1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngày 10-5-1972: Một ngày dài Không chiến - Phần 2

120 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 7,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày 10-5-1972: Một ngày dài Không chiến là hồi ức mà tác giả Nguyễn Công Huy muốn kể lại về cuộc chiến đấu trên không ác liệt với quân Mỹ ở miền Bắc Việt Nam vào ngày 10-5-1972. Trong phần 2 của ebook này, tác giả sẽ cung cấp một số thông tin về các phi công của cả hai bên trực tiếp tham gia các trận không chiến trong ngày 10-5-1972 để bạn đọc hiểu rõ thêm. Tác giả cũng kể thêm về những cuộc gặp với những người từng tham gia chiến đấu trong ngày hôm ấy. Mời các bạn cùng đón đọc.

Trang 1

Phải mất nhiều năm sau chiến tranh tôi mới có

cơ hội để được suy ngẫm một cách thấu đáo những

gì mình từng trăn trở, và cũng là đến lúc đó mới có

cơ hội nắm bắt được những gì mình cần biết qua sự bùng nổ của thông tin, nhất là qua mạng Internet.Bao năm rồi, tôi vẫn canh cánh bên lòng về những trận không chiến ngày 10 tháng 5 năm 1972 Tôi cho rằng, một khi mình đã từng là người tham gia chiến đấu trong ngày hôm ấy thì mình phải hiểu

rõ hơn về nó Dần dà, tôi đã tập hợp lại được các tư liệu,

Trang 2

các sự kiện liên quan đến ngày hôm đó và muốn trình bày lại một cách tương đối tổng thể, đặc biệt là

về những con người cả hai phía trong ngày hôm ấy Đương nhiên, không thể nào lần tìm được cả hàng trăm con người, nhưng biết được đến đâu cũng là hay đến đó, rồi dần dần sẽ bổ sung sau vậy Sau đây, tôi

sẽ cung cấp một số thông tin về các phi công của cả hai bên trực tiếp tham gia các trận không chiến trong ngày 10-5-1972 để bạn đọc hiểu rõ thêm, dù là chưa đầy đủ

Với 414 lần chiếc xuất kích trong ngày của Không quân và Hải quân Mỹ gồm hàng trăm máy bay (22 loại, từ tiêm kích, cường kích, tác chiên điện tử, trực thăng, trinh sát, tiếp dầu trên không ), tức là hàng trăm phi công tham gia thì quy mô của cuộc không chiến không hề nhỏ Các máy bay của Không quân Mỹ chủ yếu cất cánh từ Thái Lan, trên các sân bay Ubon, Udon, Ta-khơ-li, Korat và Ưtapao hướng đánh vào Hà Nội, cầu Long Biên, ga Yên Viên

Các máy bay của Hải quân Mỹ thì cất cánh từ bôn tàu sân bay: Kitty Hawk, Constellation, Coral Sea

và Okinawa, hướng đánh vào Hải Phòng, Hải Dương và các cây cầu ở các khu vực này

Trên tàu sân bay uss Kitty Hawk (CVA-63) có

22 chiếc F-4J, 21 chiếc A-7E, 12 chiếc A-6A và B,

ba chiếc KA-6D, bôn chiếc RA-5C, bôn chiếc E-2B,

Trang 3

hai chiếc EKA-3B, bốn chiếc SH-3G, năm chiếc HH-3A,

Tàu sân bay uss Constellation (CVA-64) thì chở 24 chiếc F-4J, 22 chiếc A-7E, 12 chiếc A-6A, bôn KA-6D, bốn chiếc RA-5C, hai chiếc EKA-3B, bốn E-2B, ba chiếc SH-3G

Tàu sân bay ưss Coral Sea (CVA-43) chỏ 23 chiếc F-4B, 22 chiếc A-7E, 13 chiếc A-6A và B, ba chiếc KA-6D, ba chiếc EKA-3B, hai chiếc RF-8G, bốn chiếc SH-3G

chiếc HH-3A, 14 chiếc CH-46D, sáu chiếc CH-53D

và ba chiếc UH-1E

Tổng chỉ huy lực lượng Không quân là Đại tướng Giôn Vốc (John Vogt) - Tư lệnh Tập đoàn Không quân s ố 7.

Chỉ huy lực lượng của H ải quân là Chuẩn Đô đốc Uy-li-am M ách ( W illiam Mack).

Tư lệnh Tập đoàn Không quân sô" 7, Đại tướng

Giôn Vốc sinh ngày 18 tháng 3 năm 1920, gia nhập

Không quân Mỹ từ năm 1941, là người trải qua con đường học vấn rất ấn tượng, tốt nghiệp các trường đại học nôi tiếng như Yale, Columbia và Harvard Giôn VỐC đã lấy bằng thạc sĩ tại Đại học Columbia, sau đó theo học chuyên ngành Quan hệ Quốc tế tại Đại học Harvard

Trang 4

Từ tháng 4 đến tháng 12 năm 1942, Vốc phục vụ như là một phi công chiến đấu tại Phi đội không quân tiêm kích 63 (Fighter Squadron), thuộc Liên đoàn 56 (Fighter Group) Tháng 1 năm 1943, Vốc đã cùng phi đội của mình đến Anh và hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu vối tư cách chỉ huy đội bay Tháng 5 năm 1944, Vốc trở thành Phi đội trưởng Phi đội 360 (Fighter Squadron), thuộc Liên đoàn 356 (Fighter Group) và thực hiện nhiệm vụ chiên đấu thứ hai; tham gia trong các chiến dịch Air Offensive, Europe, Rhineland và Normandy Invasion, vốc đã bắn rơi tám máy bay đối phương trong chiến đấu trên không.

Từ tháng 11 năm 1945 đến tháng 7-1946, Vôc giữ chức Chỉ huy trưởng căn cứ Không quân thứ nhất và căn cứ lục quân Ibura tại Recife, Bra-xin cho đến khi trở về Hoa Kỳ

Giôn VỐC phục vụ nhiều năm tại Phân ban tác chiến và kế hoạch, Bộ Tư lệnh Không quân Mỹ.Chính Kít-xinh-giơ, người lần đầu tiên gặp tướng Vôc tại Đại học Harvard vào những năm 50 của thê kỷ trưóc đã tiến cử ông ta với Ních-Xơn.Ngay từ năm 1954, khi Pháp có nguy cơ thất thủ tại Điện Biên Phủ, vốc đã được Bộ Tư lệnh Không quân Mỹ cử sang Pa-ri để bàn bạc với Bộ chỉ huy Không quân Pháp về các kế hoạch can dự của Không quân Mỹ vào Đông Dương

Trang 5

Năm 1965, khi bắt đầu "Chiến dịch Sấm Rền", tướng Vốc lúc đó làm việc trong văn phòng Bộ Quốc phòng, trực tiếp giúp Mắc Na-ma-ra và Pôn Nít-dơ (Paul Nitze) (khi đó là Bộ trưởng Hải quân và Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ) khởi thảo danh mục các mục tiêu đánh phá cho Không quân Mỹ, sau đó một thời gian dài là Phó Tư lệnh Không quân Thái Bình Dương.

