là các chế phẩm được dùng làm vacxin gây miễn dịch cho người và động vật được tạo ra và sản xuất thông quacác thao tác về kỹ thuật gen

Đây là một lĩnh vực nghiên cứu mới và hiện đại của sinh học phân tử Vacxin thế hệ mới có nhiều ưu điểm vượt trội so với các vacxin chế tạo bằng phương pháp thông thường về độ tinh khiết, khả năng gây miễn dịch Nó đã, đang và sẽ được sử dụng rộng rãi trong tương lai

- Tiêm bắp: áp dụng cho một số vacxin virus nhược độc (Newcastle) hoặc vacxin nhũ hóa (vacxin tụ huyết trùng nhũ hoá)

Trang 24

- Cho uống, nhỏ mắt, mũi, khí dung: Một số vacxin virus nhược độc có khả năng xâm nhập qua niêm mạc (vacxin Lasota).

+ Đối tượng sử dụng vacxin: Vacxin được sử dụng để phòng bệnh cho động vật trưởng thành, khoẻ mạnh Không nên dùng cho gia súc quá non, thận trọng với gia súc mang thai vì ở động vật mang thai trạng thái sinh lý có những thay đổi nên dùng vacxin dễ gây ra phản ứng mạnh có thể làm sảy thai Đặc biệt không nên dùng vacxin sống cho súc vật trong thai kỳ, nhất là các vacxin virus nhược độc.+ Liều dùng vacxin: Cần sử dụng vacxin đúng theo liều chỉ định đã ghi trên nhãncủa lọ thuốc Nếu tiêm thấp hơn liều quy định sẽ làm giảm quá trình đáp ứng miễn dịch; nếu tiêm quá liều sẽ gây tê liệt miễn dịch hoặc gây phản ứng

+ Bảo quản vacxin: Vacxin phải được bảo quản trong điều kiện quy định Đây

là điểm quan trọng đặc biệt quyết định chất lượng và hiệu lực của vacxin Các điềukiện bảo quản chủ yếu gồm:

- Để tủ lạnh hoặc phòng lạnh có nhiệt độ +40C: dùng bảo quản với các vacxin

vô hoạt và vacxin vi khuẩn nhược độc

- Để tủ lạnh âm: Có thể bảo quản các vacxin virus nhược độc ở dạng tươi hoặc đông khô đóng trong ampul

- Không được để vacxin ở chỗ nóng và có ánh sáng mặt trời vì như vậy

vacxin sẽ mất hiệu lực

+ Một số điều cần lưu ý khi sử dụng vacxin:

- Không được dùng vacxin đã quá hạn

- Phải kiểm tra lọ vacxin trước khi sử dụng như các chi tiết trên nhãn, trạng thái vật lý của lọ thuốc

- Khi pha vacxin phải có đầy đủ các dụng cụ: bơm tiêm, kim, lọ thuỷ tinh và nước cất vô trùng, dụng cụ sau khi tiệt trùng phải để nguội mới được dùng

- Sau khi tiêm vacxin, động vật có phản ứng do chất bổ trợ có trong vacxin đó

là hiện tượng viêm nhẹ tại cục bộ nơi tiêm Sau một thời gian phản ứng sẽ giảm Khi cần can thiệp có thể chườm nóng và tiêm cafein để phản ứng giảm nhanh hơn

- Tiêm phòng bằng kháng huyết thanh:

Kháng huyết thanh là chế phẩm sinh học dùng để chữa bệnh và phòng bệnh đặc hiệu Tiêm phòng kháng huyết thanh nhằm tạo ra cho động vật một trạng thái miễn dịch bị động nhân tạo

Trang 25

Kháng huyết thanh được chế tạo bằng cách dùng vi khuẩn hoặc virus gây tối miễn dịch cho các loài gia súc như bò, ngựa, lợn rồi lấy máu, chắt lấy huyết thanh,

Liều lượng kháng huyết thanh tiêm phòng bằng nửa liều điều trị Cần chú ý rằng việc sử dụng kháng huyết thanh cho động vật được tiến hành càng sớm càng tốt

c Kiểm dịch

Kiểm dịch là thực hiện những biện pháp kỹ thuật và hành chính khi xuất nhậpkhẩu, vận chuyển trong nước, vận chuyển quá cảnh các loại gia súc, gia cầm, thú sản và nhiều loài động vật khác nhằm ngăn ngừa dịch bệnh lây lan

Trong xu thế hoà nhập và giao lưu thế giới ngày càng rộng rãi, công tác kiểm dịch càng phải được thực hiện chặt chẽ Công tác kiểm dịch bao gồm:

- Kiểm dịch đối ngoại: nhằm ngăn chặn dịch ở nước ngoài vào và ở trong nước ra Công tác này được thực hiện ở các cửa khẩu trên bộ, sân bay, hải cảng Tất cả các loài động vật và thú sản xuất nhập đều phải được kiểm dịch và phải thựchiện đầy đủ các quy định của Nhà nước về nguyên tắc kiểm dịch

- Kiểm dịch nội địa: chủ yếu đối với gia súc, gia cầm vận chuyển từ tỉnh này sang tỉnh khác trong nước

Việc kiểm dịch bao gồm kiểm tra giấy kiểm dịch từ nơi xuất phát, giấy chứng nhận tiêm phòng, kiểm tra vệ sinh phương tiện vận chuyển

Khi phát hiện có dịch trong đàn gia súc, gia cầm đang vận chuyển phải đình chỉ ngay và thực hiện các biện pháp chống dịch cần thiết

d Kiểm soát vệ sinh thú y

Trang 26

Biện pháp này được thực hiện ở nơi tập trung gia súc (chợ, trạm thu mua, nơi triển lãm ), lò sát sinh, lò thuộc da, nơi chế biến thú sản Ở những nơi này, gia súc, gia cầm, thú sản thường xuyên được đưa đến, đưa đi, chính là điều kiện làm dịch lây lan nếu không thực hiện tốt việc kiểm soát vệ sinh thú y.

