1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hỏi - đáp Lịch sử nghìn năm văn hóa Thăng Long - Hà Nội: Phần 2

314 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 314
Dung lượng 22,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp nối phần 1, phần 2 của cuốn sách này sẽ bao gồm 400 câu hỏi đáp, từ câu hỏi 601 đến câu hỏi 1000 liên quan đến văn hóa Thăng Long Hà Nội. Phần này do TSKH. Nguyễn Hải Kế và TS. Lâm Mỹ Dung biên soạn. Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

PHĂN THỨ BA

VÂN HÓA

Trang 2

IX- ÃN, MẠC, ử, ĐI LẠI

C â u h ỏ i 601: C h u y ện ă n u ố n g tr o n g c u n g đ ìn h tr iề u đ ạ i

k h iế n c h o sử th ầ n N gô S ĩ L iên h ạ b ú t “Vì t h ế cá c v ư ơ n g h ầ u

b â y g iờ k h ô n g ai là k h ô n g h o à th u ậ n k ín h sơn, m à k h ô n g có

lỗ i lệ c h v ì sự n h ơ n m ặ t k iê u c ă n g ”.

T rả lời: Đó là lời b ìn h của sử gia Ngô Sĩ Liên k h i chép về cảnh

cung đình T h ăn g Long thòi vua T rần H oảng - tức T rần Thánh

Tông: “m ỗi kh i xong buổi chầu th ì vào trong điện và lan đình, cùng nha u ăn uống, hoặc có k h i tối trời không về th i đ ặ t gối dài, chăn rộng ngủ liền giường với nhau Còn n h ư kh i lễ lớn, chầu mừng, tân khách, yến tiệc, th ì không p h â n biệt ngôi th ứ cao thấp Vi th ế các vương h ầu bây giờ không ai là không hoà th u ậ n kín h sơn, m à không có lỗi lệch vì sự nhơn m ặ t kiêu căng".

C âu h ỏ i 602: T hời T rần, ở b ế n Đ ô n g củ a K inh th à n h có

đ iệ n “P h o n g T h ủ y ”, nơi đ ể k h i x a g iá đ i ra trú c h â n ở đấy,

c á c q u a n đư a đ ó n N h ư n g tê n d â n g ia n , h a y tê n tụ c g ọ i là

đ iệ n Hô Trà (g ọ i c h è ) V ì sao?

T rả lời: Theo sử cũ th ì mặc dù có tên là điện “Phong Thủy”-

nơi để vua trú chân như ng dân gian quen gọi là điện gọi chè, vì thuở ấy dân T h ăn g Long, từ dần cho đến vua quan đểu có thói quen dùng tr ầ u cau và chè xanh K hi xa giá của vua đi ra, trú chân ở đấy các q u an dâng trầ u cau và chè

Trang 3

364 NGÀN NĂM LỊCH sử, VĂN HÓA THĂNG LONG - HÀ NỘI

C âu h ỏ i 603: “V ua tô i th u n g d u n g u ố n g rư ợu dưới trăng

Đ êm tro n g trẻo ch ư a đ ế n lú c k h u y a k h o ắ t, tá m m ó n báu bày ra k h ắ p bàn Hũ rượu x u â n r ó t đ ầ y c h é n q u ỳ n h tư ơ n g”

Là cản h ẩm th ự c củ a tr iề u đ ìn h nào?

T rả lời: Đó là m ột “Tiệc đêm ngắm non xa” của triề u đình

nhà Lê thòi Lê Tư T h à n h (1442-1497) tức v ua Lê T h á n h Tông.Nhưng, đấy không p h ải lầ n duy n h ấ t tro n g triề u đình Đông

Kinh! Theo Thơ Lê T h á n h Tông th ấ y có n h ữ ng dịp vua tôi triều

đình thời ông “Uống rượu vối kh ách ”, “vừa uống rượu, vừa làm thơ”, “thơ n hư rá n g chiều n h ả óng ả”, “kẻ ngâm xen lẫn tiếng bình

ồn ào Lúc bể tôi cúi đ ầu chào r a về, bóng tră n g trê n song cửa phía đông đã ló” K hông ít dịp, k h i th ì “trong chén rượu an h vũ, tìn h thêm cảm khái, người nghĩa sĩ, ấp ủ cái chí ng àn dặm , bũ a lại “chủ khách tra n h lu ậ n sôi nổi như sấm chuyển tro n g đêm, m à quên

p hắt cả trô n g tro n g th à n h canh ba đã điểm”

C âu h ỏ i 604: H ải T hư ợng L ãn Ô ng - Lê H ữu T rác từ n g

ch ép tớ i b a o n h iê u tê n lo ạ i m ứ t có ở K in h đô?

T r ả lời: Trong sách N ữ công thắ n g lã m , cụ H ải Thượng

(1720-1792) có h ẳ n m ục riên g về loại m ứt, chép tới 30 tê n loại mứt: m ứt bí, m ứ t th iê n môn đông, m ứ t ngó sen, m ứ t th a n h yên,

m ứt cam sàn h , m ứ t chanh, m ứt q u ất, m ứ t mơ, m ứ t sấu, m ứ t khế, m ứt q u ả d ầu dầu, m ứt củ cải, m ứ t mướp đắng, m ứ t hồng,

m ứt trá m trắ n g , m ứ t dừa, m ứ t quả lêm, m ứ t hoa bưởi, m ứ t n ụ bưởi, m ứt bưởi xanh, m ứt gừng, m ứ t nhót, m ứ t dứa, m ứ t n h ã n ,

m ứt cư hiên, m ứt rẽ lan, m ứt mưốp hương, m ứ t k h o ai lang, m ứ t

cà pháo

C â u h ỏ i 605: T ron g tụ c n gữ , ca dao c ổ tr u y ề n c ủ a T h ă n g

L ong - Hà N ộ i có n h ữ n g câ u v ề n ô n g sả n , th ự c p h ẩ m , d ặ c

sả n gắ n vớ i tê n là n g , h o ặ c tê n đ ịa d a n h kh ôn g?

T rả lời: Vùng, xứ, quê nào cũng có n h ữ ng câu tụ c ngữ, ca dao

Trang 4

cổ gắn những đặc sản (thực phẩm , món ăn, nông sản ) vối những

tê n làng, tên xóm:

Xứ Nam (Hà Nam , Nam Định): “Rượu V ân La, cà Trác Bút,

b ú n Lộc H à” ,

Xứ Nghệ: “N h ú t T h an h Chương, tương N am Đ àn”,

Xứ Quảng: “Nem chua Hòa Vang, bán h đỗ Hội An, khoai lang

T rà Kiệu, thơm rượu Tam Kỳ”

N hưng chưa có vùng nào mà sô' lượng nhữ ng câu tương tự lại

n h iều n hư ở T hăng Long - H à Nội!

6 B ánh đ ú c L à n g T ó ♦ R ượu hũ làng N gâu, bánh

đ ú c trâ u làng T ó

+ Tên nôm làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, có cầu Tó bắc qua sông Nhuệ

Trang 5

366 NGÀN NĂM LỊCH sử , VĂN HÓA THĂNG LONG - HÀ NỘI

H o à n g M ai

8 Bưởi D iễn + C h ợ D iễn m ộ t th á n g sáu

phiên Bưởi V à n g trá i n g ọ t al

q u ê n n h ớ về.

/

+ V ù n g K ẻ D iễn gồ m cá c làng P hú D iễn, Đ ứ c Diễn,

Đ ình Q u á n , K iều M ai,

N g ọ c L o n g , N g u yê n X á,

V ă n Trì + N ay th u ộ c P hú D iễn và

M inh K hai, h u yệ n T ừ Liêm

9 Cá, sâm cầ m H ồ T â y + C á rô đ ầ m S ét, sâ m cầm

H ổ T â y + Ối Q uảng Bá, cá hồ Tây

s ô n g Đ ơ + H u yệ n T h a n h Trì kia làng

T h ịn h Liệt Đ ồn cá rô

đầ m S é t là ngon.

+ N h ấ t bé o n h ấ t bù i cá rô

Đ ầ m S é t + C á rô đ ầ m Sét, sâ m cầm

Hổ T â y + N ước m ắ m kẻ Đ ô , cá rô

đ ầ m S é t + Rượu làng M ơ, cá rô đầm

S ét

+ Đ ầm th u ộ c làng S é t -

T h ịn h L iệ t + Nay thuộc phường Thịnh Liệt + Đ ại tứ c làng Đ ạ i Từ, xã Đ ại Kim , h u yệ n T h a n h Trì

Ngọt thay cái quả cam tròn

V ừa th ơ m vừa m á t hãy còn ỏ C anh.

+ T ên nôm chỉ làng Phương

C anh (xã X uân Phương, huyện T ừ Liêm ) và V ân Canh (xã V ân C anh, huyện Hoài Đức)

Trang 6

12 C h è v ố i C ầu T iê n + C h è vố i C ầu T iê n , bún

sen T ứ K ỳ + C ơm V ă n G iáp, tá p c ầ u

G iền, chè q u á n T iê n , tiền

T h a n h N ghệ

+ C ầ u T iê n trên đường Hà

N ội - V ăn Đ iển, ở địa phận

là n g S é t - T h ịn h Liệt -

T h a n h Trì + Phường T h ịn h Liệt.

+ Thái Đô làm kẹo mạch nha

K ẻ V ò n g làm cố m đ ể mà tiế n vua.

+ T ên nôm th ô n D ịch V ọng,

th u ộ c xã D ịch V ọng,

h u yệ n T ừ Liêm + N ay là phường D ịch V ọng,

th iế u gì Dưa hấu B ằng Hạ đâ u bì

đư ợc chăng.

+ T h ô n V ă n n g ọ t nư ớc nhãn lồng

Trưa hè H oàng Liệt, B ắc

H ồng xe m dưa + D ư địa c h í t h ế k ỷ X V của

N guyễn Trãi Đ ạ i N a m

n h ấ t th ố n g c h í th ế kỷ XIX giải thích rõ hơn: "Q uả vải

cá c xã Trường Cát, C át

Đ ông đều có, duy các xã Thanh Liệt và Bằng Liệt là tốt nhất, có lệ thượng tiến"

+ B ằng gọi tẳ t tê n làng Bằng Liệt, có 2 xó m B ằng Thượng, Bằng Hạ, tổng

Q u a n g L iệ t - T h a n h Trì + T h u ộ c phường H oằng Liệt,

q uận H oàng Mai

J

Trang 7

368 NGÀN NĂM LỊCH sử, VĂN HÓA THĂNG LONG - HÀ NỘI

17 G ạo T á m M ễ Trì + C ốm V ò n g , gạ o tá m Mễ

Trì

T ư ơ n g B ần, h úng Láng còn gì n gon hơn?

