TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI KHOA MÔI TRƯỜNG Đề tài bài tập lớn : Đánh giá hiện trạng môi trường không khí, tác động của ô nhiễm môi trường không khí xung quanh tại quận Cầu Giấy – Hà Nội
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
KỲ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN HỌC KỲ 1 NĂM HỌC 2021 - 2022
Đề tài bài tập lớn: Đánh giá hiện trạng môi trường không khí, tác động của
ô nhiễm môi trường không khí xung quanh tại quận Cầu Giấy – Hà Nội
Họ và tên sinh viên : Lê Bảo Linh
Trang 21.3.2 Cơ cấu kinh tế của làng nghề
1.3.3 Tốc độ tăng trưởng kinh tế của làng nghề
CHƯƠNG 2: SƯC EP ĐÔI VƠI MÔI TRƯƠNG TƯ CAC HOAT Đ NG KINH TÊ – XA H IÔ Ô
2.1 Gia tăng dân số và quá trình đô thị hóa
2.2 Tình hình phát triên của hoat đ ng san xuất của làng nghềô
CHƯƠNG 3: HIỆN TRANG MÔI TRƯƠNG TAI LANG BÚN PHÚ ĐÔ
3.1 Hiện trang môi trường nước
3.1.1 Hiện trang môi trường nước mặt
Bang 3.1_1 Kết qua quan trắc môi trường nước mặt đợt 1 ( mùa khô)
Bang 3.1_2: Kết qua quan trắc môi trường nước mặt làng bún Phú Đô đợt 2
Hình 3.1_1: pH tai các vị trí quan trắc 2 đợt
Hình 3.1_2: TSS tai các vị trí quan trắc 2 đợt
Hình 3.1_3: BOD5 tai các vị trí quan trắc 2 đợt
Hình 3.1_4: COD tai các vị trí quan trắc ở 2 đợt
Hình 3.1_5: Tổng Coliform tai các vị trí quan trắc ở 2 đợt
Hình 3.1_6: NH4 tai các vị trí quan trắc ở 2 đợt+
Hình 3.1_7: PO43- nước mặt tai các vị trí quan trắc ở 2 đợt
Trang 33.1.2 Hiện trang môi trường nước ngầm
Bang 3.2_1: Kết qua quan trắc môi trường nước ngầm đợt 1 ( mùa khô)
Bang 3.2_2: Kết qua quan trắc môi trường nước ngầm đợt 2 ( mùa khô)
Hình 3.2_1: pH nước ngầm tai các vị trí quan trắc ở 2 đợt
Hình 3.2_2: NH4 nước ngầm tai các vị trí quan trắc ở 2 đợt+
Hình 3.2_3: NO2- nước ngầm tai các vị trí quan trắc ở 2 đợt
Hình 3.2_4: SO42- nước ngầm tai các vị trí quan trắc ở 2 đợt
Hình 3.2_5: Cl- nước ngầm tai các vị trí quan trắc ở 2 đợt
Hình 3.2_6: Mn nước ngầm tai các vị trí quan trắc ở 2 đợt
Hình 3.2_7: Độ cứng nước ngầm tai các vị trí quan trắc ở 2 đợt
Hình 3.2_8: Fe nước ngầm tai các vị trí quan trắc ở 2 đợt
Hình 3.2_9: Chất rắn tổng số nước ngầm tai các vị trí quan trắc ở 2 đợt
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Làng nghề Việt Nam là một nét đặc sắc trong nền văn hóa dân tộc, mang theo những giátrị truyền thống của con người Việt Nam Tuy nhiên vấn đề gây ô nhiễm ra môi trường từcáchoạt động sản xuất của làng nghề lại đang trở lên trầm trọng hơn bao giờ hết, trong đó cólàng nghề sản xuất bún Phú Đô.Ấn tượng khi về thăm thôn Phú Đô không phải là nhữnghình ảnh của một làng nghề sản xuất bún truyền thống lâu đời từ hơn 400 năm nức tiếngkhắp đất Hà Thành mà là một Phú Đô đã bị ô nhiễm nguồn nước trầm trọng
Để làm rõ hơn ảnh hưởng của việc sản xuất bún đến môi trường chúng tôi đã lựa chọn đề
tài:”Báo cáo hiện trạng môi trường tại làng nghề sản xuất bún Phú Đô - Mễ Trì-Nam
Từ Liêm- Hà Nội”.