Ở chợ: cán bộ kiểm dịch phải kiểm tra giấy tờ, kiểm tra sức khoẻ của súc vật Khi phát hiện có dịch hoặc nghi có dịch phải cách ly ngay và thực hiện các biện pháp phòngchống

Ở lò sát sinh: phải khám sống trước khi mổ, khám thịt sau khi mổ

Ở các cơ sở chế biến thú sản phải kiểm soát nguồn thu mua, phương thức bảo quản, cách chế biến và tiêu thụ sản phẩm: thịt tươi, sữa tươi, các sản phẩm động vật khác chưa chế biến hoặc đã chế biến, khi bán ra thị trường cũng phải được kiểm soát

Kiểm soát vệ sinh thú y không những để phòng dịch ở gia súc, gia cầm mà còn góp phần tích cực bảo vệ sức khoẻ con người

e Quản lý tình hình dịch

Cán bộ thú y khi làm công tác phòng dịch trong một huyện hoặc một tỉnh cần phải thường xuyên nắm được tình hình dịch bệnh ở vùng đó để có cơ sở đề ra các biện pháp phòng ngừa cụ thể Muốn vậy phải điều tra dịch tễ trong vùng, từ đó xâydựng bản đồ dịch tễ của vùng Qua bản đồ dịch tễ, có thể nắm được chi tiết các loạibệnh truyền nhiễm thường xảy ra, mức độ dịch, vùng có dịch, mùa phát bệnh, tình hình gia súc ốm chết trong các vụ dịch, điều kiện chăn nuôi, công tác vệ sinh thú y,biện pháp tiêm phòng Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh dịch trong khu vực mình quản lý Đây là cơ sở giúp cho việc chỉ đạo phòng dịch được thực hiện chủ động và có hiệu quả

g Xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch

Vùng, cơ sở an toàn dịch là một vùng địa lý rộng hay hẹp, ở đó yêu cầu không

để xảy ra một hay nhiều bệnh truyền nhiễm của gia súc, gia cầm

Xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch là cơ sở để ngăn ngừa, khống chế tiến tới thanh toán bệnh dịch nào đó trong cả nước

Để xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch, phải thực hiện ở mức độ cao các công tác tiêm phòng, kiểm dịch, kiểm soát thú y và cải tiến về kỹ thuật chăn nuôi, trên cơ

sở tuyên truyền, giáo dục ý thức vệ sinh phòng bệnh trong nhân dân, xây dựng các biện pháp kỹ thuật thành chế độ, thành quy trình và tiêu chuẩn kỹ thuật

Trang 27

h Xây dựng mạng lưới thú y

Mọi biện pháp phòng, chống dịch chỉ có thể thực hiện có hiệu quả khi có một

hệ thống cán bộ thú y có tổ chức tốt, hoạt động chặt chẽ và một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại

Câu 13: Trình bày các biện pháp chống bệnh truyền nhiễm?

4.3 Các biện pháp chống bệnh truyền nhiễm

Các biện pháp chống bệnh truyền nhiễm được thực hiện tại ổ dịch thường nhằm mục đích tiêu diệt bệnh, đồng thời không cho ổ dịch lan rộng thành nhiều ổ dịch khác

Các biện pháp chống dịch bao gồm: phát hiện bệnh, tiêu diệt nguồn bệnh, làmsuy yếu hoặc tiêu diệt các nhân tố trung gian truyền bệnh và làm tăng sức đề khángcủa cơ thể gia súc Các biện pháp đó cần được thực hiện khẩn trương, cùng một lúcthì mới đạt được mục đích dập tắt dịch

4.* Khái niệm ổ dịch

Ổ dịch là phạm vi nguồn bệnh đang phát triển và khu vực xung quanh mầm bệnh có thể lan tới Trong ổ dịch phải có đủ ba yếu tố của quá trình sinh dịch: nguồn bệnh, nhân tố trung gian truyền bệnh và động vật thụ cảm

Gramasepxki định nghĩa: "Phàm nơi nào có nguồn bệnh và trong tình hình cụ thể bệnh truyền nhiễm phát sinh và gieo rắc mầm bệnh ra ngoại cảnh và sinh vật xung quanh thì đó gọi là ổ dịch"

Ổ dịch cũ là khu vực trong đó hiện thời không có nguồn bệnh dưới dạng con vật ốm, nhưng mầm bệnh vẫn có thể tồn tại ở ngoại cảnh hoặc trong những sinh vật mang trùng (vì mầm bệnh chưa bị tiêu diệt nên dịch có thể xảy ra)