Năm 1972, Tổng thống Ních-Xơn đã bổ nhiệm tướng Giôn Vốc làm Tư lệnh Tập đoàn Không quân sô" 7, nơi Vốc trực tiếp chỉ huy "Chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ 1

và 2", những chiến dịch cuối cùng của Không quân

Mỹ trong chiến tranh Việt Nam

Trước khi lên đường sang Sài Gòn nhận nhiệm

vụ, tướng Vốc đã gặp Tổng thông Ních-Xơn và Cô" vấn an ninh Hen-ri Kít-xinh-giơ tại tòa nhà điều hành cạnh Nhà Trắng Tại cuộc gặp này, Ních-Xơn nhắc lại quyết tâm rút bộ binh Mỹ khỏi Việt Nam như đã hứa với cử tri Mỹ, nhưng yêu cầu tướng Giôn Vô"c phải tiến hành mọi biện pháp để giữ được miền Nam Việt Nam Tưống Vốc hứa sau khi tiếp thu công việc và nắm vững tình hình các đơn vị thì

sẽ hành động quyết liệt

Sau chiến tranh Việt Nam, vào tháng 10 năm

1973, tướng Vô"c được bổ nhiệm làm Tư lệnh Không quân Thái Bình Dương

Tháng 6 năm 1974, tướng Giôn Vốc được bổ nhiệm là Tư lệnh Không quân Mỹ ở châu Ẩu

Trang 6

Tướng Giôn Vốc về nghỉ hưu năm 1975 và mất ngày 16 tháng 4 năm 2010.

Chuẩn Đô đốc Uy-li-am Pết-đơn Mách (William Paden Mack) sinh ngày 6 tháng 8 năm 1915, từng tốt nghiệp Học viện Hải quân vào năm 1937 và là Chỉ huy trưởng của Học viện Hải quân Hoa Kỳ ở Annapolis, Maryland từ 16 tháng 6 năm 1972 cho đến khi nghỉ hưu vào tháng 8 năm 1975

Sau này, Uy-li-am Mách đã trở thành một nhà văn và mất ngày 15 tháng 1 năm 2003

Đ ể đánh sập cây cầu Long Biên vào ngày này,

Mỹ đ ã sử dụng 20 chiếc F-4, năm chiếc F-105 và Đại tá Không đoàn trưởng Các Min-lơ cùng Đại tá Không đoàn phó Ri-sác Hon trực tiếp bay dẫn đội, chỉ huy việc đánh cầu .

Đại tá Không đoàn trưởng Các Min-lơ sinh năm 1930 ở Bớc-minh-ham, Alabama, tốt nghiệp trung học vào năm 1948 và tôt nghiệp trường Đại học Alabama năm 1951 vối bằng cử nhân quản trị kinh doanh Các Min-lơ tiếp tục lấy bằng tiến sĩ Luật năm 1961 từ Đại học Saint Mary ỏ San Antonio, Tếch-dát Các Min-lơ cũng đã tôt nghiệp Đại học chỉ huy Không quân và Tham mưu cao cấp vào năm 1962 và trường Cao đẳng công nghiệp của cốc lực lượng trang bị năm 1970

Các Min-lơ gia nhập Không quân Hoa Kỳ tháng 6 năm 1951 Sau khi hoàn thành khóa đào

Trang 7

tạo cơ bản, Min-lơ tham dự lớp huấn luyện phi công tại Bartow Air Base, Phờ-lo-ri-đa Tháng 9 năm 1952 tốt nghiệp, nhận quân hàm Trung úy, sau đó tiếp tục hoàn thành lớp đào tạo phi hành đoàn chiến đấu F-84 tại căn cứ Không quân Luke, Arizona.

Tháng 1 năm 1953, Các Min-lơ được điều về chỉ huy Không đoàn 474 (Tactical Fighter Wing) tại căn cứ Không quân Kunsan, Hàn Quốc và trỏ thành sĩ quan hoạt động của Không đoàn 430 (Tactical Fighter Wing) tháng 5 năm 1953 Các Min-lơ tham gia chiến tranh Triều Tiên với 57 phi

vụ, trưốc khi tham gia chiến tranh ở Việt Nam.

Tháng 12 năm 1953, Min-lơ được giao nhiệm vụ chỉ huy đào tạo Không quân và phục vụ tại Phi đoàn đào tạo chiến đấu 3645 tại căn cứ Không quân Laughlin, Tếch-dát Tháng 2 năm 1957, được điều đến căn cứ Hondo, Tếch-dát, một trường đào tạo phi hợp đồng dân sự và là sĩ quan huấn luyện quân sự cho một phi đội Hàng không thiếu sinh quân

Tháng 3 năm 1958, Min-lơ được chuyển đến căn cứ Randolph, Tếch-dát làm Giám đốc của đoàn Tiêu chuẩn T-33 Tháng 8 năm 1961, Min-lơ theo học Đại học Khống quân và Tham mưu cao cấp tại căn cứ Maxwell, Alabama

Sau khi hoàn thành việc học của mình, Min-lơ tham gia Bộ Tham mưu Không quân đồng minh

Trang 8

chiến thuật thứ tư, một tổ chức quân sự của NATO tại căn cứ Ramstein, Đức vào tháng 6 năm 1962, từng là sĩ quan điều hành các hoạt động cho Phó Tham mưu trưởng.