Mục tiêu nghiên cứu
Báo cáo hiện trạng môi trường tại làng nghề sản xuất bún Phú Đô - Mễ Trì-Nam Từ Liêm-
Hà Nội
Đề xuất một số giải pháp bảo vệ môi trường tại làng nghề bún Phú Đô
Đối tượng nghiên cứu
Hiện trạng môi trường nước,không khí và chất thải rắn tại làng nghề sản xuất bún Phú Đô -
Mễ Trì - Nam Từ Liêm- Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu
Các vấn đề môi trường nước,không khí và chất thải rắn tại làng nghề sản xuất bún Phú Đô -
Mễ Trì-Nam Từ Liêm- Hà Nội
Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm tự nhiên, kinh tế và xã hội của làng nghề
Trang 4- Tìm hiểu hiện trạng môi trường nước,không khí và chất thải rắn
- Các nguồn gây ô nhiễm môi trường
- Nghiên cứu các tác động của ô nhiễm môi trường tại làng nghề
- Nghiên cứu các tác động của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe cộng đồng, môitrường tự nhiên, kinh tế - xã hội và hệ sinh thái
- Nghiên cứu các giải pháp bảo vệ môi trường
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp đánh giá Động lực – Áp lực – Hiện trạng – Tác động – Đáp ứng (DPSIR)
- Căn cứ theo thông tư 08/2010/TT- BTNMT về việc quy định việc xây dựng báo cáomôi trường quốc gia, báo cáo tình hình tác động môi trường của ngành, lĩnh vực vàbáo cáo hiện trạng môi trường cấp tỉnh
- Báo cáo được xây dựng dựa trên mô hình DPSIR (động lực áp lực hiện trạng tác động - đáp ứng)
-+Động lực: là sự phát triển của các hoạt động phát triển và sản xuất, nhu cầu của thị
trường, điều kiện hạ tầng… thải ra nguồn thải (nước thải, khí thải, tiếng ồn và CTR)gây ra
+ Áp lực: làm biến đổi hiện trạng ô nhiễm môi trường Nguồn thải được đặc trưng
bằng tổng lượng thải theo từng chất ô nhiễm
+ Hiện trạng: chất lượng môi trường xung quanh được đánh giá thông qua các thông
số như: Bụi TSP, NO2, CO, SO2, tiếng ồn
+ Tác động: của ô nhiễm môi trường được thể hiện qua từng lĩnh vực cụ thể, đối
tượng tác động là môi trường nước, không khí, đất, hệ sinh thái và cảnh quan, sứckhỏe của con người
+ Đáp ứng: là giải pháp tổng hợp cải thiện chất lượng môi trường như các chính
sách, thể chế có liên quan tài chính để đạt được các mục tiêu về bảo vệ môi trườngcác hành động giảm thiểu, các hoạt động về quản lý, kiểm soát môi trường
Phương pháp thu thập tài liệu
- Thu thập thông tin từ các tài liệu, giáo trình đã được học và tham khảo, các thông tinđược đăng tải trên các webside có liên quan đến đánh giá môi trường
- Thu thập tài liệu về hiện trạng môi trường làng nghề
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XA
Trang 5HỘI LÀNG NGHỀ BÚN PHÚ ĐÔ
1.1 Tổng quan về làng nghề
1.1.1 Tổng quan về làng nghề Việt Nam
Theo số liệu gần đây nhất 10/10/2015 hiện cả nước với hơn 1.300 làng nghề và làng cónghề, chiếm 40% làng nghề trong cả nước, Sự phân bố và phát triển các làng nghềCác làngnghềchế biến lương thực thực phẩmkhông đồng đều trong cả nước Các làng nghềchế biếnlương thực thực phẩm ở miền Bắc phát triển hơn ở miền Trung và miền Nam, chiếm gần 70%
số lượng các làng nghề trong cả nước, trong đó tập trung nhiều nhất và mạnh nhất là ở vùngđồng bằng sông Hồng Miền Trung có khoảng 111 làng nghề, còn lại ở miền Nam hơn 300làng nghề
Các tỉnh có lượng làng nghề đông bao gồm địa bàn Hà Nội 286 làng nghề truyền thống,Thái Bình có 242 làng, Bắc Ninh có 62 làng, Thanh Hóa có 169 làng
Hình 1.1 Sự phân bố các làng nghề Việt Nam theo khu vực
Dựa vào phương thức sản xuất, có thể chia ra làm 5 loại làng nghề chính như sau:
và các loại chất thải đổ bừa bãi, nhiều diện tích mặt nước sông, kênh mương, đất canhtác, đang bị các loại chất thải lấn dần làm ô nhiễm môi trường sống và sức khỏe của ngườidân
Trang 61.1.2 Tổng quan về làng nghề bún Phú Đô
Làng bún Phú Đô cách trung tâm Hà Nội khoảng 10 km về phía tây, nằm bên bờ sôngNhuệ Cùng với nhiều món ăn dân dã, bún Phú Đô làm từ hạt gạo tinh khiết Sợi bún trắngtrong, mềm dẻo, thơm ngon đặc sắc như bún riêu, bún chả, bún bò, bún thang, bún nem, bún
ốc, búngiò ,búnmăng… cùng với các gia vị, rau xanh Làng Phú Đô xưa chuyên sống bằngnghề nông, bên cạnh có nghề phụ làm bún đã cứu cánh nhiều hộ gia đình những ngày thánggiáp hạt Từ đấy được phát triển rộng trở thành làng nghề truyền thống Theo khảo cứu của Hội làng nghề Việt Nam, bún Phú Đô có từ thế kỷ 12, do cụ HồNguyên Thơ là người xứ Thanh đã truyền nghề cho dân làng Với kinh nghiệm lâu năm, taynghề tinh xảo khéo léo, bún Phú Đô không cần đến phụ gia, hóa chất nào khác Sản phẩmbún Phú Đô vốn có danh tiếng Hà Thành, hàng ngày sản xuất tới 50 đến 60 tấn bún và đượctiêu thụ hết
Từ gần ngàn hộ gia đình, nay còn chưa đầy trăm hộ "sống chết" với nghề Hầu hết nhữnggia đình sản xuất bún ở Phú Đô đều nuôi lợn để tận dụng những bã gạo trong quá trình sảnxuất bún Bao quanh phía Bắc của làng nghề sản xuất bún Phú Đô có một con mương tiêunước chảy qua và chảy vào sông Nhuệ Tình trạng ô nhiễm môi trường xảy ra nghiêm trọngkhi vào mùa mưa, lưu lượng nước lớn gây ra tình trạng ngập úng do nước thải sản xuất búnhòa trộn cùng toàn bộ nước thải sinh hoạt và chăn nuôi từ các chuồng trại của các hộ giađình đều đổ ra kênh dẫn Nước thải sản xuất bún cùng nước thải sinh hoạt và nước thải chănnuôi đều chưa qua xử lý mà xả thải trực tiếp vào hệ thống cống chung cuối làng Sau đó,nước được thải trực tiếp xuống con mương chảy ra sông Nhuệ, gây ô nhiễm môi trườngnghiêm trọng, ảnh hưởng đến đời sống của người dân trong vùng
1.2 Tổng quan về điều kiện tự nhiên
1.2.1 Vị trí địa lý
Làng bún Phú Đô thuộc xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm Làng ở cách trung tâm Hà Nội khoảng
10 km về phía Tây Nam
- Phía Bắc giáp phường Mỹ Đình
- Phía Nam giáp đường cao tốc Láng - Hoà lạc
- Phía đông giáp thôn Mễ Trì Thượng (thuộc xã Mễ Trì)
- Phía Tây giáp sông Nhuệ
Tổng diện tích tự nhiên của làng nghề là 258,6 ha, trong đó đất nông nghiệp là 164,6 ha.Theo số liệu thống kê năm 2015, làng nghề hiện có hơn 1.200 hộ với hơn 8.000 dân, trong
đó gần 500 hộ làm nghề sản xuất bún và 650 hộ tham gia tiêu thụ sản phẩm này Hàng năm, Phú Đô sản xuất ra khoảng 60.000 tấn bún - chiếm khoảng 50% thị trường Hà Nội
1.2.2 Khí hậu
Khí hậu làng Phú Đô mang đặc điểm chung của khí hậu Bắc Bộ là khí hậu nhiệt đới giómùa ẩm , mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa động lạnh, mưa ít
Trang 7Đặc điểm khí hậu Phú Đô mang đậm đặc trưng khí hậu Hà Nội rõ nét nhất là sự thay đổi vàkhác biệt của hai mùa nóng, lạnh Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng và mưa, nhiệt độtrung bình 29,2oC Từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau là mùa đông, thời tiết khô ráo, nhiệt độtrung bình là 15,2oC Giữa hai mùa đó lại có hai thời kỳ chuyển tiếp (tháng 4 và tháng 10).Tổng số giờ nắng bình quân hàng năm khoảng 1.300 – 1.400 giờ và phân bố không đều giữacác tháng trong năm Mùa hè số giờ nắng nhiều, mùa đông số giờ nắng ít.