+ Mễ Trì thơm gạo tám xoan,

D ự hương, dé c á n h th ó c

v à n g n h ư tơ

+ Làng M ễ Trì, huyện Từ Liêm

18 G iò C hèm , + G iò C h è m , nem V ẽ + T ê n nôm củ a làng T h ụ y

P hương, huyện T ừ Liêm

19 H úng Láng + Dưa La, h úng Láng, nem

Báng, tư ơng Bần + M ạ Đ ơ Bùi, m ùi kẻ Láng + Cá kẻ Canh, hành kẻ Láng + Đi đâu mà chẳng biết ta

Ta ở kẻ Láng vốn nhà trổng rau

Rau thơm, rau húng, rau mùi Thìa là, cải cúc, đủ mùi hành hoa

Mồng tơi, mướp đắng, ớt, cà

Bí đao, đậu ván, vốn nhà trồng nên

Anh giúp em đôi quang tám

dẻ cho bền Mượn người lịch sự gánh lẽn kinh kỳ

+ Kẻ chơi m ộ t h u yệ n T h a n h Trì

M ọc thì g ạ o xáo, L áng th ' trồng rau

+ T ê n nô m củ a Y ê n Lãng gần cửa B ảo K hánh,

th à n h T h ă n g Long + N ay th u ộ c p h ư ờng Láng

Trang 8

21 Khoai lang Triều Khúc + T iề n là n g M oc, th ó c làng

L àng V ò n g làm cố m để

m à tiế n vua

+ A n Phú, Đ o à i M ôn, T iên Thượng

+ N ay th u ộ c phường N ghĩa

Đ ô, q uân c ầ u G iấy

23 N em V ẽ + Người ơi, người có nhớ quê

GIÒ C h è m , ne m V ẽ , q uạt

lá đ ề n h ư xưa

+ Tên nôm của xã Đông Ngạc

24 N ư ớc m ắ m K ẻ Đ ô + X e m th ứ tự s ố 10 + T ên nôm củ a làng Q uỳnh

Đ ô (T h a n h Trì)

25 T á p cẩu T iê n + C ơm V ă n G iáp, tá p c ầ u

G iền, c h è q u á n T iên, tiề n

T h a n h N ghệ

+ X em th ứ tự s ố 12

26 Ối Q u ả n g Bá + X e m th ứ tự s ố 9 + Phường thuộc thôn Thượng,

huyện V ĩn h T huận + T h u ộ c phường Q uảng An,

q uận T â y Hổ

27 Rượu L àng T h ụ y + D ư đ ịa c h í - t h ế k ỷ X V ,

Nguyễn Trãi ghi: phuờng Thụy Chuơng nấu ruỢu ngon + L àng T h ụ y nấu rượu la đà

cả đê m

+ Gọi tắ t T h ụ y C hương, còn

là phường, sau đ ổ i T hụy Khuê, huyện V ĩnh T huận + P hố T h ụ y Khuê,

q uận T â y Hổ

28 Rượu Kẻ M ơ + Rượu Kẻ Mơ, cờ M ộ Trạch

+ Làng M ơ cất rượu cay nồng + Cơm Mơ thịt nướng kho Tàu

R ượu M ơ em ró t cả bầu

an h sa y + D Ư đ ịa c h l - t h ế k ỷ X V ,

Tư ơng M al, Mai Đ ộng,

q uận Hai Bà Trưng

Trang 9

370 NGÀN NĂM LỊCH sử, VĂN HÓA THĂNG LONG - HẢ NỘI

29 Vải, nhãn, hồng của + B ằng vả i, B ằng dưa, Lĩnh + Q u a n g (gọi tắt tên làng làng Q uang cua, T ứ bún Q u a n g Liệt)

+ Ối Đ ịn h C ông, nhãn lồng làng Q u a n g

+ V ải n g o n thì nhất làng

+ Thanh Liêt, huýện Thanh Trì

B ằng K h ắ p th à n h Hà Nội hỏi rằ n g đâ u hơn

+ ớ t c a y là ớ t Đ ịnh C ông

N hãn n gon là loại nhãn lổng là n g Q uang

Còn sang bên Gia Lâm, với: cải Táo, cháo Dương, tương sủ i;.,Qua Hoài Đức, Thạch ThâT, Phúc Thọ, Ba Vì, h ế t nhớ “rư ợu Đông Lâm, b ầu Tri Lai, khoai Tăng Cấu, dưa h ấ u Yên Bồ, cháo làng Ghề đã lại “Nhớ cơm p h ố Mía, nhớ chè Đông v iê n ’

Về Mỹ Đức với “R au sắn g chùa Hương”

T h ậ t không th ể nào kể hết!

C â u h ỏ i 606: Có t h ể k ể được h ế t c á c m ó n q u ấ củ a n g ư ở i

Hà N ộ i k h ô n g ?

T rả lời: T h ậ t khó m à kể hết!

Trong sách Ba mươi sáu phô'phường, Thạch Lam (1910-1942)

đã dành h ẳn một mục Q uà H à Nội để kể về các món quà theo m ù a, theo thời tiết, the'o giờ ăn, theo hìn h dáng, theo chuyên môn th e o mặn, ngọt, theo thôi th ì đủ loại mà v ẫn p hải hơn m ột lần “V ẫ n quà H à Nội”, “Phụ thêm vào phở”, “Bổ k h u y ết”, “Vài th ứ n ữ a ”

N hững phụ thêm , bổ k h u y ết ấy , dài không kém chính v ăn m à nào đã h ết đâu Đấy là thòi Thạch Lam, còn bây giờ đã có lu ậ n á n thạc sĩ, tiến sĩ về “Q uà H à Nội - V iệt N am ”, vẫn e rằ n g p h ải có h ẳ n một ngành “khảo quả!” Bởi quà tức là người

C â u h ỏ i 607: “R ận r ồ n g ” - m ột tr o n g “T h ư ơ n g n h ớ m ư ờ i

h a i” củ a n h à v ă n Vũ B ằ n g v ề H à N ộ i là m ó n gì?

T rả lời: Vũ Bằng dành h ẳ n “tháng m ột thương về n h ữ n g ngày nhê bụng con rận rồng”, hay rõ hơn là tru y ền kỳ về con cà cuống.

Trang 10

Khắp đồng bằng, hồ ao, sông rạch Việt Nam ngày trước luôn có nhiều còn cà cuống H à Nội đầu th ế kỷ, trong ký ức của nhà văn Vũ

B ằng “cort đường từ Lò Sũ về Bờ Hồ đến Bà Kiệu, lá rụng và cà cuổng bay cứ rào rào làm lu cả bóng đèn điện ngoài đường”

Tục truyền, người Việt từ sớm đã từ n g ăn cà cuông và chính

T riệu Đà đã gửi cho vua H án món này với tên gọi “quế đố” - con

s â u quế Vuá H án cũng p hải tấm tắc vì món thơm m ùi quế N hưng

k h i có người bảo rằ n g đó chỉ là giông sông ở dưới nước, vua H án

p h á n “Đà nói láo” (Đà chi cuông dã), từ đó m à có tên “đà cuông” rồi

th à n h “cà cuông”

Người H à Nội sàn h món trứ n g cà cuống: “những chùm trứ ng

x an h xanh, vàng vàng như hoa cà, hoa cải”, th ịt cà cuôhg “nhận

n h ậ n , bùi bùi, beo béo m à lại th a n h th an h có th ể ăn cả trăm con không biết chán” Và hơn h ế t là nưổc m ắm thơm cà cuống ăn với

b á n h cuốn, cháo ám , chả

Vì thế, “trê n các đường phô" H à Nội, những người đàn bà đi bán

cà cuông, đội th ú n g ở trê n đầu, ta y đung đưa đi trong im lặng không rao một tiếng m à tà i thế, n h à nào cũng biết để gọi vào

m u a ” Cần gì câu, cà cuống “h ữ u xạ tự nh iên hương” mà!

C âu h ỏ i 608: V ù n g v e n Hồ T ây có lo ạ i qu ả g ì gắn vớ i h a i

đ ịâ đanh?

T rả lời: Không ít những loài hoa, loài quả thường có kèm theo

đ ịa danh n hư đào N h ậ t Tân, n h ã n lồng H ưng Yên

Hồng xiêm (tên khoa học là A chrassapota) có m ặt ở khắp nơi

n h ư ng chỉ có ỏ H à Nội, vùng Ven Hồ Tây có loại quả gắn với hai địa danh, đó là hồng xiêm X uân Đỉnh) ngọt, mịn, thơm đến thế

C âu h ỏ i 609: S e n v à cốm ở Hà N ộ i có g ì liê n quan?

T rả lời: Sen ở đầm , hồ, ao sạch, và đầu bảng là: Đây hoa thiên

lý, đây sen Tây Hồ.

Cốm được làm từ nếp cái hoa vàng, trồng trê n các cánh đồng

bờ xôi ruộng m ật của Từ Liêm - c ất lên tin h ch ất cốm Vòng

Trang 11

372 NGÀN NĂM LỊCH sử, VĂN HÓA THĂNG LONG - HÀ NỘI

Không biết từ bao giò h ạ t cốm xanh n h ư h ạ t ngọc ấy lại được người H à Nội đựng, bọc b ằ n g chiếc “đĩa lá” m en x an h để trở th à n h

th u H à Nội, “gió thổi m ù a th u hương cốm m ới” (Nguyễn Đ ình Thi),

“m ùa cốm xa n h về thơm bàn tay nhỏ, cốm sữa vỉa hè thơm bước chân qua” (T rịnh Công Sơn).

C âu h ỏ i 610: Người xư a , như câ u c a d a o cổ, m u ô n “ch o lòn g ai v u i” đ ã “cô" c ô n g ” là m v iệ c gì?

T rả lời: Có n h iều cách để vui lòng n h au , n h ư ng trong m ù a đi

chạm ngõ, xin cưới, “ra m ắt” của gái tra i mỗi độ th u về người xưa

đã hóa th â n tro n g câu ca dao để đưa ra chuẩn:

G ắng công kén hộ côm Vòng,

Kén hồng Bạch Hạc cho lòng ai vui

Cốm Vòng đã tin h thơm , như ng phải có hồng Bạch H ạc mới trọ n vẹn th à n h cặp, th à n h m âm , h à i hòa sắc m àu, hương vị

C âu hỏi 611: Các nhà văn Thạch Lam, Ngu yen Tuân, Vũ B ằ n g

dã đ á n h g iá p h ở Hà N ội n h ư t h ế nào?

T r ả lời: Khi viết về Quà H à Nội, Thạch Lam (1910-1942) cho

rằng: “Phở là một thứ quà th ậ t đặc biệt của H à Nội, không chỉ riê n g

ở H à Nội mới có, nhưng chính là vì chỉ ở H à Nội mới ngon Đó là th ứ quà suốt ngày của tấ t cả các hạn g người, n h ấ t là công chức v à thợ thuyền Người ta ăn phở sáng, ăn phở trư a và ăn phở tối”

Vũ B ằng (1913-1984) từ ng viết h ết phở gà đến phở bò của H à

T hành, đã n h ậ n xét: “Phở đôi vối một h ạn g người, không còn là một món ăn nữa m à là một thứ nghiện, n hư nghiện thuôc lào, thuốc lá, trà tươi, ”

Nguyễn T uân (1910-1987) khi đang ỏ tậ n th ủ đô P h ầ n L an , nhớ về H à Nội đã viết h ẳn m ột tù y b ú t Phở Theo ông, phở: “m ộ t

m iếng ăn kỳ diệu của tấ t cả nhữ ng người V iệt N am ch ân c h ín h ”

theo ông dù có ăn phở ở đâu cũng “không bao giờ có th ể ngon được

bằng b á t phở cổ truyền Hà Nội ăn ngay bên lò th a n đỏ lửa g iữ a ngàn năm văn v ật này”

Trang 12

C âu hỏ i 612: Q u á n b á n h tô m n ổ i tiế n g c ủ a H à N ội là ở đ â u ?

T r ả lời: H à Nội có n h iều qu án b án h tôm Nhưng, từ những

n ăm 50 th ế kỷ XX trở lại, q u á n b án h tôm Hồ Tây dẫu không phải

là q u án duy n h ấ t ở H à Nội, n h ư n g bán h tôm Hồ Tây đã đi vào kỷ niệm của nhiều th ế hệ người H à Nội và người đến T hủ đô

C â u h ỏ i 613: P h ạ m Đ ìn h H ổ (1768-1839) v iế t v ể n g ư ờ i

T h ă n g L o n g u ố n g c h è n h ư t h ế n à o ?