Tháng 7 năm 1966, Min-lơ được điều đến Không đoàn chiến thuật 31 tại căn cứ Homestead, Phờ-lo-ri-đa Không đoàn 31 được triển khai tới căn

cứ Không quân Tuy Hòa của quân đội Sài Gòn vào tháng 10 năm 1966 Khi đó, Min-lơ là Giám đôc của các hoạt động và đào tạo

Tháng 1 năm 1968, Min-lơ được điểu trở lại Ramstein vối tư cách là trợ lí Giám đôc đánh giá chiên thuật và sau đó là trợ lí Giám đốc của không lưu tại Bộ chỉ huy Không quân 17

Tháng 7 năm 1969, Min-lơ tham gia trường Đại học công nghiệp của các lực lượng trang bị ở Oa-sinh-tơn Tháng 7 năm 1970, được bổ nhiệm làm Giám đốc điều hành của Không đoàn Vũ khí 57

và là chỉ huy của Trường Vũ khí chiến thuật tại căn cứ Nellis, Nê-va-đa

Năm 1971, Min-lơ trỏ lại Tây Nam Á vối cương

vị là Phó chỉ huy của Không đoàn chiến thuật sô 8 tại căn cứ Không quân Hoàng gia Udon, Thái Lan

và trở thành Chỉ huy trưởng vào tháng 2 năm 1972.Khi chỉ huy Không đoàn chiến thuật sô' 8, Min-lơ

đã lái máy bay F-4 vói nhiệm vụ tấn công trong chiến dịch Lai-riơ-bếch-cơ vào miền Bắc Việt Nam

Trang 9

Min-lơ gia nhập Đồng minh không lực miền Nam châu Âu (AIRSOUTH), một trụ sở quân sự NATO ở Naples, Ý vào tháng 1 năm 1973.

Tháng 11 năm 1973, Min-lơ được điều đến Hancock Field làm chỉ huy của vùng NORAD 21 với trách nhiệm bổ sung là chỉ huy Sư đoàn Không quân 21 Cũng trong năm 1973 này, Min-lơ được phong quân hàm Thiếu tướng

Tháng 1 năm 1974, tướng Min-lơ là Tư lệnh phó Không đoàn chiến thuật đồng minh của NATO

ở Vicenza, Ý

Tổng cộng, Các Min-lơ đã tham gia 524 trận Riêng ỏ chiến tranh Việt Nam là 189 trận bay trên F-4 và 278 trận bay trên F-100

Đại tá Không đoàn phó Ri-sác Hon sinh ngày

2 tháng 3 năm 1931, quê ỏ thành phô' Portland, tiểu bang Oregon

Sau khi tốt nghiệp Đại học Oregon, Ri-sác Hon gia nhập Không quân vào năm 1952

Vào ngày 27 tháng 4 năm 1972, trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Hon đã dẫn đầu cuộc oanh kích đánh sập cây cầu Hàm Rồng - cây cầu từng gây tổn thất cho 36 phi công Mỹ trong suô't bốn năm với những cuộc tấn công thất bại.Trong 30 năm cuộc đòi binh nghiệp của mình, Hon từng thực hiện 335 phi vụ với máy bay F-4,

Trang 10

đã được tặng thưởng bôn huy chương cao quý, mười huy chương Dũng cảm, huân chương ưu tú, huy chương đồng, 23 huy chương Không quân và bảy huy chương đồng khác, trong đó có cả huy chương của quân đội Sài Gòn và Nam Hàn.

Trong đợt nhiệm vụ thứ hai của mình tại Việt Nam, Đại tá Hon được bổ nhiệm làm Tư lệnh phó của Không đoàn Không kích Chiến thuật số’ 8 tại Udon, căn cứ Không quân Hoàng gia Thái Lan.Năm 1982, Đại tá Hon hoàn thành sự nghiệp của mình với tư cách là Phó Tư lệnh thứ ba của Không quân

Đại tá Ri-sác Hon về nghỉ hưu tại Reno, Nê-va-đa và qua đời ngày 3 tháng 1 năm 2015

Vào lúc 8 giờ 52 phú t ngày 10 tháng 5 năm

1972, khi biên đội hai chiếc MiG-21 của Đặng Ngọc Ngự và Nguyễn Văn Ngãi thuộc Trung đoàn Không quản tiêm kích 921 cất cánh từ sân bay Kép lên thì

bị biên đội hai chiếc F - 4 J (Silver Kite) của Đại úy Ot-xtin Hao-kin (Austin H aw kins) và Đại úy Cơ-títx Đô (Curtis Dose) thuộc Phi đoàn VF-92, tàu sân bay uss Constellation đang làm nhiệm vụ bay tuần tiễu ngang săn bay Kép ở độ cao 5.000 mét

p h á t hiện, lao xuôhg tấn công.

Chiếc F-4 bay sô' 2 của Đ ại úy Cơ-títx Đô và Thiếu tá Giêm M ắc Đê-vít (Jam es Mc Devitt) điều khiển đã bám theo máy bay của Nguyễn Văn Ngãi,

Trang 11

p h ón g h ai quả tên lửa AIM-9G Quả tên lửa thứ

h a i đ ã lao trúng máy bay của Nguyễn Văn Ngãi

k h i an h mới lên đến độ cao 15-20 mét ị

Nguyễn Văn Ngãi không kịp nhảy dù, máy bay rơi xuôhg p h ía đầu đường băng và đã hy sinh.

Sau này,' tôi được biết, Đại úy ôt-xtin Hao-kin sinh ngày 8 tháng 8 năm 1942, ở Phờ-lo-ri-đa là một phi công phản lực kỳ cựu, phục vụ trong lực lượng Hải quân Hoa Kỳ 21 năm

Vào ngày 21 tháng 4 năm 1985, Ot-xtin Hao-kin

là sĩ quan điều hành của đơn vị trù bị Không quân của Hải quân tại trạm Point Mugu đã bị thiệt mạng khi chiếc máy bay hạng nhẹ của Ôt-xtin Hao-kin bị rơi ở miền Bắc Xan Đi-ê-gô Chiếc máy bay một động

cơ này bị tai nạn trong lúc trời mưa

Cơ-títx Đô hiện đã về hưu với quân hàm Trung

tá Hải quân, từng nhận Huân chương Danh dự và

13 Huy chương khác trong Không quân Hải quân Hoa Kỳ

Trung tá Cơ-títx Đô cùng với cha của mình là Đại úy Rô-bớc Đô (Robert G Dose) là cặp cha con duy nhất ghi được chiến công bắn rơi máy bay đốì phương

Riêng về phi công Thiếu tá Giêm Mắc Đê-vít thì tôi hoàn toàn không có thông tin

Lúc 9 giờ 36 phút ngày 10 tháng 5 năm 1972, biên đội bốn chiếc tiêm kích MiG-19 của Phạm Ngọc Tâm, P hạm Hùng Sơn (C), Nguyễn Văn Phúc,

Trang 12

Lê Đức Oánh thuộc Trung đoàn K hông quăn tiêm kích 925 trực ở đầu nam sân bay Yên B ái đã xuất kích chiến đấu và 20 phú t sau, biên đội bốn chiếc tiêm kích MiG-19 của H oàng Cao Bổng, Phạm Cao

Hà, Nguyễn Văn Cương, L ê Văn Tưởng trực ở đầu bắc sân bay Yên B ái củng xuât kích Cả hai biên đội cùng vòng trực trên đỉnh sân bay.

