1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của các trường đại học tư vì lợi nhuận tại mỹ (bản dịch)

9 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 67,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người học là những người trưởng thành đã đi làm và học bán thời gian không chỉ là đối tượng trọng tâm của các trường này, mà được xem là một nguồn khách hàng tiềm năng khổng lồ vốn bị cá

Trang 1

Too Big To Fail: The Role of

For-Profit Colleges and Universities in

American Higher Education

by William G Tierney

Although for-profit colleges and universities

have had a long history in the United States,

they have garnered significant attention only in

the last decade In the early 20th century, career

colleges existed primarily in urban areas to

provide training for specific trades or

professions—plumbing, restaurant management,

art and design, cosmetology, paralegal work,

and the like These institutions were largely

small institutions that offered a few classes in

rented buildings They charged relatively low

fees to their customers, who in turn learned

specific skills that led directly to jobs

Even in the 1960s, career colleges were still a

microscopic part of the higher education

universe In 1967 approximately seven million

students attended degree-granting institutions in

the United States, and fewer than 22,000 of

these students, or less than one-third of 1

percent, attended for-profit institutions Indeed,

the term “for-profit college” was not generally

employed; instead they were called “career” and

“technical” colleges For the next few decades,

these institutions remained privately owned and

largely operated below higher education's radar

screen They were mostly unaccredited, seeking

neither federal nor state financing

The situation began to change with the founding

of the University of Phoenix in 1976—now

America's second largest postsecondary

institution, with over 400,000 students Today,

the mom-and-pop career shops of a half century

ago still exist, but they are swamped by Phoenix

and other publicly traded entities1 such as

Corinthian Colleges Inc and DeVry University,

with over 80,000 students each

This history is captured in the development of

one of the more well-known early career

Quá lớn nên không thể thất bại: Vai trò của các trường đại học vì lợi nhuận tại Mỹ3

William G Tierney

Mặc dù các trường đại học và cao đẳng vì lợi nhuận ở Mỹ đã có một lịch sử lâu dài, chúng chỉ mới bắt đầu được nhiều người chú ý từ thập niên trước Trong những năm đầu thế kỷ 20, các trường cao đẳng nghề tồn tại chủ yếu ở khu vực

đô thị để đào tạo những ngành nghề cụ thể, như thợ sửa ống nước, quản lý nhà hàng, nghệ thuật

và thiết kế, thẩm mỹ, hỗ trợ pháp lý, và những ngành nghề tương tự Các trường này phần lớn

là trường nhỏ chỉ có vài lớp học trong các tòa nhà được thuê mướn Học phí tại các trường này tương đối thấp và người học đến đây để học những kỹ năng cụ thể nhằm kiếm việc làm

Ngay trong thập niên 1960, các trường cao đẳng nghề vẫn chỉ là một phần nhỏ trong nền giáo dục đại học Mỹ Năm 1967 có khoảng 7 triệu người họctại các trường đại học và cao đẳng ở Mỹ, và trong số này chỉ có gần 22.000 người học tại các trường vì lợi nhuận, tức chưa đến 0.3% Thật ra, thuật ngữ “đại học/cao đẳng vì lợi nhuận" khi ấy vẫn chưa được sử dụng; thay vào đó chúng được gọi là trường cao đẳng nghề hoặc cao đẳng kỹ thuật Trong vài thập niên sau đó, các trường này vẫn thuộc sở hữu tư nhân và ít bị dư luận săm soi Đa số các trường này không được kiểm định, và cũng chẳng tìm kiếm sự tài trợ của liên bang hoặc tiểu bang

Tình hình bắt đầu thay đổi với sự ra đời của Đại học Phoenix vào năm 1976, hiện nay là cơ sở giáo dục sau trung học lớn thứ hai của Mỹ, với hơn 400.000 sinh viên Ngày nay, các trường cao đẳng nghề nhỏ theo kiểu “gia đình” vẫn còn tồn tại, nhưng chúng lọt thỏm trong số những