Ổ dịch rộng hay hẹp là tuỳ theo tính chất từng bệnh và những yếu tố thiên nhiên và xã hội của vùng đó

Trong một ổ dịch có thể có một hay nhiều gia súc ốm Gia súc ốm đóng vai trò trung tâm của ổ dịch, vì bản thân chúng là nguồn bệnh, đồng thời báo hiệu sự

có mặt của một nguồn bệnh tiềm tàng khác Vì vậy, biện pháp tiêu diệt ổ dịch thường nhằm đối tượng chủ yếu là con vật ốm và phải bắt đầu thực hiện đối với con vật ốm

Trang 28

Ngoài con ốm ra, trong ổ dịch còn có những con tiếp xúc với con ốm và môi trường xung quanh, thường gọi là con nghi lây Những con này có thể là con khoẻ mang trùng, những con đã nhiễm bệnh và đang nung bệnh hoặc những con mang sinh vật môi giới chứa mầm bệnh hoặc mang mầm bệnh trên thân thể Vì vậy, những con nghi lây là đối tượng thứ hai cần phải tác động tại ổ dịch, vì chúng thường xuyên là nguyên nhân làm cho dịch lan rộng.

Yếu tố làm cho dịch lan rộng từ một ổ dịch thành nhiều ổ thường là con ốm

và những con nghi lây, nhưng nguy hiểm nhất là những con nghi lây vì chúng thường không được chú ý tới, thậm chí có thể đi lại tự do từ chỗ này sang chỗ khác Vai trò của nhân tố trung gian truyền bệnh và ngoại cảnh thường chỉ phát huy trong một ổ dịch Từ ổ dịch này truyền sang ổ dịch khác vai trò chủ yếu là ở con ốm và con nghi lây

Tóm lại, biện pháp tiêu diệt một ổ dịch bao gồm nhiều biện pháp đối với nguồn bệnh (con ốm và con nghi lây) và biện pháp đối với các nhân tố trung gian

4.* Biện pháp đối với nguồn bệnh

a Đối với con ốm

Phải phát hiện sớm, khai báo nhanh, cách ly kịp thời và điều trị triệt để

+ Phát hiện bệnh sớm: Dùng mọi biện pháp chẩn đoán để phát hiện bệnh

đúng và sớm Nếu chẩn đoán còn nghi ngờ, chưa có điều kiện xác định bệnh chắc chắn thì cũng phải có kết luận sơ bộ chẩn đoán và có biện pháp đề phòng bệnh lây lan

Nguyên tắc: Một con vật ốm chưa rõ nguyên nhân phải nghi là mắc bệnh truyền nhiễm và phải cách ly ngay Thà chẩn đoán nhầm một bệnh không truyền nhiễm là bệnh truyền nhiễm còn hơn là nhầm một bệnh truyền nhiễm với bệnh không truyền nhiễm

Tuy nhiên, phải dùng mọi biện pháp chẩn đoán đúng bệnh thì mới đề ra biện pháp chống dịch có hiệu quả Phải sử dụng nhiều phương pháp chẩn đoán: lâm sàng, dịch tễ học và chẩn đoán trong phòng thí nghiệm

- Chẩn đoán lâm sàng: dựa vào triệu chứng để xác định bệnh Phương pháp chẩn đoán này dễ nhầm lẫn vì nhiều bệnh khác nhau có thể có triệu chứng lâm sàng giống nhau hay khi ở đầu vụ dịch triệu chứng bệnh thường không điển hình

Trang 29

- Chẩn đoán dịch tễ học: tìm hiểu nguyên nhân và điều kiện xuất hiện dịch Cần phải điều tra kỹ để tìm nguồn bệnh, đường lây lan, gia súc mắc bệnh trong hoàn cảnh nào, trước đó đã tiếp xúc với những loại gia súc nào, chăn dắt ở đâu, đã

đi qua những địa phương nào có dịch, điều kiện vệ sinh gia súc ra sao, đã tiêm phòng chưa, tiêm vacxin gì, tình hình dịch trước đây ở vùng có gia súc ốm Ngoài

ra, phải tìm hiểu những con vật có tiếp xúc với con ốm

Điều tra dịch tễ học kết hợp với triệu chứng lâm sàng có thể giúp chẩn đoán bệnh, nhưng có khi chưa chắc chắn nên còn phải dùng phương pháp chẩn đoán trong phòng thí nghiệm

- Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm: tiến hành theo hướng của hai phương pháp chẩn đoán nói trên nhưng bằng nhiều phương pháp kết hợp khác (vi khuẩn học, virus học, huyết thanh học)

Bệnh phẩm lấy từ gia súc ốm, nghi ốm hoặc gia súc chết phải phù hợp với yêucầu xác định bệnh Cách lấy bệnh phẩm, cách bao gói và gửi bệnh phẩm phải theo đúng yêu cầu kỹ thuật để bảo đảm không gieo rắc mầm bệnh ra ngoài, bảo đảm an toàn cho người và bảo đảm chẩn đoán chính xác Bệnh phẩm phải được gửi đến phòng xét nghiệm càng nhanh càng tốt

Để xác định một số bệnh truyền nhiễm, cần tiến hành kết hợp các phương pháp chẩn đoán trên