Hai biên đội MiG-19 đ ã g ặp lực lượng 32 chiếc máy bay F-4 của Không đoàn tiêm kích chiến thuật

s ố 432 của Mỹ do Thiếu tá Rô-bớc An-phơ-rết Lót (Robert Alfred Lodge) và Đ ại úy Râu-gơ Lót-trơ Roger c Locher) dẫn đầu.

Các trận tao ngộ chiến đã; xảy ra.

Phi công tiêm kích Nguyễn Văn Phúc đã bám được chiếc F-4D của Thiếu tá Rô-bớc An-phơ-rết Lót, nô liên tiếp h a i loạt đạn Chiếc F-4D trúng đạn, khựng lại rồi đ ổ vào xoáy ốc Nó tiếp tục nhận được loạt đạn thứ ba, bị gãy đôi và bốc cháy.

Thiếu tá Rô-bóc An-phơ-rết Lót thiệt mạng, còn Đại úy Râu-gơ Lót-trơ kịp nhảy dù

Tôi không có được thông tin về Thiếu tá Rô-bớc An-phơ-rết Lót, còn Đại úy Râu-gơ Lót-trơ thì sinh ngày 13 tháng 9 năm 1946 tại Sabetha, bang Kan-đát Lót-trơ gia nhập lực lượng Không quân năm 1969, tốt nghiệp Trường đào tạo phi công - hoa tiêu, bay trên loại máy bay F-4 tại căn cứ Davis Monthan ỏ Arizona, sau đo được điều đến Phi đội 555, Không đoàn 432 TFW Lót và Lót-trơ

Trang 13

là những phi công giàu kinh nghiệm trong khu vực Đông Nam Á Khi máy bay bị bắn, Lót-trơ đã báo cho phi công chính rằng động cơ bên phải của máy bay đã phát nổ Lót và Lót-trơ đã thảo luận các lựa chọn của họ Áp suất thủy lực tụt dần Khi Lót để chế độ lái tự động, máy bay không đáp ứng Phía sau của máy bay đang bốc cháy, máy bay thì gầm

rú, quay cuồng và khói ùa vào đầy buồng lái Lót-trơ nói với Lót rằng máy bay càng lúc càng nóng và tốt hơn hết là nhảy dù Lót nhìn qua vai phải của Lót-trơ và nói: "Tại sao không bung dù đi?" Khoảng thời gian ba tuần trước đó, Rô-bớc Lót đã từng nói với các đồng nghiệp trong phi đoàn giống như nhiều lần đã nói trước đây rằpg sẽ không cho phép mình bị bắt vì biết quá nhiều về thông tin mật và nhạy cảm Lót-trơ đã nhảy dù thành công nhưng không bao giờ nhìn thấy chiếc dù của Thiếu tá Rô-bốc Lót Chiếc dù của Lót-trơ bị mắc kẹt vào cây nên Lót-trơ không thể giấu dù của mình được Sau khi lấy ra vài vật dụng cần thiết từ gói trang bị sổng còn, cho vào áo cứu hộ (gồm súng ngắn, hai lít nưốc, hộp cứu thương, thuốc chông côn trùng, màn chống muỗi và một con dao) và ngụy trang đường mình đi rồi leo lên phía đông của đỉnh núi và rồi lại trốn trong bụi cây bên sưòn phía Tây Trong ba ngày, Lót-trơ nghe chừng như có một đội tìm kiếm của người địa phương đang đập vào các bụi rậm ở phía đông sườn núi Lót-trơ chui ấn vào

Trang 14

bụi cây và rồi lại quay trở lại đỉnh núi Lót-trơ quyết định cơ hội tốt nhất cho mình đê được cứu hộ

là băng qua rừng, địa hình đồi núi và vùng trồng trọt ở thung lũng sông Hồng, bơi qua sông, tìm cách đến vùng núi thưa thốt dân cư ở phía Nam Lót-trơ đã lang thang trong rừng 23 ngày Lót-trơ không dám sử dụng thiết bị cứu hộ phát thanh URC-64 của mình, chỉ dám di chuyên trong khoảng

19 kilômét mỗi ngày vào thời điểm ban đêm và rạng sáng, tránh người địa phương và tránh xa đất liền Có lần, Lót-trơ suýt chạm trán với một người dân Việt Nam vào buổi sáng tinh mơ, nhưng

đã kịp lẩn tránh Lót-trơ dã phải trôn ngoài cánh đồng,'lấy lá cây và rơm rạ phủ kín người, nằm im

ở đó cả ngày

Suốt 23 ngày lang thang trong rừng, Lót-trơ phải tự tìm lá cây, củ rừng và những thứ có thê ăn được, uống được để nuôi sông mình Cũng trong 23 ngày ấy, Lót-trơ đã sút 14 kilôgam

Ngày 1 tháng 6, Lót-trơ đã liên lạc được với một chiếc F-4 đang bay trên tròi, kịp báo vị trí của mình Một nhiệm vụ cứu nạn được đặt ra cho một số máy bay A-1E HH-53, F-4 và F-105 để giải cứu Lót-trơ nhưng đã bị lực lượng Phòng không và MiG đánh bạt Sang ngày 2 tháng 6, tướng Giôn Vốc sau khi tham khảo ý kiến với chỉ huy quân đội MACV là tướng Phò-rê-đê-rích Uây-an (Frederick c Weyand), đã hủy

bỏ cuộc tấn công Hà Nội, huy động tất cả các nguồn

Trang 15

lực sẵn có, vối hơn 150 máy bay để giải cứu Đại úy Lót-trơ Các lực lượng đặc nhiệm trực tiếp của 119 máy bay bao gồm hai chiếc HH-53 - máy bay trực thăng cứu hộ, máy bay ném bom và một sô" F-4 hộ tống, EB-66s, A-lEs, F-105G và máy bay tiếp dầu KC-135 Đến trưa ngày 2 tháng 6 thì Lót-trơ được cứu thoát ở vị trí cách Yên Bái năm dặm (tám kilômét) bằng máy bay trực thăng HH-53 và được chở về sân bay Udon.