1

Trang 2

colleges, the Katherine Gibbs School Founded

in 1911 in Providence, Rhode Island, it

originally provided secretarial training to young

women The school eventually developed into a

chain of successful career colleges on the

Eastern seaboard that taught skills such as

typing, stenography, and how to comport oneself

in a business setting In 1997 the Career

Education Corporation, a gigantic for-profit,

bought the Katherine Gibbs Schools

Phoenix and other institutions began to

experiment with the meaning and purpose of

higher education in a number of ways Part-time

working adults were not simply the main focus

of the institutions—they were seen as a

potentially huge customer base that traditional

higher education had either ignored or

disdained These students did not need a campus

and the related accoutrements—fitness and

student centers, athletics, and so on Rather than

a smörgåsbord of courses whose utility for

future work was not apparent, students took a

finite number of classes, offered at convenient

times and in convenient locations, in as efficient

and focused a manner as possible

Faculty life was also very different at these

institutions Tenure, shared governance, and

academic freedom were absent Whereas in

traditional institutions the professor developed

his or her syllabus—so that the same course

might have very different foci, objectives, and

goals, depending on the instructor—at the

for-profits, the syllabi were standardized and

teaching styles were more similar than different

Accreditation became an important benchmark

for many for-profit institutions The awarding of

accreditation implied more than simply a degree

of sector respectability, although that was

certainly important Insofar as the for-profits'

clientele were not only part-time working adults

but also increasingly first-generation

college-trường lớn khác như Đại học Phoenix và các trường giao dịch công cộng khác như Đại học Corinthian và Đại học DeVry, mỗi trường có hơn 80.000 sinh viên

Lịch sử phát triển của đại học tư vì lợi nhuận thể hiện rõ qua trường hợp của một trong những trường cao đẳng nghề nổi tiếng ở giai đoạn đầu, Trường Katherine Gibbs Được thành lập vào năm 1911 tại Providence, Rhode Island, ban đầu trường này đào tạo nghề thư ký cho phụ nữ trẻ Sau đó, trường Katherine Gibbs phát triển thành một chuỗi các cơ sở cao đẳng nghề khá thành công ở bờ Đông nước Mỹ, đào tạo các kỹ năng như đánh máy, tốc ký, và kỹ năng ứng xử trong môi trường kinh doanh Năm 1997, Tập đoàn Giáo dục nghề nghiệp (Career Education Corporation), một tổ chức vì lợi nhuận khổng lồ

đã mua lại Trường Katherine Gibbs

Đại học Phoenix và các trường tư vì lợi nhuận khác bắt đầu thử nghiệm quá trình thay đổi ý nghĩa và mục đích của giáo dục đại học bằng nhiều cách khác nhau Người học là những người trưởng thành đã đi làm và học bán thời gian không chỉ là đối tượng trọng tâm của các trường này, mà được xem là một nguồn khách hàng tiềm năng khổng lồ vốn bị các trường đại học truyền thống hoặc bỏ qua hoặc xem thường Đối tượng người học này không cần các trường lớp truyền thống với các điều kiện hoạt động văn thể mỹ liên quan – các phòng tập thể dục, hội quán sinh viên, sân thi đấu điền kinh, v.v Thay vì phải chọn trong rất nhiều môn học mà lợi ích của chúng đối với nghề nghiệp tương lai không rõ ràng, người học chỉ cần chọn một số môn học hữu hạn, được tổ chức giảng dạy tại các thời điểm và địa điểm thuận tiện, theo một cách làm rất hiệu quả và tập trung cao độ

Vai trò của giảng viên tại các trường này cũng rất khác Biên chế chính thức, quyền tham gia các hoạt động quản trị, và quyền tự do học thuật hoàn toàn vắng mặt Trong khi tại các đại học truyền thống, giảng viên có toàn quyền tự xây dựng nội dung môn học, khiến cho cùng một