+ Cách ly kịp thời: Sau khi phát hiện có con ốm hoặc con nghi ốm phải cách

ly ngay Những con nghi mắc bệnh phải nhốt riêng từng con để tránh lây lan, vì

có thể có con không mắc bệnh hoặc mắc những bệnh khác Gia súc được cách ly

ở nơi chữa bệnh hoặc nhà cách ly riêng

Các cơ sở chăn nuôi tập thể phải có nhà cách ly Nhà cách ly phải có cống rãnh tiêu độc và xa chuồng gia súc và nhà ở ít nhất 50m

Phải cử người chăm sóc riêng gia súc cách ly Họ phải có quần áo và những phương tiện bảo hộ cần thiết, có tinh thần trách nhiệm và ý thức vệ sinh phòng bệnh cao Khi cho ăn uống hoặc quét dọn chuồng phải giữ gìn cẩn thận tránh bệnh

có thể lây sang gia súc khác và người Phải cấm người ra vào chuồng cách ly trừ những người chăm sóc và chữa bệnh Trước cửa ra vào phải có hố vôi tiêu độc.Khai báo dịch khẩn cấp: mọi người đều có nhiệm vụ và có trách nhiệm khai báo dịch bằng mọi phương tiện nhanh chóng nhất với cấp chính quyền

Trang 30

Khi được tin ở địa phương có dịch hoặc nghi có dịch, Uỷ ban nhân dân

(UBND) xã phải báo cáo ngay cho UBND huyện biết Uỷ ban nhân dân huyện phải

cử ngay cán bộ thú y về tận nơi kiểm tra xác minh và quyết định các biện pháp cần thiết để bao vây dập tắt dịch đồng thời phải báo cáo cho UBND thành phố trực thuộc Trung ương, tỉnh và sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn biết

Khi gặp trường hợp có dịch hoặc nghi có dịch tuy chưa biết chính xác là bệnh gì,chính quyền địa phương vẫn phải áp dụng ngay những biện pháp đầu tiên như cách ly con ốm tạm thời, cấm vận chuyển, cấm bán chạy, cấm mổ thịt, tiêu độc để hạn chế lâylan

Pháp lệnh thú y (2004) quy định cụ thể về trách nhiệm xử lý dịch bệnh động vật, thẩm quyền và điều kiện công bố dịch bệnh động vật, tổ chức phòng chống dịch trong vùng có dịch, vùng bị dịch uy hiếp và vùng đệm

- Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn quyết định công bố dịch khi dịch bệnh xảy ra tại hai tỉnh trở lên, căn cứ vào mức độ, quy mô, tính chất nguyhiểm của dịch bệnh nằm trong danh mục các bệnh phải công bố dịch

- Thủ tướng Chính phủ công bố dịch khi có dịch truyền nhiễm nguy hiểm của động vật có khả năng lây lan sang người theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn

+ Công bố hết dịch:

Người ra quyết định công bố dịch có thẩm quyền công bố hết dịch khi có đủ các điều kiện: (1) Đã tiêm phòng hoặc áp dụng các biện pháp phòng bệnh bắt buộc khác cho động vật dễ nhiễm bệnh dịch trong vùng có dịch, vùng bị dịch uy hiếp; (2) Trong thời hạn quy định đối với từng bệnh, kể từ ngày con vật mắc bệnh hoặc đàn thủy sản nuôi cuối cùng bị chết, xử lý bắt buộc hoặc lành bệnh mà không có con vật hoặc đàn

Trang 31

thủy sản nuôi nào bị mắc bệnh hoặc chết vì bệnh dịch đã công bố; (3) Đã thực hiện các biện pháp vệ sinh, khử trùng tiêu độc bảo đảm vệ sinh thú y đối với vùng có dịch, vùng bị dịch uy hiếp.

+ Điều trị triệt để: Phải điều trị triệt để những con ốm cho đến khi lành bệnh

và không trở thành con vật mang trùng Nếu thấy khả năng điều trị không khỏi thì phải xử lý ngay Cách xử lý tuỳ theo loại bệnh: có thể giết chết đem chôn hoặc chế biến thành thực phẩm Khi xử lý phải chú ý tránh làm lây lan bệnh

b Đối với con nghi lây

Phải điều tra để phát hiện những con tiếp xúc do nuôi chung, chăn dắt chung hoặc tiếp xúc với sinh vật môi giới và ngoại cảnh chứa mầm bệnh Trên nguyên tắc, mọi súc vật có thể nhiễm bệnh trong một ổ dịch phải được coi là con nghi lây,

vì chúng không tiếp xúc với con ốm thì chúng cũng tiếp xúc với ngoại cảnh chứa mầm bệnh

Những loại súc vật trên phải được cách ly trong thời gian nung bệnh dài nhất Phải khám nghiệm lâm sàng, xét nghiệm, tiêm thuốc khẩn cấp hoặc điều trị dự phòng, tiến hành tiêu độc chuồng trại nuôi nhốt chúng

4.* Biện pháp đối với nhân tố trung gian

Các biện pháp quan trọng đối với nhân tố trung gian truyền bệnh là tiêu độc, tiêu diệt côn trùng, chuột và các biện pháp ngăn cản các nhân tố đó lan rộng