Trưốc đó, tổ bay của Lót-trơ tuyên bố" bắn trúng ba chiếc máy bay MiG của đối phương và Lót-trơ trở thành phi công Mỹ có quãng thời gian

từ khi bị bắn rơi cho đến khi được cứu thoát là dài nhất, với một chiến dịch giải cứu dài nhất

Đại úy Lót-trơ đã thực hiện phi vụ thứ 407 trong chiến tranh

Sau khi trở về Mỹ, Lót-trơ đã tham dự khóa đào tạo phi công và được giao lái F-4 với vị trí phi công chính Lót-trơ bay F-4 ở Niu Mê-hi-cô, Mê-hi-cô, A-lát-xca và Phò-lo-ri-đa trước khi chuyển sang bay huấn luyện trên loại máy bay F-16, giữ chức vụ hướng dẫn và chỉ huy bay Sau đó, Lót-trơ đóng một vai trò quan trọng trong những ngày đầu của "Chương trình đen" siêu bí mật sản xuất ra các máy bay chiến đấu tàng hình Lockheed F-117 Nighthawk

Râu-gơ Lót-trơ nghỉ hưu năm 2010 ở Sabetha, Kan-dát

Trang 16

Biên đội bốn chiếc của H oàng Cao Bổng, Phạm Cao Hà, Nguyễn Văn Cương, L ê Văn Tưởng thì quần nhau với tốp F-4 của Không quăn Mỹ đang làm nhiệm vụ yểm hộ tốp cường kích ném bom la-de (mật danh là Cleveland) S ố 4 L ê Văn Tưởng đ ã cắt một đường bay siêu gọn, bám ngay sau chiếc F-4 do Đại

úy Giép-phờ-rây Lin-đơn Ha-rít (Jeffrey Lyndon Harris) và Đại úy Đen-nít Ét-uốt Uyn-kin-xơn (Dennis Edward Wilkinson) điều khiển, nện hai loạt đạn trúng cánh bên p h ả i của chiếc F-4E này, bắt nó cắm đầu xuống ph ía tây nam sân bay Yên Bái.

Cả hai ph i công bay trên chiếc F-4 này không nhảy dù được và đã chết trận.

Giép-phờ-rây Lin-đơn Ha-rít sinh ngày 28 tháng 5 năm 1943 và tử trận ngày 10 tháng 5 năm 1972.Đen-nít Ét-uốt Uyn-kin-xơn sinh ngày 23 tháng 7 năm 1944, tử trận ngày 10 tháng 5 năm 1972

Lúc 9 giờ 39 phút, biên đội hai chiếc MiG-21 của Nguyễn Công Huy và Cao Sơn K hảo thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 trực ban chiến đâu trẽn sân bay Đa Phúc nhận lệnh xuất kích chiến đâu, bay về khu vực Tuyên Quang làm nhiệm vụ nghi binh và yểm trợ cho lực lượng MiG-19 đang làm nhiệm vụ bảo vệ các mục tiêu ở Yên Bái, Tuyên Quang, đã gặp địch và trận không chiến không cân sức đã xảy ra.

Trong trận không chiêh này, chiếc F-4 do Trung úy Giôn-Mác-cơ (John D Markle) và Đại úy

Trang 17

xti-vơn ip-vơ (ỈSteven D hiaves) thuộc Phi đội bbb, Không đoàn 432 TFW điều khiển đã bắn trúng máy bay của Cao Sơn Khảo.

Tôi hoàn toàn không có thông tin về hai phi công này

12 giờ 55 phút, biên đội bốn chiếc tiêm kích MiG-17 của Nguyễn Văn Thọ, Tạ Đông Trung, Đỗ Hạng, Trà Văn Kiếm thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 xuất kích từ sân bay Kép vòng

về p h ía H ải Dương thì gặp lực lượng lớn máy bay của H ải quân Mỹ gồm A-7 và F-4.

Trong trận không chiến, sau khi ph i công Đỗ Hạng bị bắn rơi, bị bắn rách dù và hy sinh thì phi công Trà Vần Kiếm củng quần nhau tơi bời VỚI F-4 do Đại úy Ran-đờ Cơn-ninh-ham (Randal H Cunningham)

và Trung úy Uy-li-am Đơ-rítx-côn (William p Drisscoll) thuộc Phi đội VF-96, tàu sân bay uss Constellation điều khiển.

Máy bay của Trà Văn Kiếm bị trúng tên lửa A1M-9G, bị thương nhẹ, nhưng do thất tốc, lao xuống đất và Thiếu úy Trà Văn K iếm đ ã hy sinh Đại úy Cơn-ninh-ham thì cứ lầm tưởng Trà Văn Kiếm là p h i cồng huyền thoại Nguyễn Tom 1 vì các động tác trong không chiến của Trà Văn Kiếm

1 Nỗi ám ảnh về các phi công xuất sắc của Không quân Việt Nam khiến phi công Mỹ đồn tai nhau về một phi công “át” có tên là Đại tá Toon (có người gọi là Tom) và gán cho cái họ rất phổ biến Việt Nam là họ Nguyễn Trên thực tế, Đại tá Nguyễn Tom chỉ là một nhân vật tưởng tượng.

Trang 18

rất điêu luyện Trên đường trở về tàu sân bay Cơn-ninh-ham đã bị tên lửa P hòng không SAM bắn rơi, cả hai p h i công trên chiếc F-4 đều nhảy dù

và được cứu thoát.

Đại úy Cơn-ninh-ham (có biệt danh là Randy

"Duke" Cunningham) sinh ngày 8 tháng 12 năm

1941 tại Lốt Ảng-giơ-lét, bang Ca-li-phoóc-ni-a.Sau khi nhận bằng cử nhân vào năm 1964 và thạc sĩ trong ngành giáo dục năm 1965 của trường Đại học Missouri, bang Missouri, Cơn-ninh-ham băt đầu sự nghiệp của mình như là một nhà giáo dục và một huấn luyện viên tại Trung học Hinsdale Là một huấn luyện viên bơi lội, Cơn-ninh-ham đã từng đào tạo được hai vận động viên đoạt Huy chương Vàng và Bạc Olympic

Cơn-ninh-ham đã tốt nghiệp khóa huấn luyện nâng cao TOP GUN trước khi được điều đến Phi đội VF-96, tàu sân bay uss Constellation, Hải quân Mỹ "Duke" Cơn-ninh-ham đã trở thành một trong những phi công Hải quân Mỹ được vinh danh trong cuộc chiến tranh Việt Nam

Trong chiến tranh, Cơn-ninh-ham xuất kícl

300 phi vụ, được ghi nhận bắn rơi năm chiếc MiG (bôn chiếc MiG-17 và một chiếc MiG-21), vì vậy Cơn-ninh-ham cùng với phi công Đò-rítx-côn tr< thành cặp phi công Aces (át chủ bài) đầu tiên Vỉ

duy nhất của Hải quân Mỹ

Trang 19

Cơn-ninh-ham đã nhận được Huy chương cao quý của Hải quân Mỹ là Navy Cross, hai Huân chương Danh dự, 15 Huy chương Không quân và Huy chương Dũng cảm.