1.3 Tổng quan về điều kiện Kinh tế-Xã hội
1.3.1 Dân số
Theo số liệu thống kê năm 2004, cả làng nghề bún Phú Đô có 1068 hộ với 5600 nhân khẩu.Trong số đó có 400 hộ gia đình với 3200 lao động hành nghề làm bún Hàng năm, làng nghềPhú Đô sản xuất được khoảng 30.000 tấn bún, cung cấp bún cho khoảng 50% thị trường bún
ở Hà Nội Sau hơn 10 năm, tính đến năm 2015, làng nghề hiện có hơn 1.200 hộ với hơn8.000 dân, trong đó gần 500 hộ làm nghề sản xuất bún và 650 hộ tham gia tiêu thụ sản phẩmnày Trung bình mỗi hộ có khoảng 4->7 người Mật độ dân số khoảng 250 người/ha
1.3.2 Cơ cấu kinh tế của làng nghề
Trong làng, số hộ làm bún chiếm khoảng 50%, còn lại 10% số hộ sản xuất phục vụ làngnghề như: sản xuất công cụ làm bún (cơ khí); xay xát gạo; cung cấp than củi; 20% số hộ làmdịch vụ thương mại cho nhân dân trong thôn và các khách nơi khác đến; 20% số hộ còn lạilàm các nghề khác Tuy nhiên, những năm gần đây, ở Phú Đô, số gia đình làm bún đã giảmnhiều do phần lớn chuyển sang buôn bán, kinh doanh Từ gần ngàn hộ gia đình, nay chỉ cònkhoảng vài trăm hộ vẫn còn theo nghề làm bún Trình độ văn hóa của người dân trong làngkhông cao Trong số lao động chuyên nghiệp làm bún ở Phú Đô hiện nay, chỉ có khoảng30% tốt nghiệp phổ thông trung học, còn lại chỉ đạt trình độ văn hoá phổ thông cơ sở.Trong thời đại công nghiệp hóa với sự phát triển mạnh mẽ của nhiều phương tiện sản xuấthiện đại, nghề làm bún ngày nay đã được cơ giới hoá với các máy xay bột, đánh bột, gópphần nâng cao sản lượng sản xuất bún trong làng
Theo thống kê của UBND phường Phú Đô, hiện làng nghề có 500 hộ sản xuất và trên 650
hộ kinh doanh, mỗi ngày đưa ra thị trường khoảng 60 tấn bún, cung cấp trên 51% sản lượngbún cho địa bàn Thủ đô Mỗi cơ sở sản xuất có từ 5 - 7 lao động thường xuyên với mức thunhập ổn định từ 4 - 5 triệu đồng/người/tháng
* Nhận xét : Theo số liệu thống kê năm 2004, cả làng nghề bún Phú Đô có 1068 hộ với
5600 nhân khẩu.Sau hơn 10 năm, tính đến năm 2015, làng nghề hiện có hơn 1.200 hộ vớihơn 8.000 dân Với mật độ dấn số lớn như vậy thì đi kèm theo đó là 1 vấn đề vô cùngnghiên trọng “ nước thải sinh hoạt” Nước thải sinh hoạt đang là 1 trong những nguyênnhân chính gây ô nhiễm môi trường nước mặt Chính vì vậy có thể nói “gia tăng dấn số”chính là nguyên nhân sâu xa gây ra hiện tượng ô nhiễm nước mặt của địa phương hiện nay
1.3.3 Tốc độ tăng trưởng kinh tế của làng nghề
Hiện Phú Đô có 1150 hộ sản xuất kinh doanh bún và mỗi ngày xuất bán ra thị trường HàNội và các tỉnh lân cận khoảng 80 tấn bún Đến nay cơ bản không còn hộ nào sản xuất búnthủ công, mà áp dụng dây chuyền bán tự động, thậm chí có máy sản xuất theo quy trìnhkhép kín Từ 2010, làng đã đăng ký và được Cục Sở hữu trí tuệ cấp nhãn hiệu độc quyềnbún Phú Đô
Trang 8Theo hương ước của làng nghề, nếu hộ nào chạy theo lợi nhuận mà vi phạm các quy định về
an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường sẽ bị phạt nặng và bị đẩy ra khỏi danh sách làmnghề của làng "Chinh phục khách hàng bằng chính chất lượng sản phẩm" luôn là mục tiêu
mà mỗi hộ sản xuất bún ở Phú Đô luôn "khắc cốt ghi tâm"
Với những nỗ lực để khẳng định chất lượng sản phẩm của mình, năm 2009, làng nghề búnPhú Đô đã được UBND Tp.Hà Nội công nhận là làng nghề truyền thống Năm 2010, "búnPhú Đô" đã chính thức trở thành thương hiệu độc quyền, được Cục Sở hữu trí tuệ Tp.Hà Nộicông nhận Năm 2014, đạt danh hiệu "thương hiệu tiêu biểu vì người tiêu dùng" do Tạp chíDoanh nhân, Báo Người tiêu dùng bình chọn