Gia súc, gia cầm dễ nhiễm với bệnh đã công bố dịch thì nhất thiết không đượcthu mua, không đem bán, không đưa vào đưa ra ổ dịch hoặc đi qua ổ dịch Xe cộ, người, gia súc khi cần thiết phải đi xuyên qua ổ dịch thì phải tiêu độc Các loại gia súc không nhiễm bệnh khi đưa ra ngoài phải được tiêu độc Chuồng trại phải niêm yết, chỉ được mở cửa khi cho ăn hoặc điều trị Cấm mổ thịt bừa bãi Súc vật ốm và súc vật chết phải có biện pháp xử lý thích đáng Ở các trại chăn nuôi tập trung cần

có nơi chế biến xác chết (trừ bệnh nhiệt thán) Nếu không có điều kiện chế biến thì phải chôn sâu giữa hai lớp vôi, chôn xa nguồn nước, bãi chăn, mạch nước ngầm, chuồng gia súc và nhà ở Trường hợp bị bệnh nhiệt thán, nhất thiết phải đốt xác, nếu không có nguyên liệu đốt thì phải chôn sâu 2m, trên và dưới xác đổ vôi cục chưa tôi, mả súc vật phải rào lại, cắm biển ghi tên bệnh Khi chuyển xác chết đến nơi chôn tránh làm rơi phân, các chất bài tiết của con vật Dụng cụ vận chuyển, người vận chuyển phải được tiêu độc, sát trùng sau khi chôn xác

Trang 32

Chuồng trại phải quét vôi, nền chuồng chèm lửa, phân rác phải thu dọn tập trung

và tiêu độc Thức ăn thừa phải đốt hoặc chôn, cống rãnh phải khơi thông và tiêu độc Nguồn nước rửa, giếng nước nhiễm bẩn phải tiêu độc Tóm lại phải tiêu độc toàn bộ trong ổ dịch

4.* Biện pháp đối với gia súc thụ cảm

a Quản lý đàn gia súc, gia cầm

Trong ổ dịch cần kiểm kê để nắm được số đầu gia súc, gia cầm Qua kiểm kê tiến hành phân loại sức khoẻ, nhất là những gia súc có thể mắc bệnh, nhờ đó mà phát hiện được con ốm hoặc con nghi lây Đàn gia súc phải được quản lý chắc chắn để tránh tình trạng lạm sát hoặc bán chạy Trong khi kiểm kê tránh tập trung đàn gia súc

để tránh lây lan bệnh

b Tiêm vacxin

Phải tiêm chống dịch trong ổ dịch và các vùng xung quanh Xung quanh ổ dịch là khu vực bị uy hiếp Ngoài khu vực bị uy hiếp là khu vực an toàn, mầm bệnh khó có điều kiện lan tới trong thời gian trước mắt

Ở cả ba khu vực đó đều tiêm vacxin cho gia súc còn khoẻ để tạo ngay một vành đai miễn dịch ngăn chặn dịch lây lan Phương pháp tiêm như vậy, nhất là đối với các vacxin nhược độc - vừa giúp phát hiện nhanh con nung bệnh, vừa dập tắt dịch trong thời gian ngắn Đối với những con nghi lây trong ổ dịch có thể tiêm huyết thanh cùng một lúc với vacxin để tạo miễn dịch nhanh chóng nhưng phải tiêm ở hai nơi khác nhau và chỉ áp dụng đối với vacxin chết Đối với gia súc khác loài nhưng có thụ cảm với bệnh cũng cần tiêm vacxin

c Chữa bệnh truyền nhiễm

Chữa bệnh truyền nhiễm là một biện pháp tích cực vì có tác dụng bao vây tiêudiệt nguồn bệnh (mỗi súc vật ốm được coi là một nguồn bệnh) đồng thời làm con vật hồi phục nhanh chóng và hoàn toàn không trở thành con vật mang trùng, hạn chế được dịch lây lan Chữa bệnh vừa có tác dụng chống vừa có tác dụng phòng Chữa bệnh kịp thời là một yêu cầu cấp bách của sản xuất, làm giảm thiệt hại về kinh tế

 Nguyên tắc chữa bệnh

- Toàn diện: Phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, dùng

thuốc

Trang 33

- Chữa sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan.

- Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng

- Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể: có làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền Một số thuốc tuy tiêu diệt được mầm bệnh nhưng ít nhiều có hại cho cơ thể nên ta phải chú ý ảnh hưởng của thuốc đến cơ thể

- Phải có quan điểm kinh tế khi chữa bệnh Chỉ nên chữa những gia súc có thểchữa lành mà không giảm sức cày kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa

- Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa đặc hiệu thì không nên chữa

 Các phương pháp chữa bệnh

+ Hộ lý: là một nhiệm vụ chữa bệnh rất quan trọng, vì tạo điều kiện cho bệnh

chóng khỏi, hạn chế biến chứng, hạn chế lây lan Nội dung hộ lý gồm:

- Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh)

- Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu Phát hiện sớm nhữngbiến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó

- Cho ăn uống tốt và thích hợp với tính chất bệnh Khi cần giúp cho gia súc ăn, trở mình

+ Dùng kháng huyết thanh: chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường

được dùng trong ổ dịch, chữa cho súc vật đã mắc bệnh

Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh: là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn

bị sẵn, có tác dụng trung hoà mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố) Ngoài ra, trong huyết thanh còn có chứa phức hợp muối khoáng - protit là thành phần không đặc hiệu có tác dụng kích thích và tăng cường sức đề kháng cơ thể

+ Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa

dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh

Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loại vi khuẩn

có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất

Trang 34

quen thuốc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác có tác dụng tốt hơn.