Sau chiến tranh Việt Nam, "Duke" Cơn-ninh-ham quay lại làm giáo viên tại Trung tâm huấn luyện phi công TOP GUN, sau đó là với VF-154 Sau đợt nhiệm vụ tại Lầu Năm Góc, Cơn-ninh-ham lại trở

về VF-154 Năm 1987, Cơn-ninh-ham được bổ nhiệm làm Tư lệnh một Không đoàn

Trong những năm 1990, Cơn-ninh-ham còn nổi tiếng là một bình luận viên truyền hình trên kênh lịch sử với chương trình "Các trận không chiến nổi tiếng nhất" Thậm chí, trong chiến tranh Vùng Vịnh, Cơn-ninh-ham còn tham gia bình luận trực tiếp trên máy bay của Hải quân Mỹ tham chiến

Sự nghiệp chính trị của Cơn-ninh-ham bắt đầu với việc giành được ghế nghị sĩ của Đảng Cộng hòa quận 44, một trong bôn quận của thành phô Xan Đi-ê-gô vào năm 1990, nhưng rồi vào những năm sau đó không được thuận lợi

Sau khi nghỉ hưu năm 1987 với quân hàm trung tá, Cơn-ninh-ham đã trở thành Hiệu trưởng Trường Quốc gia Hàng không và bắt đầu tiếp thị công ty Hàng không của riêng mình - Doanh nghiệp TOP GUN

Trang 20

Phi cơng ngồi buồng sau trên máy bay của Cơn- ninh-ham là Trung úy nhất Uy-li-am Đị-rítx-cơn sinh ngày 5 tháng 3 năm 1947, đã tốt nghiệp ngành kinh tế của Trường Đại học Stonehill, North Easton, Ma-sa-chu-sét năm 1966 và lấy bằng thạc

sĩ quản trị tại Đại học Nam Ca-li-phoĩc-ni-a

Đờ-rítx-cơn gia nhập lực lượng Hải quân Mỹ năm 1968 và trở thành phi cơng dẫn đường (RIO) trên máy bay F-4 Trong ngày 10-5-1972, sau trận khơng chiến với MiG-17 của Khơng quân Việt Nam, khi quay trở về căn cứ của mình, máy bay của Cơn-ninh-ham và Đờ-rítx-cơn đã bị bắn rơi trên biển Cơn-ninh-ham và Đị-rítx-cơn nhảy dù và được cứu thốt

Cùng với Cơn-ninh-ham, Đị-rítx-cơn đã được cơng nhận là hai phi cơng Aces (át chủ bài) duy nhất của Hải quân Mỹ

Uy-li-am Đờ-rítx-cơn đã được tặng thưởng Huy chương của Hải quân Mỹ Navy Cross

Sá chiến tranh, Uy-li-am Đờ-rítx-cơn trở thành giáo viên bay tại Trường Naval Fighter Weapons, đào tạo phi cơng chiến đấu của Hải quân (TOP GUN), rồi trở thành giáo viên bay trên F-14 Tomcat của Phi đồn 124 (VF-124), Phi đồn thay thế của Hạm đội F-14 cho Hạm đội Thái Bình Dương tại NAS Miramar (hay là MCAS Miramar),

ở Xan Đi-ê-gơ

Trang 21

Uy-li-am Đờ-rítx-côn về hưu năm 1982 với quân hàm Trung tá, nhưng vẫn trong lực lượng trù

bị Hải quân Hoa Kỳ, bay F-4 Phantom II và sau đó

là F-14 Tomcat trong Phi đoàn máy bay chiên đấu của trù bị Hải quân tại NAS Miramar

Đờ-rítx-côn hiện đang làm việc trong lĩnh vực bất động sản tại Xan Đi-ê-gô mặc dù vẫn tiếp tục phục vụ trong vai trò một nhà tư vấn về các vấn đề Hàng không quân sự

Lúc 12 giờ 57 phút ngày 10 tháng 5 năm 1972, biên đội hai chiếc MiG-21 của L ê T han h Đạo và

Vũ Văn Hợp thuộc Trung đoàn K hông quăn tiêm kích 927 từ sân bay Kép xuất kích chiến đấu bay về khu vực cầu L ai Vu đã p h á t hiện được tốp F-4 và

h ai bên cùng lao vào cuộc không chiến Trong trận không chiến này, cả Lê Thanh Đạo và Vũ Văn Hợp đều bắn rơi máy bay địch.

Chiếc F-4 bị Lê Thanh Đạo bắn rơi do Trung tá Ha-ri Li Bơ-lách-bơn (Harry Lee B lackbu rn ) và Trung úy Xtê-phơn An-tô-ni Rút-lóp (Stephen Anthony Rudllof) thuộc Phi đoàn VF-92, tàu sân bay uss Constellation điều khiển.

Cả hai phi công này đều nhảy dù và đều bị bắt làm tù binh.

Trung tá Ha-ri Li Bơ-lách-bơn sinh ngày 28 tháng 12 năm 1935 tại Highland Springs, tiểu bang Vơ-gi-ni-a

Trang 22

Ngày 10 tháng 5 năm 1972, Ha-ri Li Bơ-lách-bơn cùng với phi công dẫn đường X-tê-phơn An-tô-ni Rút-lóp bay trên chiếc F -4J làm nhiệm vụ chê áp pháo Phòng không trên không phận gần Hải Dương thì bị MiG-21 bắn rơi.