Trang 3

goers from low-income families, the tuition that

these institutions charged could be prohibitive

But accreditation enabled their students to tap

into federal aid; eventually, some states, such as

California, allowed students attending accredited

for-profit institutions to apply for state aid as

well If federal and state aid had been

unavailable to attendees of the for-profit

colleges and universities, their growth would not

have been anything akin to what it has been

As profit-seeking enterprises, the for-profits

represent a business model that fundamentally

differentiates them from traditional colleges and

universities They seek the profitability that

results from a combination of growth in both

volume and unit margins (the difference

between expenditures and revenues) The result

is that their incentives and measures of success

differ from those of traditional colleges and

universities

By the end of the first decade of the 21st

century, the number of students enrolled in

for-profit degree-granting institutions had increased

to nearly 1.2 million, or approximately 6.5

percent of the total If non-degree,

certificate-granting, for-profit institutions and their students

are included in these statistics, the market share

of for-profit institutions is estimated to be

approximately 12 percent These institutions

also offer more online course offerings than

their public and private non-profit counterparts

This is the fastest-growing sector in

postsecondary education

Selling Education

Although customer satisfaction, product

development, and community relations may be

important, if a profit-making company does not

generate revenue, it will eventually go out of

business Thus, over the last generation

for-profit postsecondary institutions have figured

out ways to do so Accreditation and the student

aid and access to subsidized loans that come

with it are one way

học có thể có những trọng tâm, mục tiêu và mục đích rất khác nhau tùy thuộc vào giảng viên, thì tại các trường đại học tư vì lợi nhuận nội dung môn học được chuẩn hóa và phong cách giảng dạy của các giảng viên thường là giống nhau

Tình trạng được kiểm định trở thành một chuẩn mực quan trọng đối với nhiều cơ sở giáo dục vì lợi nhuận Điều này không chỉ có ý nghĩa như một sự công nhận về chất lượng, mặc dù điều đó

là chắc chắn quan trọng Đối tượng người học của các trường này không chỉ là những người học trưởng thành đang có việc làm, mà ngày càng có nhiều lớp sinh viên thế hệ đầu tiên từ những gia đình nghèo Đối với những sinh viên này, học phí tại các trường tư vì lợi nhuận ở mức cao đến khó chấp nhận Nhưng tình trạng được kiểm định sẽ cho phép các sinh viên này nhận hỗ trợ tài chính từ liên bang, và sau này, một số tiểu bang như California, cũng cho phép sinh viên của các trường tư được kiểm định nộp đơn xin

hỗ trợ tài chính của tiểu bang nữa Nếu không có

hỗ trợ tài chính của liên bang và tiểu bang thì sự phát triển của loại trường này chắc chắn sẽ không thể cao như hiện nay

Là doanh nghiệp hoạt động vì mục đích lợi nhuận, các trường tư vì lợi nhuận đại diện cho

mô hình kinh doanh khác biệt căn bản với các trường đại học và cao đẳng truyền thống Những trường này tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc kết hợp tốc độ tăng trưởng cả về số lượng lẫn về

tỷ lệ lợi nhuận tính theo đơn vị (chênh lệch giữa chi phí và doanh thu) Kết quả là sự đãi ngộ và thước đo sự thành công của loại trường này cũng khác với các trường đại học và cao đẳng truyền thống

Tính đến cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ 21,

số sinh viên theo học các cơ sở giáo dục vì lợi nhuận đã tăng lên đến gần 1,2 triệu người, tương đương khoảng 6,5% tổng số sinh viên trên toàn nước Mỹ Nếu tính cả những chương trình cấp chứng chỉ, thị phần của các trường vì lợi nhuận được ước tính là khoảng 12% Các trường này

Trang 4

Consumers carry their aid and tuition with them,

and they need to want to buy the product In the

marketplace, sometimes products already exist,

and the new entrant needs to carve out a niche or

make the argument that their product is better

than the competitor's At other times, the

purveyor needs to create a new niche The

automobile industry is full of models that

claimed to be either an improvement over

existing cars or a new type altogether The new

model a company rolls out every year is an

example of the former and sports utility vehicles

of the latter Obviously, if the product is not an

improvement or the consumer decides that the

new niche is unnecessary, the product or

company will founder and likely go out of

business

Sometimes, a confluence of events exists: A

company carves out a new niche at the same

time there is a growing need for the product But

frequently the consumers do not know that they

need it until an advertising campaign makes a

successful pitch The ubiquitous “Post-its” and

“Crocs” were embraced by the public even

though no one was clamoring for such products

prior to their arrival

For-profit colleges and universities have grown

in just such a manner Traditional institutions

have neither marketed nor catered to

first-generation, low-income working adults But for

the last generation there has been a proliferation

of studies pointing out that a high school degree

is no longer sufficient to ensure a middle-class

life and that postsecondary education leads to

higher wages The for-profits recognized the

niche that this new perception of the value of

postsecondary education potentially created but

recognized that they needed to market their

product in order to realize that potential

cũng cung cấp nhiều khóa học trực tuyến hơn các trường đại học công hoặc đại học tư phi lợi nhuận Đây là khu vực phát triển nhanh nhất trong khu vực giáo dục sau trung học