T rả lời: Tác giả của Vũ tru n g tùy bút đã dàn h h ẳn một mục để

“cách uốhg chè” để viết về cách uống chè của người Thăng Long, tro n g đó có cả ông nữa:

“Ta sinh trưởng đương lúc th ịn h thòi đời c ả n h Hưng, trong nước vô sự, các n h à quý tộc, các con em n h à quý thích đều đua chuộng xa xỉ, có k h i m ua m ột bộ ấm chén đến vài mươi lạng bạc Thường có n h iều người đến chơi các hiệu chè, th ăm dò các phô" buôn, vác tiền h ế t quan này, chục khác để m ua lấy trà ngon Lúc ngồi rỗi, ph a trà uống vối n h au , lại đ á n h cuộc xem chè đầu xuân năm nay sớm hay m uộn, giá chè năm nay cao hay hạ Kẻ th ì ưa

th a n h hương, người th ì th ích h ậ u vị Kén hiệu, trỏ tên m ua cho được chè ngon, bày k h ay chén ra nếm thử Thậm chí có kẻ đ ặt tiền

m ua cho được h iệu chè C hính Sơn, gửi tà u buôn đ ặ t m ua cho được kiểu ấm chén mối lạ, cách h iếu thượng đến th ế là cùng cực”

Khi Phạm Đ ình Hổ về dạy học ở thôn K hánh Vân, tổng Hà Liễu “các học trò K inh th à n h cũng thưồng gửi quà về hỏi thăm , tuy cơm rau nước lã không được dư giả cho lắm, nhưng chè tà u thì không lúc nào th iế u ” K hi rả n h rỗi ông “thường cùng với người đàn anh trong làng là Nho sinh họ Tô dạo chùa Vân, pha chè uôhg

nước, hoặc trèo lên cái gò ba tần g ở phía tây xóm ấy rồi múc nưốc

suối để pha chè uống chơi”

Trong cách cảm của ông “chè th ú vị là ở chỗ cái tin h nó sạch

sẽ, cái hương nó thơm tho Buổi sán g gió m át, buổi chiều tră n g trong, với bạn rượu n àn g thơ cùng làm chủ khách mà ung dung

p ha ấm chè ra thưởng thức để có th ể tỉn h được mộng trần , rử a

Trang 13

374 NGÀN NĂM LỊCH sử, VĂN HÓA THĂNG LONG - HÀ NỘI

được lòng tục ” Vì thế, ông cho rằng: “nếm chè ở trong đám rụồi nhặng bày ấm chén ở cửa chợ bụi bặm trong lúc ồn ào đinh óc, vơ vấn rộn lọng, th ì dẫu ấm cổ đẹp đẽ, chè ngon n g á t lừng, ta chẳng thây uống chè như th ế th ì có th ú vị gì Giá có gặp ông tiên chè th ì cũng cho lời nói ta làm p hải”

C âu h ỏ i 614: “Q uán ẹ ó c Ịiêu x iê u m ộ t câu th ơ ”, q u á n ở

Hà N ôi th ư ờn g b án gì?

T rả lời: “Q uán cóc liêu xiêu m ột câu thơ” là lòi ca trong m ột

bài h á t về Hà Nội N hưng H à Nội không gọi là quán cóc Chỉ có những quán dựng tạm bên các ngả đường H à Nội, nơị dễ d à n g nhâm nhi chén rượu trắn g , chén tr à mà người H à Nội cũng n h ư khách đến Thủ đô r ấ t khó quên

C âu h ỏ i 615: B ia được sả n x u ấ t tạ i Hà N ội từ b a o giờ?

T rả lời: Năm 1890 người Pháp đã xây dựng n h à máy bia tạ i

Hà Nội (chủ yếu là để phục vụ họ và n h ũ n g công chức Việt N am tai một sô" th à n h phô" lớn ỏ m iền Bắc) N hà m áy bia mối đầu m a n g tên một người Pháp là Hommel, sản x u ất chỉ 150 lít/ngày do 30 người lao động được Pháp đào tạo Sau khi H à Nội dược giải p h ó n g (1954), n h à máy bia đổi tên là N hà máy Bia H à Nội (Nay lạ T ổng công ty cổ p h ần bia - rượu - nước giải k h á t Hà Nội)

C ậ u h ỏ i 616: B iạ hơi H à N ội x u ấ t h iệ n từ bao giờ?

T rả lời: Cho đến năm 1963, người H à Nội vẫn chỉ biết u ố n g

Trang 14

gửi sản phẩm biếu xén cho ai”.“Bia hơi H à Nội là loại gì mà phải đựng vào th ù n g phuy?” H iểu được ý Bác nhắc khéo về vấn đề bao

bì của bia H à Nội chưa được ổn, an h em trong N hà m áy đã bàn bạc với n h a u sản x u ất bằng được th ù n g đựng bia Sau một thời gian nghiên cứu, bằng nguyên v ậ t liệu sẵn có trong nước, anh em trong

N hà m áy đã chế tạo th à n h công th ù n g đựng bia 50 lít

M ột lần khác, Thủ tướng Phạm V ăn Đồng xuống thăm mỏ

th an (Q uảng Ninh) T hủ tướng hỏi an h em công n h ân mỏ than: Anh em có nguyện vọng gì không? Thưa Thủ tướng, chúng tôi chỉ

có nguyện vọng là được uống bia ạ! Sau lần ấy, Thủ tướng đã chỉ thị cho N hà m áy Bia Hà Nội ph ải sản x u ất bia phục vụ cho anh chị

em công n h ân vùng th an H ai th á n g sau, N hà máy Bia Hà Nội đã chế tạo ra th ù n g chứa xitéc loại 10.000 lít bia để trên xe tải chở bia

xuống vùng mỏ phục vụ cho an h em công nh ân và dược an h em

công n h â n vùng th a n đón n h ậ n với niềm vui sướng

Đó chính là nền móng cho sự ra đời và p h át triển của bia hơi

Hà Nội ngày nay

C â u h ỏ i 617: Q u ả n g c ạ o m ó n g ì H à N ội th ư ờ n g k è m th e o

100% ” ?

T r ả lởi: Hà Nội thời k in h tế th ị trường, quảng cáo đầy đường,

đầy phô" Từ trụ c chính đường cao tốc Nội Bài về đã sừng sững những đường, cột, những biển quảng cáo cao như nh à cao tầng đến những dòng quảng cáo mời chào, b ắ t m ắt, bắt tú i tiền người tiêu dùng m uôn hình, vạn trạng Nhưng, dễ n h ận ra một thứ quảng cáo kèm theo dòng 100%, đó là bia hơi Hà Nội Lạ thật! Hà Nội tụ hội những qu án bia đủ các hãn g nhưng không có loại bia hơi nào kèm với 100% n hư bia hơi Hà Nội,

Để bán được nhiều h àn g hơn? C ũ rg có! N hưng hơn cả là vì

uy tín của bia hơi H à Nội và hợp với “gu” của người thưởng thức

C âu h ỏ i 618: T h ạ c h L a m (1910-1942) k h i v iế t v ể q u à H à

Nội đ ã d ù n g h ì n h ả n h gì d ể g ọ i c h ợ Đ ồ n g X u â n ?

Trả lời: Nếu dân gian đã từng gọi chợ Đồng Xuân là nơi “vui nhất”,

Trang 15

376 NGÀN NÄM LỊCH sử, VÄN HÓA THĂNG LONG - HÀ NỘI

“to n h ấ t” - một thòi của H à T h àn h , th ì tro n g Quà H à N ội, Thạch

Lam đã viết: Chợ Đồng X uân - cái “bụng” của th à n h phô", là nơi mà những v ật liệu cần cho các cao lâu từ các vùng quê và ngoại ô dồn đến 0 đây, chúng ta được th ấ y các thực phẩm còn giữ nguyên hìn h trước khi biến th à n h các món xào n ấ u ngon làn h dưới b à n tay của những đầu bếp nổi d an h hay các bà nội trợ T ấ t cả của ngon

v ật lạ các nơi đều đem đến để hiến cho sự thưởng thức sàn h sỏi của người Hà Nội

C âu h ỏ i 619: N gư ời T h ă n g L o n g - H à N ộ i từ n g đ ế n ch ợ

Chợ Tây (nay là k h u vực bến ôtô Kim Mã, sau chuyển về chợ Ngọc Hà)

Đâ"y là những chợ “chuyên”, còn nếu như “vui chân đ ến chợ Đồng X uân”, q ua thống kê của bài ca dao xưa:

Giữa chợ có a n h hàn g dừa,

H à n g cam, hà n g quýt, hàng dưa, hàng hồng

Quá một chút nữa là những hàng lê, hàng sấu, hay bưởi, bòng

C â u h ỏ i 620: C on cá lă n g c ủ a v ù n g V iệ t T rì là m n ê n m ó n

ă n n ổ i tiế n g n à o c ủ a v ù n g Hà N ội?

T r ả lời: Có cá đổ vạ cho cơm Cá là thực đơn phổ b iến củ a

người Việt

“H àng Cá” - m ột phô" của T hăng Long cũng có từ lâu N h ư n g

“Chả Cá” th à n h tên cả một phô" đến làm nhòa n h ạ t tê n phô" H à n g Sơn trước đó, rồi lại nổi tiếng với cụ Lã Vọng tay xách cần, ta y x âu

cá bưốc ra từ văn học như rủ, n h ư mòi th ì lại là sán g tạo - hay

Trang 16

đồng sáng tạo với ẩm thực H à Nội của gia đình họ Đoàn gốc xứ Đông - cụ Trưởng M ền gần m ột th ế kỷ nay.

Cùng vói những bún, lạc rang, th ì là, h à n h hoa, m ắm tôm và không th ể th iế u được tin h d ầu cà cuông, con cá lăng của vùng Việt Trì qua b àn tay vàng của các th ế hệ đầu bếp tà i hoa đã làm nên món ăn tin h diệu của người H à Nội - chả cá Lã Vọng

C â u h ỏ i 621: T hời T rần , tr o n g lầ n đ ến T h ă n g L ong, sứ

g iả n h à N g u y ê n là T rầ n P h u đã g h i lạ i m ộ t tậ p q u án của ngư ời H à N ộ i xư a Đ ó là tậ p q u á n gì?

T r ả lời: Đó là tục ăn tr ầ u “người sang dùng ông nhổ bằng

đồng có th ằn g nhỏ m ang kè kè theo bên cạnh, cả ngày tóp tép nhai trầ u không ngót m iệng”

Cũng là m iếng trầ u , n h ư ng người H à Nội lại cắt lá trầ u để têm cách điệu th à n h h ai cán h phượng, quả cau chỉ tước vỏ một nửa, tiện chũm, bổ tư, bổ sáu rồi úp vào nhau, đ ặt trong cơi đồng bóng sáng lộn Trong bộ đồ ăn tr ầ u còn có chiếc ống nhổ bằng đồng th au đựng quết trầu

C âu h ỏ i 622: N gười co n gái là n g rượu nổi tiế n g của T hăng

L ong - Hà N ội, k h i đi b án rượu đã k h u y ến cáo điều gì?