Hiện tại, UBND quận cũng đang xem xét, giải quyết nguyện vọng của các hộ sản xuất bún ởPhú Đô mong muốn có một khu đất xa khu dân cư để tập trung sản xuất, tránh ô nhiễm môitrường Bên cạnh đó, chính quyền cũng đã phối hợp với làng nghề trong việc tìm, mở rộngđầu ra cho sản phẩm
Hiện nay, "bún Phú Đô" đã có mặt tại một số nước châu Âu, vì đây là nguồn nguyên liệukhông thể thiếu của món Phở Hà Nội đang được bạn bè quốc tế hết sức ưa chuộng Làngnghề đang thí điểm làm "bún khô" để có thể kéo dài thời gian sử dụng lâu hơn, cũng nhưbảo đảm chất lượng để thuận lợi cho việc xuất khẩu ra nước ngoài
*Nhận xét : Làng bún Phú Đô đã có từ lâu đời,đã trở thành nét đpẹ văn hóa của địa phươngcần được giữ gìn và bảo vệ Chính vì vậy hoạt động làm bún ở đây vẫn được người dântruyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác góp phần giữ gìn nét đẹpvăn hóa ấy Duy trì hoạt động làng nghề bún Phú Đô chính là nguyên nhân sâu xa ( động lực) gây ra hiện tượng môi trường nước mặt nơi đây
Hiện nay ở Phú Đô chăn nuôi chủ yếu là lợn,trâu bò và gia cầm Ngành chăn nuôi tạiđịa phương đặc biệt phát triển do tận dungj được nước thải từ vo gạo để ngâm bộtlàm bún, phục vụ chăn nuôi giảm được đáng kể kinh phí Hoạt động làm bún pháttriển kéo theo đó là hoạt động chăn nuôi ngày càng phát triển theo Lượng chất thảichăn nuôi mỗi ngày thải ra là tương đối lớn và cũng là bài toán khó đối với giải quyết
ô nhiễm môi trường Chính vì vậy ta có thể thấy việc chăn nuôi hiện nay chính lànguyên nhân sâu xa ( động lực ) gây ra hiện tượng môi trường nước mặt nơi đây
CHƯƠNG 2: BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG VÀ QUẢN LÝ SỐ
LIỆU QUANG TRẮC MÔI TRƯỜNG
Trang 9Bảng đánh giá hiện trạng môi trường tại làng nghề sản xuất bún Phú Đô - Mễ Trì-Nam
Từ Liêm- Hà Nội
Yếu tố STT Tên chỉ thị thứ cấp Đơn
vị tính
Hình thức thu thập
PhúĐôsảnxuất ra khoảng 60.000 tấnbún - chiếmkhoảng 50% thịtrườngHàNội
3 Đô thị hóa xây dựng Tổng quan tài liệu ,
điều tra
Tốc độ đô thị hóa tăng nhanh
Áp lực 1 Rác thải từ sinh hoạt,
hoạt động sản xuất kinh
tế ,xây dựng
Tổng quan tài liệu ,điều tra
2 Nước thải từ sinh hoạt,
hoạt động sản xuất kinhtế
Tổng quan tài liệu ,điều tra Lưulượngnướcthảihàng
ngày: ướctính 1,200m3 ;sửdụng thancủacảthônkhoảng
Tổng quan tài liệu ,điều tra TạilàngnghềbúnPhúĐô, cứtrong 10.200
tấnsảnphẩmmỗinămđãthảicácchất ô nhiễm 76,9 tấn COD; 53,14 tấn BOD5; 9,38 tấn SS gây
ô nhiễmmôitrườngnướcnghiêmtrọng
Tác động 1 Sức khỏe cộng đồng Tổng quan tài liệu ,
điều tra
2 Hoạt động sản xuất
,kinh doanh của người
Tổng quan tài liệu ,điều tra
Trang 102 *Đáp ứng áp lực
- Các đáp ứng đã và đang thực hiện :+ Nạo vét kênh, mương+Thành lập tổ thu gom rác tại địa bàn 4 trên 6 thôn của xã
+Lập bản quy hoạch các bãi chứa rác trên địa bàn 6 thôn của xã
tế, nâng cao trình độ độingũ y bác sĩ, thực hiện tốt các chương trình khám chữa bệnh và phòng chống dịch bệnh cho người dân
-Các khuyến nghị bổ
sung
4 *Đáp ứng phụ trợ :
-Các đáp ứng đã và đang thực hiện +Thực hiện công tác tuyên truyền bảo vệ môitrường tới người dân , đặc biệt là môi trường nước mặt
- Các khuyến nghị bổ
sung
Trang 112.1 Gia tăng dân số và quá trình đô thị hóa.