Bán dịch vụ giáo dục

Cho dù sự hài lòng của khách hàng, việc phát triển sản phẩm, và quan hệ cộng đồng có thể là quan trọng, nhưng một công ty kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận mà không tạo ra được doanh thu, thì cuối cùng nó cũng không thể tồn tại Vì vậy, trong vòng khoảng ¼ thể kỷ vừa qua, các

cơ sở giáo dục đại học vì lợi nhuận đã tìm ra những cách để tạo doanh thu Tình trạng được công nhận kiểm định là một trong những cách

ấy, vì nó sẽ cho phép các trường được nhận hỗ trợ tài chính hoặc được vay ưu đãi cho sinh viên

Ở Mỹ, số tiền hỗ trợ học phí cho người học là do chính người học định đoạt, vì vậy cần phải làm sao để họ chọn mua dịch vụ giáo dục của nhà trường Trên thị trường, đôi khi các sản phẩm đã tồn tại sẵn, và doanh nghiệp mới tham gia thị trường cần phải tạo ra một thị trường ngách hoặc thuyết phục được khách hàng rằng sản phẩm của

họ tốt hơn sản phẩm của đối thủ Đôi khi, những nhà cung cấp mới tạo ra một phân khúc hoàn toàn mới Ngành công nghiệp ô tô luôn đưa ra các kiểu dáng mới được cho là đã cải tiến so với chiếc xe hiện tại hoặc một loại xe mới hoàn toàn.Những kiểu xe mới hàng năm, và loại xe ô

tô tiện ích thể thao, chính là những ví dụ từ ngành công nghiệp ô tô Rõ ràng, nếu các sản phẩm mới không có sự cải tiến hoặc nếu khách hàng cho rằng phân khúc thị trường mới là không cần thiết thì sản phẩm đó hoặc cả công ty

sẽ chới với và có thể phải chấm dứt kinh doanh

Đôi khi có thể kết hợp nhiều cách: một công ty

có thể tạo ra một phân khúc hoàn toàn mới cùng một lúc với sự gia tăng nhu về sản phẩm đó Nhưng thông thường khách hàng không biết rằng sản phẩm này cần cho họ, cho đến khi có

Trang 5

Public institutions' admissions offices have

traditionally engaged in minimal marketing

because they had a natural clientele and did not

care about attracting the one the for-profit

institutions were going after Meanwhile, the

elite private institutions marked their prestige in

part by how many students they rejected The

for-profits needed to appeal to people who may

have never considered a college education or

even set foot on a campus

The result has been admissions practices that

many have claimed are at best irregular and at

worst unethical and illegal Rather than engage

in a leisurely admissions process that begins in

the summer prior to 12th grade and culminates

with an acceptance letter in the spring and a

financial aid award letter soon after, the

for-profit institutions speed up the process They

find potential consumers, try to convince them

of the worth of the product, explain the

financing that will enable them to attain it, and

get them to sign up Courses may begin in a

manner of days

Problems arise when consumers do not

understand the true costs of the product, what is

entailed to attain it, or what the outcome of

having it will be If the for-profit sector offers a

product of similar or lesser value at a larger

expense than the non-profit sector does, then

market mechanisms may be presumed to take

care of the problem But they will do so only if

the consumer is accurately informed about the

costs and benefits of the product

On the one hand, those who work in the

for-profit sector argue that such misrepresentations

have been minimal and that by and large, the

sector has reached consumers who benefit from

a degree by increased earnings that dwarf the

loans they have encumbered themselves with

On the other hand, federal agencies and

consumer watchdogs allege that the debt burden

for many of those consumers is unmanageable,

một chiến dịch quảng cáo thành công Loại giấy

có dán keo nhãn hiệu “Post-its” và loại dép có quai nhãn hiệu “Crocs” là những sản phẩm hiện nay có thể thấy nhan nhản khắp nơi mặc dù trước khi những sản phẩm này được đưa ra thị trường thì chẳng có ai có vẻ cần đến những sản phẩm này cả

Các trường đại học và cao đẳng vì lợi nhuận đã phát triển y hệt như thế Các trường đại học truyền thống không tiếp thị, cũng chẳng quan tâm đến những người học trưởng thành, những người thuộc thế hệ đầu tiên học đại học từ các gia đình thu nhập thấp Nhưng trong khoảng hơn hai thập niên vừa qua, đã có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tấm bằng tốt nghiệp trung học không còn đủ để đảm bảo một cuộc sống trung lưu, và việc tham gia học tập sau trung học sẽ dẫn đến những mức lương cao hơn Với sự thay đổi nhận thức về giá trị của giáo dục sau trung học trong xã hội, các trường vì lợi nhuận đã nhận ra được phân khúc thị trường mới này, nhưng họ cũng hiểu rằng cần phải tiếp thị sản phẩm để biến tiềm năng đó thành hiện thực