T rả lời: H ãy nhố lời cô gái ấy:

E m là con gái Kẻ Mơ

E m đ i bán rượu tìn h cờ gặp anh

Rượu ngon chẳng quản be sành

Áo rách khéo vá hơn là n h vụng m ay

Rượu lạ t uống lắm củng say Người khôn nói lắm hết hay hóa nhàm !

Hoá ra đâu chỉ vì lợi nh u ận , chỉ cho một đòi!

C â u h ỏ i 623: V ới Vũ B ằ n g - n g ư ờ i co n Hà N ội xa qu ê,

nhữ ng m ó n g ì là “m iế n g n g o n H à N ộ i”?

T r ả lời: “M iếng ngon nhớ lâ u ” - như ông cha ta đã tổng kết.

Trang 17

378 NGÀN NĂM LỊCH sử, VĂN HÓA THĂNG LONG - HÀ NỘI

Phải cách xa Hà Nội, với Vũ Bằng, phở bò, phở gà, bánh cuốn, bánh đúc, cốm Vòng, rươị, gỏi, bún, chả cá, th ịt cầy, tiế t canh cháo lòng là “miếng ngon H à Nội” Trong khi n h iều cái ngọt cái ngon chỉ là đầu lưỡi, “đ án h lừa ta và đem lại cho ta dư vị cay cay, đặng

đắng”, thì theo Vũ B ằng “d ụy chỉ có m iếng ngon H à N ội là không đánh lừa ai cả”.

C âu h ỏ i 624: “T a ở tr o n g th â m c u n g , sư ởi lò th a n th ú ,

m ăc 'áo h ồ câ u (á o d a cá o )” là v ị vua n à o tự k ể v ể ăn ở củ a

m ìn h ở tr o n g c ấ m th à n h T h ă n g Long?

T rả lời: Đó là câu của vua Lý N h ật Tôn (Miếu hiệu là Lý

Thánh Tông) - kh i nói với tả hữu vào m ùa đông đúng dịp đại h àn năm At M ùi (năm 1055) - cho th ấy một n ét về vua Lý ăn mặc th ế nào ở T hăng Long

C â u h ỏ i 625: Q ua c o n m ắ t T rần P h u - sứ g iả n h à N g u y ê n

sa n g T h ă n g L o n g th ờ i T rần cho b iế t n gư ờ i T h ặ n g L ong ăn

m ặc n h ư t h ế nào?

T rả lời: Vào m ùa xuân năm Quý Tỵ (1293), Lương T ằng và

T rần P h u dẫn đ ầu đoàn sứ giả trên ngàn người n h à N guyên đến Thăng Long

Trong thời gian 52 ngày lưu lại, nhữ ng gì m ắt th ấ y ta i nghe ở Kinh đô Đại V iệt đã được viên sứ giả này gửi gắm vào tậ p thơ

Giao Châu cảo của mình Qua tập phóng sự bằng thơ này có th ể

thấy một sô" cách ăn mặc của người Kinh kỳ T hăng Long thuở ấy:Vua T rần búi tóc - bọc và buộc tóc bằng the, h ai bên vấn tóc lộ

ra, xõa xuống gáy, vai

D ân ph ần lớn đi đất, cũng có người đi dép da như ng đến kh i đến cung điện của vua th ì cởi ra Mọi người đều mặc áo m àu đen,

cổ áo làm bằng the Riêng đàn bà th ì thêm miếng vải trắ n g rộng khoảng 4 tấc (12-13cm) viền vào cổ áo Đ àn ôưg cạo đầu, d ù n g

k h ă n xanh th ẫm có một dây s ắ t ghim vào để trù m đầu M ặt trước của kh ăn cao lên một thước (khoảng 3cm) gập cong xuống rồi d ù n g

Trang 18

dải buộc tú m lại phía sau Ngày thường ở nh à để đầu trần , lúc tiếp khách mói đôi khăn Người k h á giả, quan chức nếu đị xa có người

h ầu đem k h ăn theo Đ àn bà c ắt tóc ngắn còn khoảng ba tậc rồi túm lại buôc lên đỉnh đầu, uốn cong đuôi tóc rồi buộc lại giống cây

b ú t lông Người giàu có th ể cài trâ m đồi mồỉ, người thường dùng trâ m bóng bằng sừng hay xương Nô tì th ì đóng khô" Đ àn ông đều xăm m ình bằng những n ét chằng chịt, ngoằn ngoèo như trên trông đồng N hiều người xăm ở bụng chữ “nghĩa dĩ quên khu, hìn h vu báo quốc” (Vì nghĩa quên th â n , báo đền ơn nước)

C â u h ỏ i 626: N gư ời n h à N g u y ê n từ n g h ỏ i lạ i “ tô i n gh e

d ồn r ằ n g T h ế tử - tứ c v u a T rần - ngư ời n h ẹ nh õm n h ư th ầ n tiê n có p h ả i t h ế k h ô n g ? ” là a i vậy?

T rả lời: Đó là câu chuyện xảy ra vào đời vua T rần M ạnh - tức

T rần M inh Tông năm 1314 sau ngày sứ n hà Nguyên sang Thăng Long đọc quốc thư Vua T rần M ạnh ban yến, Vua T rần mặc áo trà n g v ạt vằng là m àu vàng, đội m ũ có Thao

Sứ giả nh à N guyên tấm tắc “nhẹ nhõm n hư người Tiên!”,Khi sứ giả về nước, kể lại vẻ th a n h tú của Vua Đến viên sứ giả lần sau của nhà N guyên sang, dò hỏi: Tôi nghe đồn rằng Thê tử có

vẻ người th a n h tú nhẹ nhõm như th ầ n tiên, có phải không?

Sứ th ầ n nh à T rần trả lời: Đ úng như thế, song cũng là tiêu biểu cho phong th á i của cả nước vậy!

C âu h ỏ i 627: Trai gái xưa “May áo c h à n g c ù n g só n g áo em ”

bằng th ứ lụ a vừ a th an h , vừ a b ón g của là n g nào ở Hà Nội?

T rả lời:

“L ụ a làng Trúc vừa th a n h vừa bóng,

M ay áo chàng cụng sóng áo em ”.

Làng Trúc chính là làng Trúc Bạch, bên hồ Trúc Bạch nằm trong vành đai d ệt vải lụa tơ tằm nổi tiếng bên Hồ Tây từ Yên Thái, Trích Sài, Nghi Tàm đổ lại

Trang 19

380 NGÀN NĂM LỊCH sử, VĂN HÓA THĂNG LONG - HÀ NỘI

Trong r ấ t nhiều nơi dệt vải, dệt lụa nổi tiến g của Việt Nam, của Thăng Long - Hà Nội chỉ có làng này do có lụ a và nghề lụa mà

có tên hồ, tên làng

C â u h ỏ i 628: T h ă n g L o n g xư a có b a o n h iê u p h ố (tên

phố) c h u y ê n p h ụ c v ụ c h o y, tr a n g phục?

T rả lời: N hững câu ca dao có th ể vì bị câu thúc bởi vần vè, nên

chỉ mới kể ra những ph ố H àn g Hài, H àng Giầy, H àn g Nón, H àng Bông Thực tế, ngoài n h ữ ng phô" trê n còn có các phô" như: H àng Chỉ, Hàng Da, H àng Dép, H àn g Đào, H àng Đẫy, H àng Lam, H àng Lược, H àng Nón, H àng Q uạt, nghĩa là khoảng 1/3 các phô" “h à n g ” chuyên lo chuyện mặc, chuyện “diện” của T hăng Long

C âu h ỏ i 629: T h eo tiê u c h u ẩ n “đ à n bà m ă c y ế m h ở lư ờ n

m ô i x i n h ”, ngư ờ i Hà N ộ i xư a từ n g đi sắ m y ế m ở đâu?

T rả lời: B á n m ít chợ Đông,

B á n hồng chợ Tây,

B á n m ây chợ H uyện,

B á n quyến chợ Đào.

Cứ theo lời bảng chỉ dẫn d ân gian â"y tìm đến chợ H àng Đào -

tức phô' H àng Đào để m ua quyến (một th ứ lụ a m à sách A n N a m chí nguyên tả là “th ứ lụa trắ n g đẹp như vẽ, khổ rộng đến 3 thước),

“vốn ấy là n h ữ ng th ứ mặc thường của ta ”

Đến H àng Đào, ở sô" nh à 38, tấm bia dựng năm 1856 còn cho biết rõ hơn ở đây có chợ bán yếm quyến (Quyến yếm thị) kề ngay đình Đồng Lạc - nơi dựng bia

Chiếc áo bôn dầy đã được nhắc đến trong n h iều câu ca dao của người T hăng Long - Hà Nội:

- Thuyền anh đã cạn lên đây,

Mượn đôi dải yếm làm dây kéo thuyền.

- Đ àn ông đóng k h ố đuôi lươn,

Đ àn bà mặc yếm hờ lườn mới xinh.

Trang 20

C â u h ỏ i 6 3 0 : P h ạ m Đ ìn h H ổ th ư ờ n g n h ắ c đ ế n bao n h iêu

lo ạ i n ó n ở T h ă n g L ong?

kể đến 13 loại nón, từ nón “tiêm quang đẩu nhược” giống như nón

k h u a, đầu nhọn làm bằng vỏ m ăng nứa m à bà con dân tộc đội, còn

có đến 12 loại nón m à d ân cứ các h ạn g ở T hăng Long cuối th ế kỷ XVIII dùng n hư sau:

T ê n n ó n A i đ ộ i, p h ổ b iế n ỏ đ â u

1 N goan xá c M ề m giải, T a m giang V à o kho ả n g năm 1775-1776 khi

P h ạ m Đ ình H ổ 7-8 tuổi, c á c ôn g già

- Họ hàng nhà quan và cá c ông già

- N gười có ta n g 1 năm trỏ xuống có

th ê m q uai m ây

4 Liên diệp Lá sen N gười lớn và trẻ con

5 T iể u liên d iệp N ón n hỡ khuôn T rẻ con

6 X u â n lôi tiểu N ón sọ nhỏ Đ à n ỏng và đàn bà thôn quê

7 T o a n bì N ón v ỏ bứa Đ àn ông và đ àn bà thôn quê

- N gười có ta n g 1 năm trở xuống

b u ộ c th ê m sợi quai trắng

- N h à q u a n và người có q u yề n th ế có

ta n g

Trang 21

382 NGÀN NĂM LỊCH sử, VĂN HÓA THĂNG LONG - HÀ NỘI

11 Xuân lôi đại Nón cạp Người có ta n g

12 Viên cơ Nón N ghệ - N gười tro n g T h a n h , N ghệ, quân

kiêu binh, kh o ả n g năm 1782-1783 loạn kiê u b in h , cậ y c ô h g làm càn, nhiều ngư ời độ i đ ể g iố n g lính

- S a u n ă m 1786 lại bỏ, đội nó n cẩu diện

C âu h ỏ i 631: Đ ầ u t h ế k ỷ XX ở H à N ộ i t ừ n g p h ổ b iế n lo ại

giầy, d ẻ p , g u ố c n à o ?