- Năm 2015, làng nghề hiện có hơn 1.200 hộ với hơn 8.000 dân Trung bình mỗi hộ cókhoảng 4->7 người Mật độ dân số khoảng 250 người/ha
- Lưu lượng nước thải hàng ngày: ước tính 1.000-1,200m3 ; sử dụng than của cả thônkhoảng 6000kg than/ngày
- Việc gia tăng dân số làm ảnh hưởng tới môi trường nước mặt nơi đây Dân số tănggấp 1,5 lần trong vòng 10 năm làm gia tăng lượng nước thải sinh hoạt, gây sức épkhông nhỏ tới môi trường nước mặt, nguy cơ ô nhiễm môi trường do nước thải sinhhoạt tăng Sức ép môi trường nước mặt do sự gia tăng dân số đang ngày càng mộtnặng nề hơn
- Tuy nhiên, những năm gần đây, ở Phú Đô, số gia đình làm bún đã giảm nhiều dophần lớn chuyển sang buôn bán, kinh doanh Từ gần ngàn hộ gia đình, nay chỉ cònkhoảng vài trăm hộ vẫn còn theo nghề làm bún
- Cùng với sự phát triển dân số là trình độ văn hóa của người dân.Trình độ phát triểnvăn hóa của người dân làng bún Phú Đô tương đối thấp: Hiệu nay trong lao độngchuyên làm bún ở Phú Đô vào khoảng 30% Tốt nghiệp trung học phổ thông còn lạichỉ đạt trình độ văn hóa phổ thông cơ sở dẫn đến việc người dân khong hiểu biết vềcác vấn đề bảo vệ môi trường gây ra các tác dộng tiêu cực như:
+ Người dân xả rác bừa bãi, không đúng nơi quy định, vứt tràn lan ở các nơi như:sông , kênh , mương…Nước thài sinh hoạt của hộ dân xả thảng vào mương tiêu.Tình trạng lấn chiếm lòng, bờ sông , kênh rạch để sinh sống, rác và nước thải trựctiếp trên bề mặt gây ô nhiễm nước mặt, cản trở lưu thông dòng sông, gây ô nhiễm
có mùi hôi thối, khó khăn trong việc lấy nguồn nước mặt để xử lý thành nguồnnước sạch cung cấp cho nhu cầu xã hội
+ Nhiều giếng khoan thi công không đúng kỹ thuật, giếng khoan hư không đượcsan lấp là nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước
+Nhiều sự cố gây thất thoát nước do đường ống dẫn nước cũ gẫy,, bể lâu ngày ,không được tu sửa gây rò rỉ nước.Lười hoặc quên tắt van cũng là nguyên nhân gâylãng phí nước
+Với tình trạng sử dụng bừa bãi, tùy tiện các loại hóa chất trong phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, kích thích… gây ô nhiễm nguồn nước
- Dân số tăng nhanh đồng nghĩa với việc phải sử dụng các loại tài nguyên thiên nhiênmôi trường : đất đai được khai thác cho việc xây nhà ở, xây dựng, phục vụ nông nghiệp, tàinguyên nước được sử dụng nhiều hơn cho các mục dích sinh hoạt,chăn nuôi…, Đồng thờicũng thải ra môi trường một lượng khí thải , nước thải khá lớn Các thành phần ô nhiễm
Trang 12chính đặc trưng thường thấy ở nước thải sinh hoạt Là BOD5,COD,NH3,chất tẩy rửa,hóachất Ngoài ra còn 1 số yếu tố gây ô nhiễm quan trọng trong nước thải đó là các loại mầmbệnh được lây chuyền bởi các vi sinh vật có trong phân : vius,vi khuẩn, giun sán
Dân số càng gia tăng kéo theo tốc độ dô thị hóa tăng và phát triển kinh tế xã hội, điềunày sẽ tạo sức ép đối với môi trường.Khi môi trường bị ô nhiễm thì nó sẽ tác động ngược lạiđến dân số( bệnh tật),kinh tế ( thiếu nước sạch, không phát triển được các hoạt động sảnxuất như nuôi trồng thủy sản )
2.2 Tình hình phát triển của hoạt động sản xuất của làng nghề
Làng nghề sản xuất bún Phú Đô đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêmtrọng Trong khoảng 1200 hộ gia đình phải sinh sống ở Phú Đô có tới 50% hộ theo nghề làmbún gia truyền vào khoảng 516 hộ Bình quân mỗi năm sản xuất khoảng 41,87 tấn bún Tảilượng của các chất ô nhiễm phát sinh từ các nguồn gây ô nhiễm tác động đến vấn đề môitrường nước:Tại thôn Phú Đô 1 ngày thải ra do hoạt động làng nghề bún được tính toán dựatrên phương pháp điều tra phỏng vấn và tính toán theo công thức:Q= số hộ tham gia làmbún*lượng nước thải 1 hộ xả ra = 500*1,5=750 m3 Trong các cơ sở sản xuất bún phần lớnthiết bị máy móc công nghệ sản xuất còn lạc hậu, cũ kỹ, không đồng bộ Tại cac cơ sở sảnxuất phát triển thì số máy móc tiên tiến còn rất ít, có đến 70% công nghẹ lạc hậu Chính vìvậy mà nước thải sau quá trình làm bún không được xử lý thải thẳng ra ngoài môi trường,gây các mùi hôi thối khó chịu.Cái ao duy nhất trong làng trở nên biến dạng và bốc mùi,cácbụi bẩn, dầu rửa bát, xà phòng, rác thải sinh hoạt, vật liệu xây dựng, nước thải bẩn chưa qua