Xtê-phơn An-tô-ni Rút-lóp là Trung úy Hải quân Hoa Kỳ, quê quán tại Brúc-lin, tiểu bang Niu Yoóc, gia nhập lực lượng Hải quân Hoa Kỳ vào tháng 9 năm 1964

Xtê-phơn An-tô-ni Rút-lóp là phi công dẫn đường cho máy bay F-4J, ngồi buồng sau, bay cùng Ha-ri Li Bơ-lách-bơn vào không phận miền Bắc Việt Nam, bị MiG-21 bắn rơi

Xtê-phơn An-tô-ni Rút-lóp nghỉ hưu vào tháng

11 năm 1984 với cấp bậc trung tá và hiện sông ở Niu Yoóc

So sánh về số" lần xuất kích của cả hai bên trong ngày 10 tháng 5 năm 1972 có thể thấy: phía Không quân và Hải quân Mỹ có 414 lần chiếc xuất kích, còn phía Không quân Việt Nam thì có 64 lần chiêc xuất kích Phía Mỹ có hàng trăm phi công của Không quân và Hải quân tham gia Phía Không quân Việt Nam có 40 phi công của bốn Trung đoàn Không quân tham gia, nhưng lực lượng trực tiếp tham chiên trong các trận không chiến chỉ có 18 phi công Vối sự chênh lệch quá lớn như vậy mà sô" lượng máy bay bắn hạ của hai bên được coi là như nhau, điều đó đã chứng minh được sự lớn mạnh của

Trang 23

Không quân Việt Nam và đặc biệt trong các trận không chiến đã có sự hiệp đồng chặt chẽ giữa các loại MiG cùng vối hỏa lực của lực lượng Phòng không Đây là ngày có tần suất cất cánh cao nhất của các lực lượng MiG Nó chứng tỏ sự điều hành, chỉ huy từ các sở chỉ huy rất nhịp nhàng và hiệu quả Nếu không có sự điều hành, chỉ huy, dẫn dắt

từ các Sở chỉ huy với tài năng của những người chỉ huy và dẫn đường cùng tất cả các thành phần khác thì khó có được những chiến công như vậy Với Không quân, đúng là chỉ có "đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể", mới có thê giành thắng lợi

Nếu không có các đồng chí thợ máy, kỹ thuật chuẩn bị cho máy bay luôn ở trạng thái tốt, sẵn sàng cất cánh chiến đấu, nếu không có các thành phần tham gia thuộc ngành hậu cần đảm bảo các

cơ sở vật chất chăm sóc sức khỏe như các bác sĩ, anh chị em nuôi quân, sân đường , nếu không có các sĩ quan quân báo, tác chiến, dẫn đường, thông tin, báo vụ, tiêu đồ xa, tiêu đồ gần căng mình suốt đêm ngày hoàn thành tốt nhất công việc của mình thì chúng tôi - những người phi công chiến đấu chắc không thể cất cánh lên tròi và lại càng không thể làm nên chiến thắng được

Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất cả các đồng chí trong Trung đoàn, Quân chủng đã góp sức cho chúng tôi vượt qua được mọi gian nguy trong chiến trận và trỏ về với tư cách người chiên thắng

Trang 24

Xin kính cẩn nghiêng mình trước anh linh các phi công đã vĩnh viễn từ giã bầu trời, đã xếp lại

"những đôi cánh của mình" trong các trận không chiến, hy sinh vẻ vang vì sự nghiệp chung, vì sự bình yên của bầu trời và mặt đất thân yêu Chúng tôi luôn nhắc và luôn nhớ tới các anh, luôn thấy các anh bay trong đội hình để giữ đất giữ trời, giữ biển đảo của Tổ quốc Việt Nam

Các anh là Bất Tử!

Những chỉ huy, những phi công tham gia trong ngày 10 tháng 5 năm 1972 ấy sau này đã có nhiều người được phong tặng, truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Rất nhiều người cũng đã từng giữ những vị trí trọng trách trong Quân chủng, trong Quân đội nhân dân Việt Nam và trong các cơ quan dân sự

Xin được cung cấp một sô' thông tin về những người chỉ huy, dẫn đường và một s ổ p h i công từng tham gia trong ngày 10 tháng 5 năm 1972 ấy.

Tư lệnh Đào Đình Luyện sinh ngày 5 tháng 11 năm 1929 tại Quỳnh Hội, Quỳnh Phụ, Thái Bình, nhập ngũ tháng 8 năm 1945 Trong kháng chiến chông Pháp, ông đã tham gia các chiến dịch lớn như Việt Bắc, Điện Biên Phủ

Tháng 2 năm 1956, ông được cử làm Đoàn trưởng Đoàn học viên bay tại Trung Quốc

Trang 25

Tháng 2 năm 1964, khi thành lập Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 với biệt danh là "Trung đoàn Sao Đỏ", ông được bổ nhiệm chức vụ Trung đoàn trưởng đầu tiên của Trung đoàn.

Với cương vị Trung đoàn trưởng, ông đã tổ chức

và dẫn đầu đội hình Trung đoàn 921 chuyển sân từ sân bay Mông Tự, Trung Quốc về hạ cánh tại Nội Bài ngày 6 tháng 8 năm 1964 và ngay sau đó đã tô chức cho Trung đoàn hoàn thành công tác chuẩn bị chiến đấu, đánh thắng các trận không chiến đầu tiên với Không quân và Hải quân Mỹ, mở "mặt trận trên không" thắng lợi

Trong những năm chiến tranh, ông giữ nhiều cương vị chủ chốt của bộ đội Không quân

Tháng 4 năm 1966, ông được bổ nhiệm là Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Không quân, thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân Đến tháng 5 năm 1967 là Phó Tư lệnh, tháng 10 năm

1969 là Tư lệnh Binh chủng Không quân thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân

Tháng 5 năm 1977, khi Quân chủng Phòng không - Không quân tách thành hai quân chủng, ông được bổ nhiệm là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân chủng Không quân Tháng 8 năm 1982, ông sang học tại Học viện Bộ Tổng tham mưu Hồng quân Liên Xô mang tên Nguyên soái Cờ-li-ment Vô-rô-si-lôp (Kliment Voroshilov) Tháng 3 năm 1986 là Phó Tổng Tham mưu trưởng Tháng 4 năm 1989 là Thứ trưởng Bộ

Trang 26

Quốc phòng - Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ông nghỉ hưu năm 1996 với quân hàm thượng tướng và là Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.Ông từ trần năm 1999

Ngày 1 tháng 12 năm 2014, ông được truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân

Phó Tư lệnh Trần Mạnh sinh ngày 1 tháng 5 năm 1928 tại xã Vĩnh Lai, An Nhơn, Bình Định, nhập ngũ tháng 12 năm 1946 Trong kháng chiến chống Pháp, ông từng là Chính trị viên Tiểu đoàn

308 lừng danh (như Tiểu đoàn 307) rồi trở thành Chính ủy Trung đoàn Bộ binh thuộc Sư đoàn 330.Năm 1954, ông tập kết ra miền Bắc và được chọn đi học lái máy bay MiG-17 tại Trung Quôc Khi thành lập Trung đoàn Không quân tiêm kích

921, ông được bổ nhiệm là Trung đoàn phó

Tháng 6 năm 1966, ông được bổ nhiệm Trung đoàn trưởng thay cho Đào Đình Luyện Năm 1969, ông được bổ nhiệm là Phó Tư lệnh Binh chủng Không quân Năm 1974 là Tham mưu phó Quân chủng Phòng không - Không quân Năm 1976 là Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam Năm 1977 là Phó Tư lệnh Quân chủng Không quân