T rả lời: Cụ H oàng Đạo Thúy (1897-1994) đã kể đến các loại

guốc, dép, giầy m à cụ thấy, nghe kể lại ở H à Nội đầu th ế kỷ XX,

2 G uốc K inh Đ ế lòng m ực sơn trắ n g m uốt,

m ũ i v ó c h ổng, thêu kim tu yế n

Trang 22

7 D ép cong L à m b ằ n g 3, 4 lần da dầy,

đ ó n g lại b ằng đ a n h tre, mũi cong, q u a i n h u n g R ấ t nặng

C á c bà m ua ch o c á c em gái 15, 16 tuổi

10 G iày G ia Đ ịnh M ũi b ằ n g da láng Biểu tư ợng của người lịch

sự, cá c ông dận khi đi ra đường

11 G iày “S áng đá" C ác chú bồi bếp nhặt khi

T â y sang

12 G iầy Đ ơ C ulơ Hai m àu

13

1

G iầ y "b an" C ác ôn g nghị, cá c quan

cho là sang nhất Đi ăn cưới,

đe o bài ngà, ngồi xe song

m ã g iầ y ban nổi lắm

14 "H à i vă n " (a) "H à i

m ỏ p h ư ợng" (b)

Đ ế vả i bồi, m ũi thêu C ác m ợ đi hàl m ỏ phượng

chỉ d ùng trong n gày cưới rồi cấ t làm kỷ niệm

15 Hài S ảo D ép b ện rơ m có qu a i gai b uộc

T r ả lời: Tưởng n hư là cảnh đi thuyền Mà thuyên đình,

thuyền rồng đuôi phượng hẳn hoi N hưng, đó là đôi guốc một thời xưa của các cô, các bà ở Hà Thành!

Trang 23

384 NGÀN NĂM LỊCH sử, VĂN HÓA THĂNG LONG - HÀ NỘI

C âu h ỏ i 633: N g ư ờ i H à N ộ i q u e n v ớ i m ũ b ả o h iể m c h o

n g ư ờ i th a m g ia g ia o t h ô n g t ừ b a o giờ?

T rả lời: Trên th ế giới, lịch sử ghi n h ậ n m ũ bảo hiểm x uất hiện

cùng thòi với chiến tra n h , n h ằm bảo vệ p h ần qu an trọng n h ấ t của

cơ thể là đầu trước những loại vũ k h í n hư dao, kiếm , mác Chiếc

mũ bảo hiểm dần d ần th â m n h ậ p sâu vào đòi sống, được phổ biến rộng rãi trong nhiều lĩn h vực n h ư h àn g không v ũ trụ , quân đội, thể thao người vào p h ân xưởng cũng đội m ũ bảo vệ

Tại Hà Nội cũng n h ư ở V iệt Nam , Nghị quyết 32/2007 ngày 29- 6-2007 của C hịnh ph ủ về m ột số’ giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai n ạn giao thông và ù n tắc giao thông, đã quy định:

a) Từ ngày 15-9-2007, người đi mô tô, xe gắn m áy trê n các quốc

lộ b ắt buộc phải đội m ũ bảo hiểm

b) Từ ngày 15-12-2007, người đi mô tô, xe gắn m áy trê n t ấ t cả các tuyến đường b ắ t buộc phải đội mũ bảo hiểm

Từ đó đến nay, m ũ bảo hiểm trở th à n h “một p h ần tấ t yếu của cuộc sông” người H à Nội!

C âu h ỏ i 634: T h ờ i L ý - T r ầ n , c á c v u a ở k h u v ự c n à o k i n h

th à n h ?

T rả lời: Thăng Long thời Lý - T rần về cơ b ản có 3 k hu vực: L a

Thành, Long phụng th à n h (gọi từ đòi Trần) và Cấm Thành C ấm Thành chia làm 2 phần: trước và sau điện chính - nơi hội triều (C àn Nguyên - thời Trần) Phía sau điện là quần th ể kiến trú c phục vụ cho sinh hoạt của vua và gia đình (hậu cung) nơi có nhiều cung, có nhiều vườn cầy ăn quả, vườn hoa, hồ, ao, có cầu bắc qua làm nơi v u a

và cung n h ân thưởng ngoạn Vào đời Trần, có th ể kể đến:

- Cung Lệ Thiên,Thưởng X u â n : Năm 1236, m ùa hạ, th á n g 6,

nước to, v3 trà n vào Bấy giờ H iển H oàng T ri T h án h từ cung T r ầ n Liễu n h â n nước to, đi thu y ền vào chầu, th ấ y người phi cũ của tr iề u

Lý liền cưỡng dâm ỏ cung Lệ Thiên Đ ình th ầ n hặc tâu , vì th ế m ối đổi tên cung Thưởng Xuân, giáng Hiển làm Hoài Vương; năm 1238:

th án g 7 nưốc to vỡ trà n vào cung Thưởng Xuân

Trang 24

- Đ iện Song Quế, Đ iện Lạc T h a n h : H ai điện này cùng dựng vào

m ù a đông, th á n g 10-1363: “cho khởi đào hồ ở vườn ngự trong h ậu Cung Trong hồ xếp đá làm núi, bốn m ạch đều k hai ngòi cho chảy

th ô n g nhau T rên bờ hồ trồ n g thông, tre và các th ứ hoa thơm cỏ lạ

L ại nuôi chim quý, th ú lạ tro n g đó P h ía tây hồ trồng hai cây quế Bên điện Lạc T h an h có hồ Lạc T hanh, lại đào một hồ nhỏ khác Sai người H ải Đông chở nưốc m ặn chứa vào đó, đem các thứ hải v ật

n h ư đồi mồi, cua, cá nuôi ở tro n g hồ Lại sai người Hóa Châu chỏ

cá sấu đến th ả vào đó Lại có hồ T h an h Ngư để th ả cá th a n h phụ (cá diếc) Đ ặt chức kh ách đô để trông coi”

C â u h ỏ i 635: Có n g ô i n h à ở T h ă n g L ong đời Trần, m à

“T ron g n h à k h ô n g n g à y n à o là k h ô n g m ở cu ộ c h á t xướng,

là m trò , m à k h ô n g a i ch o là sa y đắm tộ t c ù n g xa x ỉ như

Q u á ch Tử N g h i m à k h ô n g a i c h ê ” là n h à c ủ a ai?

T r ả lời: Đó là ngôi n h à của m ột tro n g những vị hoàng tử thòi

T rần C ảnh - H oàng tử, Tá T h án h T hái sư Chiêu V ăn Vương T rần

N h ậ t D u ật (1254-1331) - sin h ra và m ấ t ỏ Thăng Long, làm quan trả i qua 4 triều , ba lần coi giữ trấ n lớn

C â u h ỏ i 636: N h à c ủ a a i c h ỉ “h ơ n c u n g đất h ẹp nử a đầy

g a i” v ẫ n có b ó n g h o a n g h iê n g v à o h iê n cửa?

T r ả lời: Đó là câu thơ của N guyễn T rãi trong bài Họa vần

H oàng môn Thị L ang N guyễn Cúc P ha m ừng nh à mới của ông.Nguyễn T rãi chỉ tả cảnh n h à m ình: Chỗ quạnh chỉ hơn một cung đ ấ t m à nửa đầy bụi gai, m ừng được thơ mối để ghi chỗ ngồi Cong gạo nếp đong luôn, rượu vợ nấu,

Còn qua thơ m ừng n h à mới ứ c T rai của H oàng môn Thị Lang Nguyễn Cúc P h a là N guyễn Mông T u ân (quê ở V ân Khê, Đông Sơn, T h an h Hóa, sống cùng thòi và đỗ T hái học sinh cùng khoa năm 1400 vối Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn Ông th a m gia nghĩa quân Lam Sơn khi cuộc k h á n g chiến đan g bước vào thời kỳ tổng phản công, được Lê Lợi tin dùng vào việc văn từ Dưới các triều Lê Thái Tổ,

Trang 25

386 NGÀN NĂM LỊCH sử, VÄN HÓA THĂNG LONG - HÀ NỘI

Lê T hái Tông, ông đã cùng Nguyễn T rãi và Lý Tử T ấn làm giám khảo các khoa th i Hội) thì còn biết nh à của Nguyễn T rãi - vị Thừa Chỉ của triều đình n hà Lê sơ ỏ Đông Kinh vẻn vẹn ba gian, m à vẫn

có hoa và chứa đầy sách trê n vách!

C â u h ỏ i 637: N h ữ n g n g ô i n h à xư a th ư ờ n g th ấ p th o á n g

“b ụ i h ồ n g h o a trú c, m a i lồ n g tr ă n g s o i” tr o n g th ơ v ă n c ủ a

n h ữ n g th i s ĩ nào?

T rả lời: N hững ngôi n h à xưa chỉ còn th ấ p tho án g tro n g thơ

văn N hưng có điều là ngoại trừ nhữ ng cung điện lâu đài của v u a chúa, quan sang, các ngôi n h à còn được biết đến đều là nh à của th i

sĩ, nhà văn, và n h à nào cũng có cây, có hoa!

T h ế kỷ XV, có ít n h ấ t vài ba ngôi n h à được phác họa b ằn g thơ

Từ ngôi n h à của ứ c T rai vẻn vẹn “hơn cung đ ấ t hẹp nửa đầy g a i”

ven bờ Tô Lịch

Ngôi nh à dựng ở phía nam th à n h đã m ấy m ùa xuân, của B ản g

n h ãn N guyễn N hư Đổ (1424-1525) có vườn thuốc, đ ấ t ra u lần lư ợ t

mở mang, lối hẻm không ngại gắn liền với đường tía, giậu th ấ p nhưng cách xa vởi bụi hồng Ao hồ tạ n h mưa, ếch kêu vang tai; s â n

n h à có bóng m át, chim h ó t véo von, hoa Trúc sẵn đủ h ứ n g t h ú

th a n h đạm Mỗi buổi ta n chầu ở triều đình về, vị Thượng th ư bộ Lại, kiêm T ế tử u Quốc tử giám vui vẻ với “chim th i tiến g hót, cây đùa bóng sân ” quên cảnh b ần hàn

Hoặc đến hơn 10 năm ở đ ất Đông K inh m à ngôi n h à ở p h ư ờ n g Vườn Tỏi của Tiến sĩ, Phó N guyên soái hội Tao Đ àn Sái T h u ậ n (1441 -?) vừa có “Sốm theo c ử a Bắc chuông cùng dậy; C hiều đợi H ồ Tây chim rủ về; Mây lượn trưốc hiên đầy cảnh phô", lại th ê m “Có

tră n g Hồ Tây, gợi tìn h cho thơ, có “Hoa cười, chim hót cảnh tr à n ngập xu â n ”

N hà của Đ ặng M inh Bích - Tiến sĩ Thượng th ư bộ Lễ tr iề u Lê

T hánh Tông ở phía đông k in h th à n h cũng chỉ cỏn con “một c u n g ”

đất, vẫn “m a i lồng m ai trắng, trúc m ừ ng gió đư a”.

Trang 26

T h ế kỷ XVIII, ngôi n h à của Phạm Đình Hổ “ở phường Hà

K h ẩu , huyện Thọ Xương Trước n h à tiền đường có trồng một cây lê cao vài mươi trượng, lúc hoa nở, trắ n g xóa thơm lừng Trước tru n g đường cũng trồng h ai cây lự u trắn g , lựu đỏ lúc ra hoa, quả trông

r ấ t đẹp”

N hà của người b ạn vong niên lớn hơn ông trê n chục tuổi -

N guyễn Nghiêm M inh, ở phường c ổ Vũ (nay ở bên sô" chẵn đầu

phô' H àng Gai), trồng hoa lan, lại trồng qu an h sân “những th ứ cúc

ch â u sa đạ m hồng, hạc linh, an h tỏa, m ầm mái ra m à đã trông não nùng sắc th u ”,

C âu h ỏ i 638: P h ả i c h ă n g c h ỉ có n h à cá c th i s ĩ m ới có

h o a , cây cản h ?