xử lý… thải ra cống tiêu nước đổ thẳng ra sông Và nước thải làm từ việc làm bún làmột trong những nhân tố chính làm biến màu ao hồ, sông ngòi quanh khu vực này Hiện nay tình trạng phổ biến của các hộ, cơ sở sản xuất nghề là sử dụng ngay diện tích ởlàm nơi sản xuất Khi quy mô sản xuất tăng lên, hoặc sử dụng thiết bị hóa chất đã làm chomôi trường bị ô nhiễm nặng nề Cho đến nay, phần lớn nước thải ở đây đều đổ trực tiếp rasông hồ mà không qua bất kì khâu xử lý nào Cách một quãng ngắn lại có một đống ráchoặc vật liệu phế thải.Không khí xộc lên mùi hôi thối, chua nồng Lối vào các thôn trongxóm đường chỉ trên dưới 1m Trên những bức tường, một dãy dài những tấm vải cũ,bẩn được phơi, đó là những đồ nghề không thể thiếu của người làm bún Tại nhà ông Sơn , chủ một cơ sở sản xuất bún thấy rằng: Khi vào cổng, chuồng lợnngay trước cổng, ngay cạnh đó là hai chiếc bể xây ốp gạch, nơi chứa bột làm bún.Chiếc máy ép, máy đánh bột bên bể nước đã mọc rêu, lỉnh kỉnh xô chậu xếp xungquanh Hơn hai chục thùng nhựa ngâm bột (loại thùng mà nông dân hay dùng để gánhnước tưới ruộng) xếp trong một góc bếp Chiếc máy ép bún hoen gỉ đặt sát bếp lò Trongkhi khu sinh hoạt của gia đình được xây khang trang ngay cạnh.Tại các cơ sở sản xuất bún,những chiếc thùng bằng nhựa màu xanh là dụng cụ dùng để ủ bột, lớp bọt trắng sùi lên mépthùng, có mùi chua Làm bún bắt buộc phải ủ gạo từ 2 đến 3 ngày cho lên men, sau đó mớilàm tiếp các công đoạn khác Họ dùng tay trần để thực hiện công đoạn nhào và trộnbột Theo kết quả tham vấn người dân thường ngâm gạo, ngâm bột từ nguồn nước giếngkhoan Anh Bốn nói rằng nước như vậy là sạch bởi nó được lọc qua than đá, sỏi, cát Ngườidân thôn Phú Đô cho biết: Hàng tuần, xã vẫn thường tổ chức tuyên truyền về vệ sinh an toànthực phẩm và nhắc nhở người làm nghề nâng cao ý thức trên loa phát thanh của thôn và
Trang 13trong các kỳ họp toàn dân Kết quả phân tích mẫu nước thải, khí thải ở làng nghề của ngànhchức năng cho thấy, hầu hết đều vượt tiêu chuẩn cho phép gấp nhiều lần Không những ảnhhưởng đến cuộc sống, sức khoẻ của người dân, ô nhiễm làng nghề còn làm ô nhiễm luôn cảnguồn nước nước mặt, đến nỗi một số nơi, cỏ cây, hoặc tôm cá dưới ao không thể sống nổi Mẫu nước thải tại hệ thống cống,hàm lượng BOD vượt tiêu chuẩn cho phép Hiện nay, làngbún Phú Đô trung bình sản xuất 50 tấn bún/ngày, cung cấp cho gần một nửa thị trường HàNội Theo kết quả khảo sát của Viện Khoa học và Công nghệ môi trường – Đại học Báchkhoa Hà Nội, thì mẫu nước thải tại hệ thống cống chung cuối làng có chứa hàm lượng BOD vượt tiêu chuẩn cho phép từ 3 – 4 lần, cặn lơ lửng, chất hữu cơ, nitơ,phốt pho trong nước thải rất cao gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng
Màu đục của nước từ quá trình làm bún xả trực tiếp ra mương
Sơ đồ sản xuất bún của làng bún phú đô:
Nước thảiNước thảiLàm lạnh và vớt bún
Thấu bộtNước sôiNước Tách nước chuaXay bộtủ chua (48 h) Nước thải
Nước thảiNước
GạoNgâm gạo
Trang 14Bảng 1.2 Nguyên liệu đầu vào, đầu ra để sản xuất được 1 tấn bún
T
T
Các công
đoạn
g
Sản
1 Đãi gạo - Gạo
- Nước sôi
850 kg0,25m3
Bột sơchín
Búnchín
1000kg
0,5 m3
(mang theobột hòa tan)
Xỉ than 11kgVắt bún và làm chín
Trang 158 Rửa bún - Bún chín
- Nước
1000kg1,5 m3
Búnnguội
1000kg