Văn phòng tuyển sinh của các trường công lập thường rất ít tiếp thị vì họ đã có một nguồn khách hàng tự nhiên nên không quan tâm đến việc thu hút đối tượng người học mà những trường vì lợi nhuận quan tâm Trong khi đó, những trường tư phi lợi nhuận ưu tú lại đánh dấu

uy tín của mình qua tỷ lệ những sinh viên mà họ

từ chối Vì vậy, các trường vì lợi nhuận cần phải thu hút những người chưa bao giờ nghĩ đến việc

đi học đại học, thậm chí cũng chẳng nghĩ đến việc bước chân vào khuôn viên của một trường đại học

Kết quả là những trường vì lợi nhuận đã áp dụng những cách tuyển sinh mà nhiều người cho là kỳ

lạ, thậm chí là vô đạo đức hoặc trái pháp luật Thay vì tham gia vào quá trình tuyển sinh kéo dài từ mùa hè trước năm lớp 12 và kết thúc bằng

Trang 6

given the wages they are able to earn with the

degree they have been granted—if indeed they

are able to get to the finish line in the first place

Another concern is unique to the product that the

for-profits offer At about the time of the

creation of the University of Phoenix, a

fledgling airline, Southwest Airlines, also began

In some respects, they are similar for-profit

companies Both decided to function in a

different manner from their standard

competitors Both catered to different

constituencies and deployed their staffs in

different ways than their counterparts Both

needed to turn a profit Both have been hugely

successful But the comparison pretty much ends

there, in large part because of the products they

deliver

Southwest Airlines was a for-profit company

that faced immediate legal and regulatory

counter-attack by its competitors Those already

in the airline industry saw no need to welcome,

and thought it unwise to ignore, a new

competitor and instead tried first to stop, and

then to stifle, its growth The University of

Phoenix was largely ignored by its competitors

Whereas Southwest Airlines today is seen by its

peers as a successful company, the University of

Phoenix and its confreres2 are frowned on, not

only because of allegations of wrongdoing but

because for many people, the very notion that

education is a product that should be bought and

sold is anathema

Education has been thought of instead as a

public good When there has been a need to

grow because of a state's priorities or an influx

of new constituencies, the assumption has been

that new public campuses should be built Over

20 years ago, for example, discussions began

about the need for a new University of

California (UC) campus Eventually, after the

state had expended approximately $500 million,

UC Merced opened its doors and now educates

5,000 students During the 20 years of

discussion and debate there was little, if any,

một thư chấp thuận vào mùa xuân, rồi thư hỗ trợ tài chính ngay sau đó, các trường vì lợi nhuận đã đẩy nhanh tiến độ tuyển sinh Họ tìm khách hàng tiềm năng, thuyết phục khách hàng về giá trị của sản phẩm, giải thích các chi phí và thủ tục tài chính, và thuyết phục khách hàng đăng ký nhập học Các môn học có thể bắt đầu ngay vài ngày sau đó

Vấn đề phát sinh khi người tiêu dùng không hiểu chi phí thực của sản phẩm, những chi phí sẽ phát sinh để hoàn tất việc học, hoặc những gì họ sẽ đạt được sau khi tốt nghiệp Nếu các trường vì lợi nhuận cung cấp một sản phẩm có giá trị tương đương hoặc thấp hơn mà chi phí lại cao hơn so với các trường phi lợi nhuận thì hẳn là cơ chế thị trường sẽ tự giải quyết vấn đề đó Tuy nhiên, cơ chế thị trường chỉ có tác dụng nếu người tiêu dùng được cung cấp đầy đủ về chi phí

và lợi ích của sản phẩm

Một mặt, những người làm việc trong các trường

vì lợi nhuận lập luận rằng việc đưa thông tin sai lệch là rất hiếm; nhìn chung việc học tập tại các trường vì lợi nhuận đã đem lại lợi ích cho người học vì thu nhập của họ tăng lên rất nhiều khiến cho khoản nợ mà họ đã phải vay cho việc học đại học trở thành không đáng kể Mặt khác, các

cơ quan liên bang và các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng cáo buộc rằng khoản nợ học tập đối với nhiều người học là quá mức chịu đựng, khi

so mức lương mà họ được nhận với tấm bằng

mà họ được trao - nếu quả thật họ có thể hoàn tất được việc học để lấy được tấm bằng