Hoá dược có thể đưa vào cơ thể bằng nhiều đường: dưới da, tiêm tĩnh mạch, bắp thịt; có thể cho uống hoặc đưa thẳng vào ruột Trong thú y thường tiêm thuốc dưới da hoặc tĩnh mạch Tiêm dưới da khi thuốc không kích thích tế bào dưới da, không gây phù, áp xe, hoại tử, không gây phản ứng dưới da Chỉ tiêm tĩnh mạch khi không còn đường tiêm nào tốt hơn, hoặc khi cần thuốc lan nhanh trong cơ thể

và khi mầm bệnh nằm trong máu

+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn

cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh

có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng, do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn nội độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể (do làm giảm số lượng kháng nguyên phòng bệnh và do kháng sinh có thể tiêu diệt cả các vi khuẩn có ích cho cơ thể) Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:

- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc Dùng sai thuốc sẽ không chữa khỏi bệnh mà còn làm cho việc chẩn đoán bệnh (tìm mầm bệnh) về sau gặp khó khăn

- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng

- Không nên vội vàng thay kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh

- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị

và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc

- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, tiêm nước sinh lý

Câu 14: Trình bày căn bệnh gây bệnh dại?

Trang 35

Virus dại có cấu trúc nhân là ARN sợi đơn, có 5 loại protein là I, G, N, M1 và

M2, trong đó protein G ở trên bề mặt có thể chia thành G1 và G2 có vai trò chính trong tính gây bệnh của virus

Những chủng virus dại phân lập từ bệnh phẩm tự nhiên gọi là "virus dại đường phố" (street virus): đây là chủng virus dại cường độc có khả năng gây bệnh cho người và động vật (thời gian nung bệnh ở thỏ là 17 ngày, ở người là 40 ngày) Nếu đem virus này tiêm truyền nhiều lần qua thỏ, sau mỗi lần tiêm truyền, thời gian ủ bệnh rút ngắn lại (chỉ còn 3 - 5 ngày), khi tiêm cho người và động vật sẽ không mắc bệnh mà tạo được miễn dịch, được gọi là chủng virus dại cố định "fixedvirus"

* Tính chất nuôi cấy

Virus dại phát triển trong tế bào thần kinh của tất cả các loài động vật máu nóng và một số động vật máu lạnh Thỏ là động vật đầu tiên được dùng để tiêm truyền bệnh dại, đến nay chuột sơ sinh được coi là động vật mẫn cảm nhất và được dùng để chẩn đoán bệnh

Virus có thể nhân lên khi nuôi cấy trên phôi gà, phôi vịt, một số tế bào loại tế bào dòng, đặc biệt là tế bào Vero (African green monkey kidney), tế bào BHK - 21(baby hamster kidney) và tế bào lưỡng bội của người

* Sức đề kháng

Virus dại có sức đề kháng yếu với điều kiện ngoại cảnh Ở nhiệt độ 56°C, virus bị diệt sau 30 phút; nhiệt độ 70°C, virus bị chết ngay Các chất sát trùng như formol 1%, cresol 3% và betapropiolactone 0,1% đều có khả năng diệt virus

Tuy nhiên, virus có thể nằm trong não động vật bị bệnh dại 10 ngày ở nhiệt

độ phòng vài tuần ở 4°C và 3 - 4 năm ở nhiệt độ âm

Nếu lấy não động vật mắc bệnh dại cho vào dung dịch phenol 0,5% có thể bảo quản virus từ 1 - 2 tuần; điều này cho phép gửi bệnh phẩm đi chẩn đoán tránh bị thối rữa

Trang 36

Câu 15: Trình bày dịch tễ học bệnh dại?

DỊCH TỄ HỌC

* Loài vật mắc bệnh

Trong thiên nhiên, mọi động vật máu nóng đều mắc bệnh, nhất là chó, chó sói, cáo, mèo Người cũng rất mẫn cảm với bệnh Động vật nuôi khác dễ bị nhiễm bệnhdại bao gồm trâu, bò, ngựa, lợn, lạc đà, khỉ

Con vật mắc bệnh ở mọi lứa tuổi

Trong phòng thí nghiệm, dùng nước bọt động vật mắc bệnh dại (hoặc chất nghiền não) có thể gây bệnh cho hầu hết động vật có vú Cách gây bệnh chắc chắn nhất là tiêm vào bên trong màng cứng của não, tủy sống vào hốc mắt và tiêm bắp Tiêm dưới da hầu như không gây bệnh cho chó, chỉ gây bệnh cho 75% thỏ Nếu cùng làm tổn thương cơ và dây thần kinh, bôi xoa hỗn dịch virus lên vết thương trên

da việc gây bệnh thực nghiệm chỉ đạt 50% ở thỏ và chó

Đối với dơi, thời gian xác định có virus trong nước bọt là 135 ngày trước khi con vật phát bệnh lâm sàng Đây là một loại động vật nguy hiểm vì chúng có thể dichuyển xa hàng trăm kilomet

Mắt, nhất là giác mạc thường có virus Nước tiểu, gan, lách, tuyến thượng thận,phổi có thể chứa virus nhưng không thường xuyên