T rả lời: N hững ngôi “n h à h à n g phố” CUỐI th ế kỷ XIX đ ầ u th ế

kỷ XX qua th u lượm của cụ H oàng Đạo Thúy (1897-1994) cho biết

“tro n g kho ản h n h à ở, cái ao ước của mọi người là có một “sân cảnh”

ng an g dọc khoảng 3m G iữa sân đ ặ t m ột bể th ả cá vàng, trong bể

có m ột quả núi “non bộ” q u an h bể là các chậu cây Vì sần sâu mà các chậu hoa đều để trê n đôn N ếu không có sân cảnh th ì ở giữa

n h à cũng là m ột cái “m ái cung” cho sáng , làm m ột cái sân con để trồ n g cây”

C â u h ỏ i 639 : “Tôi v ố n c o n q u a n k h ô n g lạ vớ i ch ô n phồn

h o a , n h ư n g bư ớc c h â n đ ế n đ â y m ới h a y cả n h g ià u sa n g của

v u a c h ú a th ự c k h á c h ẳ n n gư ờ i th ư ờ n g ” là n h ậ n x é t của

Lê Hữu T rác trư ớ c c ả n h d in h c ủ a ai?

T rả lời: Đó là n h ậ n xét của d an h y Lê Hữu Trác trong K ý sự lên kinh, kể lại ô n g v à o ph ủ chúa T rịn h chữa bệnh cho cha con

chúa T rịn h Sâm n ăm 1782

Các ch ú a T rịn h , ngay từ k h i chính thức vào k inh th à n h

T hăng Long đã lập k h u ở riên g - không ở cùng k h u vối vu a Lê (phủ C húa T rịnh)

Đ ến khi Lê H ữu Trác lên kinh, theo ghi chép của ông thì: “Khi đến cửa phủ th ì được người d ẫn đi qu a h ai lần cửa nữa rồi rẽ theo

Trang 27

388 NGÀN NĂM LỊCH sử, VĂN HÓA THĂNG LONG - HÀ NỘI

đường bên trá i mà tiến bước Tôi ngẩng đ ầu lên coi th ì bốn phương tám m ặt, nơi nào cũng cây cốì um tùm , chim kêu hoa nở, gió thoảng hương đưa N hững h à n h lang, nhữ ng bao lơn bước bước đều liên lu, nơi nơi đều cân đối Kẻ gác cửa có việc gì th ì truyền báo, kẻ công dịch qua lại n hư mắc cửi Tôi th ầm nghĩ: “M ình vốn là công gia tử đệ, sinh trưởng ở kinh đô, mọi chôn trong Cấm th à n h đều thông thuộc; duy sự th ể trong phủ chỉ được nghe nói thôi, mối hay cái giàu sang của n hà vua chẳng p hải tầm thường vậy” Tôi ngâm m ấy câu để ghi nhố:

Kim qua vệ sĩ ủng thiên môn

C hính th ị Nam th iên đệ n h ấ t tôn

Họa các trù n g lâu lăng bích H án

C hâu liêm ngọc hạm chiếu triêu đôn

Cung hoa mỗi tông th an h hương trậ n

Ngự uyển thời văn anh vũ ngôn

Sơn dã vị tri ca quản địa

H oảng như ngư phủ nhập đào nguyên

(Qua vàng ngàn cửa lính canh đền

Đây chính trời N a m chốn chí tôn

N g u y ngật lâu đài sông H án kh u ấ t

L u n g lin h liêm m ạ ánh vàng xuân

Cung hoa không dứt m ùi hương thoảng

N g ự uyển đưa kêu tiếng vẹt dồn

Quê kệch chưa tường nơi vũ nhạc

Tưởng m ình đâu lạc tới đào nguyên).

Còn đây là cảnh ông quan sát kh i vào chỗ ở của C húa để th ă m bệnh cho T rịnh Cán - thê tử, con của C húa T rịn h Sâm: “M ột người lính thuộc quyền tôi sai khiến dẫn lộ, chúng tôi theo cửa hữu p h ủ đường mà đi, quanh co ước hơn một dặm th ì thấy lâu đài đình các, rèm châu cửa ngọc, ánh nước lọng lán h th ấ u từ ng mây Q uanh lối

đi nào kỳ hoa, dị thảo, gió thoảng hương bay, chim xinh, con h ó t

Trang 28

con nhảy Chốn bìn h địa nổi ngọn núi cao, nơi bóng râm tỏa lùm cổ

th ụ C ầu sơn vẽ bắc qua dòng nưốc, đá sặc sỡ tạo th à n h lan can Tôi vừa đi vừa ngắm , thực chẳng khác cảnh tiên vậy

Đi qua dãy n h à ngang mười bước th ì trèo lên một cái n h à cao,

p h ía sau n h à này là m ột căn n h à rộng rãi, tức ngự tẩm ở đó Q uan

N ội Sai cầm tay áo tôi m à dắt, mở trướng gấm, qua vài ba lần trư ố n g m àn nữa th ì th ấy ỏ giữa nhà', T h án h Thượng nằm trê n cái võng mắc nơi ngự tọa d á t vàng Ngự tọa có đệm gấm Bên hũ u là giường ngài ngự, trê n giường gấm vóc sắc vàng m ấy lượt bỏ rủ xuống, lại có m àn che muỗi”

C â u h ỏ i 640: N h à “c h ồ n g d iê m , n ó c c á c ” là t h ế n à o ?

T r ả lời: Đó là những ngôi n h à cũ thường gặp ở quận Hoàn

K iếm trê n các phô' H àng Đào, H àng Đồng, H àng Cân, H àng Bạc,

M ã Mây, B át Sứ xưa N hà chồng diêm có h ai m ái mỗi bên (cộng lại

là tá m mái)

Chồng diêm, nóc các là n h à có m ột tần g cao, làm thêm cái gác

ỏ p h ía trê n có cửa lù a b ịt kín, có th e n ngang, sàn gác thấp, lầu ở

p h ía trê n có cửa sổ nhỏ, vừa tho án g vừa kín đáo Gác trê n cũng là nơi đề phòng lụt

C â u h ỏ i 641: Đ ầ u t h ế k ỷ XX H à N ộ i c ò n n h iề u n h à t r a n h

k h ô n g ?

T r ả lờ i: Hơn m ột t h ế kỷ trước, ngày 14-1-1888 báo Tương

la i Bắc K ỳ h o an hỉ th ô n g báo “Trong v ài ngày nữa, t ấ t cả n h ữ ng

ngôi n h à lá của phô' P a u l B e rt và H àn g T h êu sẽ ho àn to à n biến

m ất C húng ta sẽ th ấ y sự b iến đổi của k h u phô' này; k h ắp nơi là

n h à gạch sa n g trọ n g , các cửa h iệu đẹp đẽ sẽ mọc lên trê n n h ữ n g

m ản h đ ấ t ng ày xưa, cửa n h à luộm th u ộ m , h a n g ổ của hỏa hoạn

và b ệ n h dịch”

Đ iều đó không có nghĩa là n h ữ ng n h à tra n h tre - v ật liệu xây dựng n h à phổ biến sẽ m ạt đi hết Theo thông kê của chính quyền,

Trang 29

390 NGÀN NĂM LỊCH sử, VĂN HÓA THĂNG LONG - HÀ NỘI

trong vòng tám năm từ năm 1897 đến n ăm 1904, th à n h phô" Hà Nội xây dựng thêm 52.103 nhà, vẫn có đến 20.100 ngôi nh à tranh

C â u h ỏ i 642: Hà N ội có nước m á y từ bao giờ?

T rả lời: Sau kh i hoàn tâ"t công cuộc xâm chiếm H à Nội, thực

dân Pháp b ắt đầu đẩy m ạnh việc triển k h ai các dự án quy hoạch xây dựng và cải tạo th à n h phô"._Một tro n g ,n h ữ n g dự án quy hoạch

và cải tạo Hà Nội theo mô hìn h phương Tây là việc xây dựng n h à

m áy nước Tháng 5-1893, N hà máy nước H à Nội b ắ t đầu đi vào

h oạt động, cung cấp nước sạch đô thị Tuy nhiên, nước m áy chủ yếu phục vụ người Pháp, còn 6 vạn dân th à n h phô" vẫn phải dùng nước sông Hồng đán h phèn

C âu h ỏ i 643: H à N ội có đ iệ n th ắ p sá n g từ bao giòi?

T r ả lời: T h án g 1-1895, th à n h phô" H à Nội b ắ t đ ầu có điện cho

sử dụng và th ắ p sáng Tuy nhiên, do n h à sả n x u ấ t điện có công

s u ấ t nhỏ, chủ yếu chỉ đủ phục vụ cho n h u cầu sin h h o ạ t củ a người Pháp

C âu h ỏ i 644: M ạng lưới đ iện th o ạ i ở Hà N ội có từ k h i nào?

T rả lời: Ngày 5-5-1903, Toàn quyền Đông Dương B eau ký

nghị định cho phép mở một m ạng lưói điện thoại tro n g th à n h phô"

Hà Nội Nghị định gồm 24 điểu, trong đó quy định chi tiế t về th ủ tục th u ê bao, mức phí và giải quyết những tra n h chấp khi xảy ra

C âu h ỏ i 645: “ Ghê" v u a đ ặ t cao ở giữ a, tr e o g ư ơ n g s á n g

xa tro n g H ai b ên th ì tư ợ n g trư n g gậ"m v ó c rõ rà n g , p h i tầ n ,

Trang 30

giữa đoàn h àn g ngàn chiếc th u y ền ở Đông Bộ Đ ầu “sớm giữa dòng

ch iếu rạng, tưởng n hư giao long h á m iệng đớp sóng xô, chiều dừng lại b ên bờ, ngỡ rằ n g ngao rù a nhô lưng đội N gân H án”

C â u h ỏ i 646: T riều T rần k h ô n g c h ỉ m ộ t lầ n ra q u y đ ịn h

v ề c á c k iể u x e, th u y ề n c ủ a c á c vư ơ ng h ầ u , tô n th ấ t, các

q u a n v ă n , v õ V ì sao?

T r ả lời: Theo sử cũ, chỉ trong th ế kỷ XIII, ít n h ấ t là 2 lần:

năm 1238, năm 1254 triều T rần đã ph ải ra những quy định về

k iểu cách, quy mô sử dụng xe, thuyền, kiệu Chẳng hạn:

- Họ tôn th ấ t đến quan ngũ phẩm : kiệu, ngựa, võng

- Họ tôn th ấ t: kiệu h ìn h đ ầu chim phượng, sơn son

- Q uan tr ụ quốc: kiệu h ìn h chim anh vũ, sơn then

Cũng lưu ý là, không chỉ đời T rần, tấ t cả các vương triều ở Việt

N am từ Lý, qua Lê, Lê - T rịn h đến Nguyễn, mỗi triều đều hơn một

lầ n ra quy định về kiểu cách ăn mặc, m àu sắc, tra n g phục đến phương tiệ n đi lại của tầ n g lớp trê n đến thứ dân.Vì lẽ, tra n g phục, phương tiện cách thức đi lại là th ể hiện quan trọng rõ n h ấ t th â n phận, th ế thứ, địa vị trong th a n g bậc xã hội và cũng luôn có tìn h trạ n g n h ữ ng người sử dụng tra n g phục, phương tiện này r ấ t thích vượt k h u n g để khoe sang, khoe của nữa

C â u h ỏ i 647: H ệ th ố n g cầ u , đò, b ế n của T h ăn g L ong - Hà

N ộ i xư a n h ư t h ế nào?