Một vấn đề nữa rất đặc thù đối với các sản phẩm

từ các trường vì lợi nhuận Vào cùng khoảng thời gian Đại học Phoenix ra đời, một hãng hàng không non trẻ, Southwest Airlines, cũng đã bắt đầu Ở nhiều khía cạnh, cả hai công ty vì lợi nhuận này khá giống nhau Cả hai đều quyết định hoạt động một cách khác biệt so với các đối

2 colleague , comrade

Trang 7

serious thought given to whether a for-profit

college might be a better way to accommodate

the needs of these and other potential students

The Role and Size of the For-Profit Sector

A generation ago no one, even those working in

the for-profit sector, would have predicted that

12 percent of the postsecondary population

would be attending for-profit colleges and

universities in 2011 And there has been no

discussion of what the size of this sector should

be to meet the public's need for postsecondary

opportunities

Given their growth and their problems, what

might be the realistic and optimal size of the

for-profit sector? The need for a postsecondary

education will help determine the size of

for-profit higher education If the market is

saturated, then expansion seems foolhardy But

the problem would be self-correcting: Those in

the for-profit sector would not turn a profit, and

they would downsize or go out of business

However, one can easily make the case that the

country is moving in the opposite position: The

United States has an increased need for more

college-educated citizens that traditional

colleges and universities cannot meet

As has been argued in the pages of this

magazine before, as the United States gradually

evolves from a national industrial economy to a

global knowledge economy, a significantly

higher level of education for much larger

proportions of society is becoming a necessity—

for each individual and for the collective benefit

Thus we have the President's goal that the

United States will rise again to the top of the

Organisation for Economic Co-operation and

Development (OECD) nations in the proportion

of college graduates in its population By most

estimates, the country needs to increase college

participation by one million students a year for

the next decade in order to meet this goal And it

cannot do so without significantly increased

participation from working adults with little or

no college experience and few realistic college

options—that is, the majority of citizens in this

country

thủ cạnh tranh truyền thống Cả hai đều phục vụ cho đối tượng khác hàng khác, và sử dụng nhân viên của theo những cách không giống với các đối thủ của mình Cả hai đều cần có lợi nhuận

Cả hai đã cực kỳ thành công Nhưng sự giống nhau giữa hai công ty này kết thúc ở đây, mà lý

do chính là vì các sản phẩm mà hai công ty này cung cấp

Southwest Airlines ngay lập tức phải đối mặt với đòn phản công pháp lý của đối thủ cạnh tranh của mình Các hãng hàng không đang tồn tại thấy rằng ngành hàng không chẳng cần có thêm một đối thủ cạnh tranh mới, và ban đầu đã

cố gắng ngăn chặn rồi sau đó thì kiềm chế sự tăng trưởng của nó Đại học Phoenix đã được các đối thủ cạnh tranh của mình làm ngơ Trong khi Southwest Airlines ngày nay được các công

ty hàng không khác nhìn nhận là một công ty thành công, thì Đại học Phoenix và những trường tương tự đều bị mọi người nhíu mày chê trách, không chỉ vì các cáo buộc về hành vi sai trái mà còn vì đối với nhiều người, ý nghĩ rằng giáo dục là một sản phẩm có thể mua vào bán ra

là một điều không thể chấp nhận

Người ta thường nghĩ về giáo dục như là hàng hóa công Khi nhu cầu học đại học tăng lên do những ưu tiên của tiểu bang hoặc của các cử tri thì mọi người đều cho rằng cần phải xây thêm những trường đại học công mới Ví dụ, trong vòng 20 năm qua, người ta đã thảo luận về nhu cầu xây dựng một cơ sở mới của hệ thống Đại học California (UC) Cuối cùng, sau khi chính quyền tiểu bang phải chi ra khoảng 500 triệu đô, trường Đại học UC Merced cũng đã mở cửa hoạt động và bây giờ đã có 5.000 sinh viên Cũng trong 20 năm đó, hầu như không ai nhắc đến hoặc tranh luận về việc phải chăng một trường đại học vì lợi nhuận có thể là cách đáp ứng tốt hơn nhu cầu của 5000 sinh viên này cũng như các sinh viên tiềm năng khác