* Phương thức truyền lây

Phần lớn các trường hợp bệnh dại phát ra sau khi bị động vật mắc bệnh dại cắn, một số trường hợp hãn hữu là do virus rơi vào niêm mạc hoặc vết thương hở

Trang 37

Chú ý: Động vật bị động vật khác mắc dại cắn có khả năng phát bệnh dại 30

-40% Điều đó có nghĩa là không phải 100% động vật bị cắn bởi con vật mắc bệnh dại sẽ phát bệnh Nguyên nhân có thể giải thích như sau:

- Sự phát bệnh tùy thuộc vào vết cắn, nếu vết cắn sâu, rộng thì khả năng phát bệnh dại lớn Chó và chó sói mắc bệnh dại cắn sâu và rộng hơn các động vật khác, mèo thường cắn vết nhỏ nhưng sâu hơn các động vật khác Do vậy, khi bị các độngvật này cắn thì khả năng phát dại cao

- Nếu vết thương chảy máu có thể coi đó là quá trình tự rửa, đẩy virus trôi ra ngoài: con vật bị cắn ít có khả năng phát dại

- Người hay vật bị cắn có lớp bao phủ (quần áo dày ở người, lông dày ở cừu ) sẽ thấm nước bọt, làm giảm đi lượng virus vào vết thương

- Người bị chó dại cắn nếu ngay lập tức tẩy rửa và bôi thuốc sát trùng sẽ giảm khả năng phát dại

- Virus sau khi vào cơ thể bị cơ thể chống lại bằng các phản ứng không đặc hiệu

- Một số trường hợp (động vật và người) sau khi virus vào cơ thể sẽ nằm tiềm

ẩn trong đó rất lâu, đến khi cơ thể yếu đi, do các tác nhân độc hoặc stress sẽ phát bệnh Điều này giải thích kỷ lục ủ bệnh ở người là 7 năm sau khi bị chó dại cắn mới phát bệnh

* Cơ chế sinh bệnh

Khi vào cơ thể qua vết cắn, virus tồn tại ở đó một thời gian (vài giờ hoặc vài ngày) rồi vào tế bào thần kinh ngoại biên và di chuyển hướng tâm đến hạch tủy sống, não bộ Người ta tính được tốc độ di chuyển của virus trong dây thần kinh là 0,5 - 1mm/giờ Tại não bộ, virus lại theo dây thần kinh di chuyển đến các nơi khác (ví dụ như tuyến nước bọt ), lúc này người ta gọi virus di chuyển theo hướng li tâm

- Thời kỳ đầu, virus mới nhân lên ở não bộ, phá hủy một lượng ít nơron thần kinh nên con vật chưa có biểu hiện bệnh dại

- Giai đoạn sau, virus nhân lên, phá hủy các tế bào thần kinh, con vật xuất hiện triệu chứng thần kinh: điên cuồng, lồng lộn, cắn xé, rối loạn tâm lý

- Sau đó, các nơron bị phá hủy nghiêm trọng, con vật bị bại liệt rồi chết Phần lớn chết do liệt thần kinh hô hấp

Trang 38

Câu 16: Trình bày triệu chứng bệnh dại ở chó?

* Bệnh dại ở chó

Bệnh dại có hai thể: thể dại điên cuồng và thể dại bại liệt (hay thể dại câm)

- Thể dại điên cuồng

Chiếm từ 15 - 20% chó bị dại (ở các nước nhiệt đới, tỷ lệ này cao hơn: 70%) Biểu hiện lâm sàng của chó chia làm 3 thời kỳ:

a Thời kỳ mở đầu

Thời kỳ này rất khó phát hiện Chó có các biểu hiện khác thường, chủ yếu thay đổi về tính nết như: trốn vào một góc kín (sau tủ, gầm giường, chỗ tối ), khi chủ gọi chạy đến một cách miễn cưỡng; hoặc biểu hiện vui mừng hơn bình thường (liếm chân tay chủ, vẫy đuôi nhanh hơn )

Thỉnh thoảng cắn sủa vu vơ lên không khí hoặc cắn lên không khí (đớp ruồi),

vẻ bồn chồn

b Thời kỳ kích thích

Biểu hiện chính của thời kỳ này là các phản xạ thông thường của chó bị kíchthích mạnh:

- Đang ngồi dưới đất bỗng đứng dậy, nhảy lên

- Chủ gọi, lao ngay đến liếm chân, liếm tay chủ

- Thấy người lạ xông ra cắn sủa dữ dội

- Chó có phản ứng quá mức đối với tiếng động và ánh sáng: tiếng động nhẹ, bật đèn lao đến cắn sủa dữ dội

- Nơi bị cắn ngứa, chó thường liếm, cắn, cọ sát vào chỗ này, nhiều khi rụng hết lông, chảy máu

- Thỉnh thoảng con ngươi mắt mở to (đây là triệu chứng quan trọng để kết luận bệnh dại) Chó ngồi đờ đẫn, khi có kích thích bên cạnh thì giật mình

Trang 39

- Chó bỏ ăn, nuốt khó khăn, phải vươn cổ ra để nuốt, cắn các vật lạ; khát nước, uống liên tục nhưng chỉ uống được rất ít.