T rả lời: Vói hệ thống sông, hồ dày đặc, lại là tru n g tâm kinh

tế lớn, nên cầu, đò, bến ở vùng T hăng Long - Hà Nội xưa r ấ t nhiều

Cuối th ê kỷ XIX, sáclì t)ại*Nam n h ấ t thống chí chép tói ít n h ấ t

13 bến đò qua sông Nhị, sông Kim Ngưu, r 4 cây cầu đủ loại tre, gỗ, gạch, đá bắc qua sông Tô, sông Nhuệ , các vùng Thọ Xương,

T hanh Trì, Từ Liêm

Đương nhiên, đó chưa phải là tấ t cả các cây cầu, bến đò từng có

N hiều cây cầu, bến đò xưa còn được nhắc m ãi trong ca dao, thơ văn, sử sách

Trang 31

392 NGÀN NĂM LỊCH sử, VĂN HÓA THĂNG LONG - HÀ NỘI

Từ cây cầu trong câu:

Trên trời có cái cầu vồng,

Kẻ Chợ: Cầu Muống, c ầ u Đông, c ầ u Dền.

Đến bến đò T h an h Trì với:

Trúc m ây che p h ủ đìn h Tranh,

Đ ầy sông xu â n sắc xanh xanh nhuộm người.

Sóng đào gió thổi vơi vơi,

N goài đồng cò trắng nơi nơi chia h à n g

Người T rung Hoa đời T h an h sang th ă m đã coi đây là một trong tám cảnh đẹp của Thăng Long

C âu h ỏ i 648: “Xe khách công cộng” ở Hà N ội có từ bao giờ?

T rả lời: Tò Tương lai Bắc Kỳ ngày 22-8-1885 đưa tin “T h à n h

phô" Hà Nội vừa mới tra n g bị một dịch vụ đặc biệt là xe khách công cộng từ k h u nhượng địa tới th à n h H à Nội” (tức là chạy từ N hà h á t lớn dọc đường T ràn g Tiền, Tràng Thi, Đ iện Biên P h ủ ngày nay).Chỉ có điều, gọi là “xe khách” nhưng chỉ là chiếc xe v ận tả i lốn

do ba lừa kéo, “h à n h khấch” chỉ là nhữ ng binh lín h và n h â n viên

h àn h chính P háp đi làm vào khu th à n h Do con đường hẹp, c ả n h

sá t phải ra m ột quyết định ngày 28-7-1885: Yêu cầu người đi v à các xe cộ khác phải trá n h đi cùng giờ với giò “xe kh ách ” chạy

C â w h ỏ i 649: Hạ tầ n g g ia o th ô n g ở H à N ộ i h iệ n n a y n h ư

t h ế nào?

T r ả lời: Toàn th à n h phô" hiện có 583 tu y ến đường vối tổ n g

chiều dài 1.178km, trong đó có đến 273 cầu các loại Tuy n h iên , h ạ tần g giao thông của H à Nội còn th iế u về sô" lượng và p h â n bổ c h ư ạ hợp lý Trong khi đó, toàn th à n h phô" hiện có kho ản g 303.000 ôtô các loại, gần 3,65 triệ u xe m áy và khoảng 1 triệ u xe đạp, ch ư a k ể phương tiện giao thông của các địa phương khác h ằ n g ngày v ẫ n

"quá cảnh"

Trang 32

C â u h ỏ i 650: N gười H à N ội b iế t đ ế n đ èn “G iảm số t ru ộ t”

(đ èn tín h iệ u g iao th ô n g đ ế m lùi) tr ê n đư ờng p h ố từ bao giờ?

T r ả lời: T rên th ế giới, trước ôtô, đèn tín hiệu có từ th án g 10-

1868, khi người ta đ ặ t hệ thống đèn xan h đèn đỏ ban đầu chỉ dành cho tà u hỏa và th ắ p sán g bằn g k h í gas ngay bên ngoài tòa nh à quốc hội A nh ở London N ăm 1912 người Mỹ p h á t m inh ra đèn tín hiệu dùng điện Tới năm 1920, với sán g chế của sĩ quan cảnh sát

W illiams Potts, hệ thống này mới có đủ 3 m àu: vàng, xanh, đỏ

ở H à Nội giữa những th á n g năm chiến tra n h chống Mỹ, cứu nước gian khổ, người H à Nội đã nghe vang lên “Từ một ngã tư đường ph ố cuộc sông reo vui từng giò Khi nắng m ai vể ngưòi và xe nối n h a u đi trê n đường Đ èn đỏ đèn xan h quê an h đang nh ảy m úa như ngàn hoa Niềm vui p h ấ n khởi tro n g án h m ắt bao người qua", (lời bài h á t “Từ m ột ngã tư đường phố” của Phạm Tuyên)

Sau hội nghị APEC 14 CUỐI năm 2006, 27 n ú t giao thông trên địa bàn H à Nội đã được lắp đèn đếm lùi Tổng k ết việc này, Công

an th à n h phô" H à Nội n h ậ n định, hệ thống đồng hồ đếm lùi m ang lại hiệu quả r ấ t cao, giúp ọn định giao thông, làm giảm tâm lý “sốt

ru ộ t” cho người d ân khi p h ải chò đợi đèn xanh, đỏ Người tham gia giao thông nhò hệ thông đếm lùi n ày có th ể ước lượng được thòi gian chờ đợi

C â u h ỏ i 651: N gư ờ i Hà N ội là m q u en vớ i n h ữ n g cầu

ch u i, cầ u v ư ợ t - d à n h c h o người, đ i bộ từ bao giờ?

T rả lời: Cổng, cổng chào để người đi qua, thì Việt Nam, H à Nội

quen từ lâu N hưng là cầu, th àn h h ẳn tên “cầu chui" th ì hàng chục năm trưốc dân H à Nội mới chỉ gọi cầu chui - dành cho cả người và các phương tiện giao thông đi dưới cầu đường sắt ở Gia Lâm!

Rồi cầu vượt d àn h cho người đi bộ ở góc ở đoạn đường Khâm Thiên cắt ngang đường sắ t vào ra ga H àng cỏ!

Chỉ từ kh i mở các tuyến đường 5, đường Pháp Vân, đưòng Láng - Hoà Lạc, từ cuốĩ những n ăm 90 th ế kỷ XX trở lại, người

Trang 33

394 NGÀN NĂM LỊCH sử, VĂN HÓA THĂNG LONG - HÀ NỘI

H à Nội làm “quen” hơn với cách đi qua đường bằng “cầu dân sinh”,

“cầu vượt” N ăm 2007, vối cây cầu xu ất hiện ở p hía trước cổng bệnh viện Bạch Mai (bắc qua đường Giải Phóng sang đường Lê

T hanh Nghị, rồi vắt ngang đường Lê T h an h Nghị tạo th à n h góc vuông), tiếp sau cây cầu vượt này, H à Nội có thêm 4 cầu vượt khác trê n các phô": N guyễn Chí T hanh; Voi Phục - c ầ u Giấy (trước cổng trường Đ ại học Giao thông vận tải); Nguyễn V ăn Cừ Đường 70 (trước cổng Viện Q uân y 103 H à Đông)

Người H à Nội mối “quen” nhiều hơn với cách thức đi qua cầu chui, cầu vượt trong giao thông

C ả u h ỏ i 652: vov g ia o th ô n g H à N ộ i là gì?

T rả lời: vov là viết t ắ t các từ tiếng A nh Radio th e voice of

V iet Nam (Đài tiếng nói Việt Nam)

Từ th á n g 5-2009 lần đầu tiên có chương trìn h p h á t sóng v o v

giao thông trê n sóng FM 91 MHz m à H à Nội là địa phương đầu tiên được triể n khai (đến th á n g 1-2010 p h á t sóng ở T h àn h phô"

Hồ Chí Minh)

Từ ngày 12-7-2010 kênh p h á t th a n h vov giao thông thực hiện

p h á t sóng kên h p h á t th a n h vov giao thông trê n Hệ p h á t th a n h có

h ìn h (VOVTV)

Vào các khung giờ từ 6g30 - 8g00, llgOO - 12g00 và 16g30 - 18g00, VOVTV p h át sóng trực tiếp hình ảnh của giao thông th àn h phô" H à Nội và đưa ra những chỉ dẫn giao thông hữu ích được phản ảnh từ

100 cam éra và các phóng viên của vov giao thông tạ i hiện trường.Trong r ấ t n h iều điều còn “không giông a i” của giao th ô n g đô thị H à Nội, th ì vov giao th ô n g H à Nội đã trở nên gần gũi, th iế t thực, là biểu h iện cụ th ể của n é t v ăn m inh, lịch sự của giao th ô n g

th ủ đô vov giao thông H à Nội không chỉ góp p h ầ n giảm b ố t n ạ n ách tắc giao thông tro n g các giờ cao điểm , ngày cao điểm của H à Nội m à còn mở ra hy vọng về m ột văn hóa mới của giao th ô n g

T hủ đô

Trang 34

C ả u h ỏ i 653: B iể n k iể m s o á t x e m áy, x e ô tô ở Hà N ội có

đ ầ u s ố b a o n h iêu ?

T r ả lời: Ôtô, xe m áy đăn g ký ở H à Nội m ang biển kiểm soát

đ ầu sei: 29, 30, 31, đăng ký trê n địa p h ận Hà Tây (cũ) biển kiểm

so át ôtô, xe m áy có đầu số: 33

Từ th á n g 7-2010 có th êm m ột tiểu đội xe ôtô điện dành cho

to u r du lịch q u an h phô" cổ biển kiểm soát m ang đầu 40 X đánh số

từ 1 đến 12

Đấy là tín h xe máy, ôtô đăng ký ở H à Nội thôi! Chứ còn ôtô, xe

m áy th a m gia giao thông ở H à Nội th ì không ít ôtô m ang biển kiểm soát đầu sô" 80 của các cơ quan T rung ương, Chính phủ, của

các nưốc bạn Lào, C am puchia và biển kiểm soát m ang đầu số

của mọi tỉnh, th à n h cả nước, vì H à Nội là đầu cầu tiếp xúc giao lưu, là hội tụ của cả nước mà!

Trang 35

X- PHÔ PHƯỜNG, LÀNG xúm

C â u h ỏ i 654: Hà N ộ i x ư a có “B a m ư ơ i sá u p h ố p h ư ờ n g ”

h a y bao n h iêu ?

T rả lờ i: Lịch sử chép: T hăng Long thòi T rần có 61 phường, thời

Lê có 36 phường Phường là đơn vị hàn h chính cấp cơ sở của k in h

đô Phường cũng là đơn vị cộng đồng chuyên một nghề th ủ công

36 phô" phường H à Nội đã đi vào thơ, ca, nhạc, họa cũ n g nghĩa là đi vào đòi sông tìn h cảm của bao th ế hệ

Từ ca dao cũ:

R ủ nhau chơi khắp Long Thành,

Ba mươi sáu p h ố rành rành chẳng sai.

hoặc:

Trải xem phong cảnh khắp th à n h Thăng Long,

B a mươi sáu m ặ t p h ố phường.

Q ua Thạch Lam - Nguyễn Tường Lân có h ẳ n H à N ội ba m ư ơi sáu p h ố phường rồi đến thơ H à Nội ba mươi sáu p h ố p h ư ờ n g ba sáu dây đàn cùng hát, V V Đặc biệt là ca dao - dù không rõ th ò i điểm sáng tác và chủ nhân bao giò cũng kể đến 36 phô"

T h ế nhưng, từ những bài ca dao ấy nếu ghép lại cộng, t r ừ những phô' trù n g tên nhau, n hữ ng phô"khác tên n h au th ì ra đ ế n

50 phô" (!)