Bảng 2: Các thông số ô nhiễm trong nước thải làng bún Phú Đô
Viện Công nghệ sinh học, 2015
Như vậy để chế biến được 1 tấn bún cần có 450 kg gạo, 10,25 m3 nước, 52 kg than vàđiện năng, và sẽ thải ra môi trường 9,55 m3 nước thải, 11 kg xỉ than-Chất thải rắn
Nước thải sản xuất phát sinh chủ yếu từ các công đoạn vo gạo, ép bột và từ côngđoạn cắt bún (đối với quy trình sản xuất bún tươi) Nước thải sản xuất cùng với nước thảisinh hoạt và chất thải chăn nuôi (chất thải chăn nuôi không được xử lý được bơm rửa, xả rarãnh thoát nước) được tiêu thoát chung ra mương rãnh quanh làng rồi đổ ra ao hồ, đồngruộng và sông ngòi gây tác động xấu tới sản lượng nuôi trồng thủy sản cũng như sản lượnghoa màu Do nước thải với lưu lượng lớn lại không được bảo dưỡng thường xuyên nên cónhiều đoạn mương rãnh vốn làm nhiệm vụ tiêu thoát nước thải và nước mưa bị bồi lắng dohàm lượng chất rắn lơ lửng trong nước thải cao, dòng chảy không lưu thông được bốc lênmùi hôi thối nồng nặc, đây là kết quả của quá trình phân hủy các chất hữu cơ trong nướcthải do nước thải lâu ngày, gây ô nhiễm môi trường không khí của làng nghề Đây cũng lànguy cơ tiềm ẩn gây ra dịch bệnh cho người dân sinh sống ở đây
Mặt khác, nước thải từ hoạt động chăn nuôi không được xử lý dưới bất kỳ một hìnhthức nào (chẳng hạn như biogas) nên các chất thải và nước thải từ hoạt động chăn nuôi cũng
Trang 16xả thẳng vào hệ thống tiêu thoát nước trong làng và các ao hồ nhỏ trong làng gây bồi lắnglàm tắc nghẽn dòng chảy và làm ô nhiễm môi trường hệ thống ao hồ nhỏ và khu vực xungquanh.
Nước thải không xử lý gây ô nhiễm không chỉ đến nguồn nước mặt mà còn có tácđộng đến nguồn nước ngầm tại đây Nguồn nước chủ yếu là nước giếng khoan cũng đang bịnhiễm bẩn do tác động của nước thải ngấm xuống đất ảnh hưởng đến chất lượng nướcngầm
Từ những phân tích trên cho thấy do môi trường sống chịu nhiều tác động như vệsinh công cộng không tốt, nước thải phân rác ứ đọng tạo điều kiện cho các ổ dịch bệnh pháttriển, chuồng trại gia xúc không hợp vệ sinh, gần nhà ở, tăng ruồi, muỗi truyền bệnh
• Trong quá trình sản xuất bún lượng nước thải thải ra cống rãnh các hợp chất hữu cơ
dễ phân hủy,theo thời gian bốc mùi chua,hôi thối và sinh ra khí NH3, H2S, CH4 gâycảm giác khó chịu,ảnh hưởng đến sức khỏe người dân làng nghề
• Sản xuất bún với nguyên liệu đầu vào như gạo,rong, lá chuối dùng để lót bún thải ra
1 lượng chất thải rắn như vỏ,sơ Phần lớn cặn gạo đổ xuống cống rảnh gây tắc nghẽn,sau thời gian bị phân hủy có mùi hôi, thối Nguồn này góp phần gây nên ô nhiễm môitrường đất và trực tiếp gây ô nhiễm không khí cũng như ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt,nước ngầm tại làng nghề
CHƯƠNG 3: HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TẠI LÀNG BÚN PHÚ ĐÔ
3.1 Hiện trạng môi trường nước
Trang 17Nước thải ra trong chế biến bún có chứa tinh bột và nhanh chóng phân hủy,lên men axit> bên cách đó nwocs thải chăn nuôi từ các hộ gia đình phần lớn chưa qua xử lý mà thải thẳng vào hệ thóng rãnh nên nước thải có hàm lượng COD,BOD,coliform cao,mì thối, độ pH thấp.Chất thải chăn nuôi xả chung vào hệ thống rãnh thoát trong làng bồi lắng gây cản trở dòng chảy Nước thải sinh hoạt chứa các chất NH4+, COD,BOD, chất tẩy rửa cuungx được đổ thẳng vào sông,kênh trong làng
Trước tìn trạng nước thải ô nhiễm như trên nhưng lại chưa có hệ thống xử lý nước thải mà ddoorr trực tiếp ra các cống rãnh,hồ,ao làm cho hệ thống nước mặt trong làng có màu đen kịt và xanh lục, bốc mùi khó chịu
3.1.1 Hiện trạng môi trường nước mặt
Để đánh giá hiện trạng môi trường nước mặt làng nghề sản xuất bún Phú Đô, tiến hành lấymẫu tại 5 vị trí và qua 2 đợt quan trắc tháng 4 (mùa khô) và tháng 10( mùa mưa) năm 2016
Vị trí lấy mẫu :