- Chó bắt đầu chảy nước dãi, sùi bọt mép

Sau khi phát bệnh 2 - 3 ngày:

- Bộ mặt chó dại đặc trưng: mắt đỏ ngầu, hai tai dựng ngược, mồm há hốc ra, hàm dưới trễ hẳn xuống, nước dãi chảy thành dòng, bụng thóp lại

- Tiếng sủa đặc trưng: dây thần kinh họng bắt đầu bị liệt, chó phát ra tiếng hú nghe như thiếu hơi, xa xôi

- Nếu chó không bị nhốt giữ sẽ bỏ nhà ra đi, thường không bao giờ quay về nữa Trong trường hợp có xích buộc, chó tìm mọi cách cắn cào giựt xích để đi Saukhi bỏ nhà, chó lang thang ngoài đường, không chạy thẳng mà chạy theo hình chữ chi Nếu gặp chó khác, nó không sủa, không phát ra riếng kêu mà xông vào cắn, nhất là tìm cách cắn vào đầu (khác chó cắn trộm, xông vào cắn phía sau) Khi chó lành bỏ chạy thì nó không đuổi theo, ngược lại sẽ thấy hai chó cắn nhau, một con

bị dại cắn điên cuồng nhưng không kêu, trong khi đó chó lành bị tấn công thì gầm

gừ sủa, kêu la

Nếu gặp người, chó dại thường chạy trốn, ít khi tấn công trừ khi bị đe dọa

- Khi lên cơn, chó cắn cả vật bất động cho đến khi gãy cả răng, chảy máu miệng Cần chú ý là trong khi cắn như vậy chúng không hề phát ra tiếng kêu Các cơn dại thường xen kẽ với cơn trầm uất, chó ngồi lặng lẽ, nét mặt đờ dại trông vẻ

sợ sệt

c Thời kỳ bại liệt

Con vật bị liệt mặt, không ăn và nuốt được, nước bọt chảy ra nhiều, hàm dưới trễ hẳn xuống; sau đó liệt các cơ vận động và chết do liệt hô hấp hoặc vì kiệt sức

do sự vận động của cơn dại và không ăn uống gì

- Thể dại bại liệt

Hay còn gọi là thể dại lặng Con vật không có các biểu hiện lên cơn cuồng nộ,còn lại các biểu hiện khác tương tự như đã trình bày

Do con vật không cắn, không sủa nên còn gọi là dại câm Chó con thường bị bệnh dại ở thể lặng, nhiều người cho rằng chó con ốm "sài đẹn" mà chết Do khôngthấy lên cơn điên cuồng nên dù bị cắn cũng không nghi là bệnh dại

Trang 40

Sau khi lên cơn dại, đa số trường hợp bệnh kéo dài 5 - 7 ngày, có khi hãn hữu chỉ 2 ngày hoặc có trường hợp 14 ngày Một số trường hợp chó bị bệnh có thể khỏi(5 - 6%), virus có thể tồn tại trong cơ thể sau đó một thời gian dài.

* Bệnh dại ở mèo

Mèo ít bị dại hơn chó Khi bị bệnh thường buồn bã, tìm chỗ kín đáo để nằm, hoặc kêu luôn mồm, bứt rứt, nếu sờ vào lập tức bị nó cắn Sau đó, bệnh nhanh chóng chuyển sang thể bại liệt và chết Bệnh ở mèo rất nguy hiểm vì mèo thường gần gũi với người, khi cắn vết thương sâu

* Bệnh ở trâu bò

Trâu bò thường hung dữ, đứng không yên, mắt nhìn trừng trừng, húc vào bất

cứ vật gì hoặc người lại gần; sau đó chuyển sang thể bại liệt và chết

Bệnh thường do chó dại cắn truyền sang

* Bệnh dại ở người

Người lúc đầu thấy mệt mỏi, chán ăn, nhức đầu, sốt và đau cơ, ngứa và đau ở vết cắn mặc dù đã lành Bệnh nhân cảm thấy hồi hộp, lo lắng, dễ bị kích thích, mất ngủ, bứt rứt Bệnh cũng xảy ra ở hai thể:

- Dại điên cuồng: chiếm 70 - 80% trường hợp bệnh dại Bệnh nhân có biểu

hiện rối loạn ý thức, sợ gió, sợ nước; người bệnh có hành vi kỳ quái, vùng vẫy cắn

xé từng lúc và rú lên như chó sủa, khạc nhổ lung tung do tăng tiết nước bọt nhưng khó nuốt Giữa hai cơn, bệnh nhân vẫn tỉnh táo, hợp tác tốt Cuối cùng, bệnh nhân

sẽ rơi vào tình trạng lú lẫn, ngừng tim, ngừng thở đột ngột và tử vong

- Thể bại liệt: gặp ở 20% số bệnh nhân bị dại, thường thấy dị cảm ở vết cắn,

đau cột sống Liệt thường khởi phát đầu tiên tại chi bị cắn và dần lan sang tất cả các chi, hầu họng, cơ mặt và cơ hô hấp gây sặc và chết

Trong cả hai thể trên, tử vong là không thể tránh khỏi trong vòng từ 2 - 12 ngày sau khi khởi phát triệu chứng

Câu 17: Trình bày căn bệnh gây bệnh Nhiệt thán?

CĂN BỆNH

Bệnh nhiệt thán do vi khuẩn Bacillus anthracis gây nên

* Hình thái

Ngày đăng: 25/07/2022, 14:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w