Từ nhiều tư liệu để lại, người ta đã tín h ra rằ n g đến cuô"i t h ế

kỷ XIX đầu th ế kỷ XX, sô" lượng phô" phường cổ của đ ấ t T h ă n g Long là 36 nhưng phải n h â n lên hơn 2 lần, nghĩa là trê n 80!

Trang 36

36 phô" phưòng chỉ là m ột cách nói, m ột cách nghĩ đầy tự hào

về T h ăn g Long n h iều phô' phường N hư cách nói tru y ền thống của người Việt, nhiều là bội sô' của 3: 18, 36, 72, 108, 360, V V

C â u h ỏ i 655: H iệ n n a y có b a o n h iê u p h ố, phư ờ ng, ngõ ở

H à N ộ i m a n g tê n “h à n g ”?

T r ả lờ i: Theo thông kê, H à Nội có 54 đơn vị phô' phường m ang

tên hàng, trong đó có 9 phường, 46 phô', 12 ngõ có chữ hàn g ở đầu tên, n h ư phường H àng Bài, phô' H àng Đào, ngõ H àng Khoai

Đ ã từ n g dược lý g iả i n h ư t h ế nào?

T r ả lời: Các n h à nghiên cứu văn hóa dân gian cho rằng: “Vế

th ứ n h ấ t nói về m ột đỉnh điểm Vê' th ứ h ai th ể hiện niềm tự hào nào đó Và niềm tự hào cao nhâ't của mọi địa phương là được tiếng đứng th ứ nhì sau K inh kỳ, sau T hăng Long - Hà Nội”

Cũng cần lưu ý thêm là, những địa điểm để so sánh liên hệ với Kinh kỳ đều là các nơi buôn bán, kinh doanh như Phô' Hiến, Nhượng Bạn, Phù Thạch, Kỳ Lừa Như thế, phạm vi so sánh, liên hệ chủ yếu

là mức độ sầm uâ't của phô'xá, bán mua trong xã hội cổ truyền

Và dù th ế nào đi nữa th ì vị tr í th ứ nhâ't của Kinh kỳ đều được

th ừ a nhận

C âu h ỏ i 657: N gười xư a “rủ n h au chơi khắp Long T hành”

đã dạo qua b a o n h iê u ph ố, tr o n g đó có b ao n h iê u p h ố m a n g

ch ữ “h à n g ”?

T rả lời: H ãy cùng nhố lại bài ca dao:

R ủ nhau chơi khắp Long Thành,

Ba mươi sáu p h ô 'rà n h rành chẳng sai.

Trang 37

398 NGÀN NĂM LỊCH sử, VĂN HÓA THĂNG LONG - HÀ NỘI

H àng B ồ (1), H àng Bạc (2), H àng Gai(3),

H àng Buồm (4), H àng Thiếc (5), H àng Hài(6), H à n g Khay (7).

M ã Vĩ, H àng Điếu (8), H àng Giầy (9),

H àng Lờ (10), H àng Cót (11), H àng M ây (12), H ằ n g Đ àn (13) Phô'Mời, Phúc Kiến, H à n g Than (14),

Trải xem phường p h ố th ậ t là củng xinh

Hóa ra là người xưa đã dạo qua 36 phô" - tro n g đó qua 32 phô" hàn g nên lúc “người về nhó cảnh ngẩn ngơ, b ú t hoa xin chép b ài thơ lưu tru y ề n ” cho đến hôm nay

C â u h ỏ i 658: P h ố ph ư ờ ng Hà N ội xư a từ n g d ễ làm c h â n

ngư ời lạ c bư ớc, đ iề u đó được t h ể h iệ n q u a c â u c a dao n ào?

T rả lời: Phồn hoa thứ n h ấ t Long Thành.

P h ố giăng m ắc cửi, đường quanh bàn cờ.

H à Nội “36 phô" phường” xưa từng dễ làm cho người ta đ i lạc đường, lạc hướng Chẳng p hải chỉ đến thời Pháp, trê n các phương tiện thông tin thấy xu ất hiện những lòi rao tìm người trẻ lạc đường, người lớn lạc phương, lạc hưâng, m à ngay từ ca dao, đã

từ ng th â y cảnh:

Trên Tràng Thi dưới lại Tràng Thi,

A i đem nhân ngãi tôi đi nơi nào.

Trên H àng Đào, dưới củng H àng Đào,

A i đem nhân ngãi tôi vào Tràng Thi.

C â u h ỏ i 659: Hà N ộ i là th à n h p h ố có n h iề u p h ố m a n g

tê n “h à n g ” n h ấ t cả nước, đ ú n g h a y sai?

T rả lời: Đúng! Không p h ải chỉ Hà Nội mới có nhữ ng phô" m an g

Trang 38

tên hàng, ở các th à n h phô" k hác như Nam Đ ịnh chẳng hạn, cũng

có những 32 phô" có chữ h à n g th ậ m chí tên cũng giông như ở Hà Nội, như: H àng Tiện, H àn g s ắ t, H àng Cấp, H àng Nâu,

N hưng tập tru n g đến hơn nửa tră m phô" m ang tên hàn g th ì chỉ

Hà Nội mới có

C â u h ỏ i 660: N h ữ n g q u ậ n n à o k h ô n g có phô" m a n g tên

“h à n g ”?

T r ả lời: T hủ đô H à Nội có 7 quận: Ba Đình, c ầ u Giấy, Đống

Đa, H ai Bà Trưng, Tây Hồ, H oàn Kiếm, T hanh Xuân, trong đó ba quận mới là Tây Hồ, c ầ u Giấy, T h an h X uân không có phô" nào

m ang tên “hàn g ” Phô" m ang tê n “h àn g ” tập tru n g nhiều nhâ"t ở quận H oàn Kiếm

C âu h ỏ i 661: Các phô" “h àn g” buôn bán những m ặt h àn g gì?

T rả ỉời: Do tê n m ặt h àn g buôn bán, k in h doanh, sản xuâ"t mà

ra tên phô", n ên trong k h u vực 36 phô" phường, chỉ kh u phô" cổ Hà Nội đã có th ể thông kê ra:

20 phô" chuyên bán các hàng th u m ua từ nơi khác về, là các

phô": H àng Bát, Bè, Chiếu, Chĩnh, Đậu, Đồng, Đồng Xuân, Gà, Giấy, H ành, Khoai, M ắm , Muối, Phèn, Than, Thuốc Bắc, Tre, Trứng, Vải, Vôi

63 phô" vừa bán hàn g tự làm , vừ a do th u m ua về: áo, bạc, bài,

bồ, bông, bún, buồm, bút, bừa, cá, cân, chả cá, cháo, chè, chỉ, cỏ, cót, cờ, cuốc, da, dầu, dép, đàn, đào, đẫy, điếu, đũa, đường, gai, giầy, giò, gỗ, hài, hỏa lò, hòm, kèn, khay, khóa, lam, lò đúc, lò rèn, lọng, lò, lược, mã, m ã vĩ, m àn, mây, mực, ngang (lam), nón, phúc kiến, quạt, sắt, SŨ, thêu, thiếc, thợ nhuộm , thùng, tiện, trông, tràn g tiền

Hóa ra đều là những sản phẩm quen thuộc của nghề th ủ công Bắc Bộ và n h ữ ng nông sản thực p h ẩm cần th iế t của cuộc sống hàng ngày

Trang 39

400 NGÀN NĂM LỊCH sử, VĂN HÓA THĂNG LONG - HÀ NỘI

C âu h ỏ i 662: P h ố p h ư ờ n g T h ă n g L o n g q u a th ờ i Lê -

T rịnh qua cảm n h ậ n củ a v ị q u a n đ ứ n g đ ầ u m ộ t c h â u ở Tây

B ắc được k ể n h ư t h ế nào?

T rả lời: Theo ú t ỏ về k in h - tru y ện thơ của d ân tộc Thái, th ì

Ú t ỏ - m ột vị phia Chiềng B an, Mai Sơn - Tây Bắc có dịp về T hăng Long thời Lê - Trịnh Sau khi đã vào dâng tờ K hải cho C húa Trịnh, được Chúa m iễn cho th u ế mỏ vàng, b an áo cẩm bào, cho 5 năm nạp

th u ế một lần, lại được sai n h a d ẫn đi th ă m phố’ phường ngoài phủ, m ua quà K inh đô về mường bản Trong con m ắ t của ú t 0 :

Qua Bông N h u ộ m g ấm lụa trắng.

S a n g Cầu Đông đá dự ng đ â u xa.

H àng cau có hàng trăm loại quả.

M uôn ngàn người các ngả chen nhau.

M ải xem gấ m vóc hàng Đào.

The hồng từng xúc chất cao tận trời.

Cứ th ế Ú t ỏ đã đi h ết nhữ ng nơi b án gương, mũ, h à n g nông cụ, hàn g nồi, h àn g đạn ghém, h àn g thiếc, h à n g vàng, h àn g chiếu,

h àn g bán gươm giáo, hàng mây, quên h ế t cả chân cẳng mỏi nhừ,

mà chỉ luôn trầ m trồ: “toàn những thứ đẹp ơi là đẹp!” “Thợ nào khéo hơn”, “tu y ệ t vòi, sao đến khéo” “tự thuở lớn làm cha lũ nhỏ, thấy bao nghề chẳng có ở Mường” và với ú t ỏ , “cuộc du ngoạn thêm đi thêm biết, về bản mường kể h ế t khó tin!

C â u h ỏ i 663: Thời P h áp th u ộ c , d â n g ia n b u ô n b á n ở c h ợ

Đ ồ n g X u â n ra sao?

T rả lời: Theo lòi kể th à n h vần của dân gian, thì:

“Thức g ì củng có xa g ầ n bán m ua.

Giữa chợ có anh hàng dừa.

H àng cam, hàng quýt, hàng dưa, hàng hồng.

A i ơi đứng lại m à trông.

H àng vóc, hàng nhiễu thong dong nượp nà.

Cổng chợ có chị hàng hoa.

Trang 40

Có người đổi bạc chạy ra chạy vào.

L ạ i thêm “sực tắc” bán rao.

Kẹo cau, kẹo đạn, m iến xào, bún bung.

L ạ i thêm bánh rán, kẹo vừng.

Trước m ặ t bún chả, sau lưng bánh giò.

On ào chuyện nhỏ, chuyện to.

L íu lo chú khách bánh bò bán rao.

X ă m x ă m k h i mới bước vào.

H à n g tôm, hà n g tép xôn xao mọi bề.

T anh ngắt hàn g cá, phô trương hàng vàng

Lôi thôi là chị hà n g giang.

B á n rổ, bán xảo, bán sàng, bán nia.

Thưỡi m ôi là chị hà n g thìa.

S a n sá t hàng bát nhiều bề long đong.

Đỏ đon n h ư chị hàn g hồng.

H à n g cam, hà n g quýt, bưởi bòng thiếu chi

Trống quân, cò lả sót gì.

Mỗi người m ột vẻ ai th ì kém ai.

L ạ i thêm cạo m ặ t ngoáy tai.

L ạ i thêm ngoài chợ có người họa tranh

N goài ra cải, diếp, răm, hành.

T h ìa là, cải cúc x a n h xa n h rõ ràng.

Có người bán lược, bán gương.

Có người bán cả hòm rương, tủ quầy.

Ngày đăng: 25/07/2022, 10:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w