Vai trò và quy mô của khu vực vì lợi nhuận

Hơn 20 năm trước đây, chẳng ai - kể cả những

Trang 8

The for-profit institutions are responding to this

challenge more aggressively than any other

segment of higher education Non-profit private

institutions have been less focused on the

concomitant and increasing demand for

“employment-relevant” postsecondary education

in a job market rife with unemployment, while

public institutions have been struggling with

budgetary shortfalls and organizational

intransigence

Public two- and four-year institutions are

currently struggling to serve the same number of

students as last year, and in some instances, they

intend to serve fewer The California State

University system, for example, is serving about

10,000 fewer students than it did last year The

University of California system enrolled the

same number of students, but it accepted many

more from out of state in order to generate

revenue The California Community College

system is serving as many as 400,000 fewer

students

Thus, just when there are calls to increase

participation in higher education, public

institutions are maintaining or downsizing their

student bodies And when they manage to

maintain current enrollments, it is at a cost

Classes are bigger, fewer courses are offered,

and summer classes are frequently curtailed The

public institutions, in short, will not be able to

absorb the increase in participation largely

because they are at capacity as they are currently

configured

Two alternative scenarios are possible First,

states could raise taxes specifically to enable

public institutions to increase their enrollments

Second, the public institutions could radically

alter the way they do business, cut

inefficiencies, and serve significantly more

students Neither scenario seems within the

realm of possibility For better or worse, the

citizenry and its elected officials evince no

appetite for increasing taxes Similarly,

administrators, faculty, and the unions have

shown just as little interest in dramatically

reconfiguring their campuses

người làm việc trong khu vực vì lợi nhuận - có thể đoán được rằng có đến 12 % số người học đại học sẽ theo học tại các trường đại học vì lợi nhuận vào năm 2011 Và cho đến nay, vẫn chưa

ai xác định khu vực này sẽ có quy mô ra sao để đáp ứng nhu cầu học tập sau trung học của công chúng

Với tốc độ phát triển cũng như những vấn đề hiện nay của khối trường đại học tư vì lợi nhuận, chúng ta cần một quy mô như thế nào cho khu vực vì lợi nhuận để đạt được sự tối ưu? Nhu cầu học tập sau trung học sẽ giúp xác định quy mô của giáo dục đại học vì lợi nhuận Nếu thị trường đã bão hòa, thì rõ ràng là không cần mở rộng thêm nữa Nhưng vấn đề này thật ra không đáng quan tâm vì nó sẽ được tự giải quyết: Lúc

ấy, khu vực vì lợi nhuận sẽ không tạo ra được lợi nhuận, nên sẽ tự giảm bớt hoặc đóng cửa Tuy nhiên, dễ thấy rằng mọi việc đang diễn ra theo chiều ngược lại: nước Mỹ đang cần ngày càng nhiều những công dân có bằng đại học những các trường đại học truyền thống sẽ không thể đáp ứng nhu cầu ấy

Như đã từng được nêu trên tạp chí này4, khi Hoa

Kỳ chuyển dần từ một nền kinh tế công nghiệp trong phạm vi một quốc gia sang nền kinh tế tri thức toàn cầu, nó sẽ cần một tỷ lệ người có học vấn cao hơn trong nhiều khu vực kinh tế khác nhau – điều này cần thiết đối với từng cá nhân cũng như toàn xã hội Vì vậy, Tổng thống Hoa

Kỳ đã đưa ra mục tiêu sẽ vượt lên thành tốp đầu trong số các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) các quốc gia về tỷ

lệ sinh viên tốt nghiệp đại học trong dân số Theo ước tính trong vòng 10 năm tới, nước Mỹ

sẽ cần tăng thêm mỗi năm một triệu sinh viên nhằm đáp ứng mục tiêu này Và điều này sẽ không thể đạt được nếu không có sự tham gia đáng kể của các nhóm sinh viên sau đây: những người trưởng thành đang có việc làm, những người mà trước đó chưa bao giờ học đại học và cũng có rất ít những cơ hội lựa chọn – và đó cũng chính là đa số công dân của đất nước này

4

Ngày đăng: 25/07/2022, 12:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w