Trang 27

Trên cương vị chỉ huy các cấp của Không quân, ông thể hiện là vị chỉ huy Không quân tài năng Bên cạnh công tác chỉ huy chiến đấu thắng lợi, ông còn

có nhiều đóng góp trong xây dựng lực lượng, tổng kết về lí luận Nhiều phi công ưu tú đã đánh giá cao

sự đóng góp của ông trong công tác tổng kết, hình thành chiến thuật, cách đánh của MiG-21 trong điều kiện của Việt Nam

Năm 1981, ông được bổ nhiệm là Tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam,

là một trong những người đặt viên gạch đầu tiên

hình thành Hàng không Quốc gia Việt Nam (Chi

tiết về cuộc đời ông đã được tác g iả Nguyễn Công Huy viết trong cuốn "Người tìm chìa kh óa vàng", Nhà xuất bản Văn học, 2015).

Ông về hưu năm 1990 với quân hàm Thiêu tướng.Ông mất năm 1992

Phó Tư lệnh Trần Hanh sinh ngày 28 tháng 11 năm 1932 tại Lộc Vượng, Mỹ Lộc, Nam Định, nhập ngũ tháng 9 năm 1949, là học viên đoàn bay đầu tiên của Không quân Việt Nam tại Trung Quốc.Ông trực chiến lần đầu vào ngày 6 tháng 8 năm 1965, ngay sau khi Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 chuyển máy bay về nước

Trong chiến tranh, ông xuất kích chiến đấu trên cả hai loại máy bay MiG-17 và MiG-21, bắn rơi

Trang 28

chiếc F-105D Thần Sấm đầu tiên trong chiến tranh trên không ở miền Bắc Việt Nam, ngay trong trận đầu gặp địch Ông là phi công đầu tiên trên thế giới đã dùng MiG-17 bắn rơi máy bay F-105.

Năm 1966, ông và một sô" phi công MiG-17 khác đã chuyển loại sang bay MiG-21

Trong và sau chiến tranh, ông lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Quân chủng Phòng không - Không quân và Bộ Quốc phòng, như Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân tiêm kích

921 năm 1969, Phó Tư lệnh Không quân Việt Nam tháng 3 năm 1972, Tư lênh Quân chủng Không quân năm 1986, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1989, Thứ trưởng

Bộ Quô"c phòng năm 1996

Ngày 1 tháng 1 năm 1967, ông được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân

Năm 1984 ông được phong quân hàm Thiếu tướng

và năm 1989 được phong quân hàm Trung tướng

Ông từng là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam và hiện nay là Trưởng ban liên lạc Cựu chiến binh Không quân

Ong về hưu với quân hàm Trung tướng và hiện sông tại Hà Nội

Trung đoàn trưởng Nguyễn Ngọc Độ sinh ngày 1 tháng 11 năm 1934 tại Thanh Bình, Thanh Chương,

Trang 29

Nghệ An, nhập ngũ tháng 6 năm 1953 và được cử

đi học lái MiG-17 thuộc đoàn học bay sô" 1 tại trường Không quân sô" 3 ở Liêu Ninh Trung Quốc.Ông về nưóc tháng 8 năm 1964 và trực chiến lần đầu vào ngày 30 tháng 5 năm 1965 Ong từng xuất kích chiến đấu nhiều lần trên MỈG-17

Năm 1966, ông chuyển loại lên bay MiG-21.Trong chiến tranh, ông đã xuất kích 66 lần, tham gia sáu trận không chiến, bắn tám quả tên lửa,

hạ sáu máy bay Mỹ (hai chiếc F-105, ba chiếc F-4, một chiếc RF-101), ngoài ra còn chỉ huy biên đội bắn rơi ba chiếc khác Ông lần lượt giữ nhiều cương

vị lãnh đạo của Không quân Việt Nam như Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân tiêm kích 921,

Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 371 và 372, Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân, Chủ nhiệm Khoa Không quân, Học viện Quân

sự cấp cao Bộ Quốc phòng

Ngày 25 tháng 8 năm 1970, ông được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân

Tháng 12 năm 1985, ông được phong quân hàm Thiếu tướng

Ông về hưu năm 2000 và hiện sống tại Hà Nội.Trung đoàn phó Lâm Văn Lích sinh năm 1932 tại Định Thành, Gia Rai, Bạc Liêu, nhập ngũ

Trang 30

tháng 9 năm 1950 tại Đại đội 554, địa phương quân tỉnh Bạc Liêu Sau khi tập kết ra Bắc theo Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1955, ông được chọn đi học lái máy bay chiến đấu tại trường Không quân sô" 3 ở tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc.

Ngày 6 tháng 8 năm 1964, ông đã bay trong biên đội của Trung đoàn trưởng Đào Đình Luyện, chuyển sân từ Mông Tự về hạ cánh tại sân bay Đa Phúc Ông được bổ nhiệm là Chủ nhiệm xạ kích đầu tiên của Trung đoàn Không quân tiêm kích 921

Trong chiến tranh, ông đã xuất kích nhiều lần, bắn rơi ba máy bay Mỹ (một chiếc F-4, hai chiếc AD-6) Sau chiến tranh, ông tiếp tục phục vụ trong Quân chủng Phòng không - Không quân và giữ nhiều trọng trách quan trọng, như Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân tiêm kích 923, Phó

Tư lệnh Sư đoàn, Hiệu trưởng trường Không quân

910, Hiệu phó trường Trung Cao Không quân

Ngày 1 tháng 1 năm 1967, ông được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân

Sau này, ông chuyển về thành phô" Hồ Chí Minh công tác với cương vị Tổng Giám đốc Tổng công ty xe đạp, xe máy thành phô"

Ong nghỉ hưu năm 1994 vói quân hàm Đại tá tại thành phô" Hồ Chí Minh

Ông mất năm 2014

Trang 31

Trung đoàn phó Hồ Văn Quỳ sinh năm 1935 tại Bình Hải, Thăng Bình, Quảng Nam, nhập ngũ tháng 3 năm 1954.

Sau khi nhập ngũ, ông được chọn đi học lái máy bay MiG-17 thuộc đoàn bay đầu tiên tại Trung Quốc

Trong chiến tranh, ông đã xuất kích chiến đấu

120 lần, có 40 trận gặp địch, nổ súng 12 lần và bắn rơi ba máy bay Mỹ (hai chiếc F-l, một chiếc F-105).Trận đầu ông lập công, bắn rơi máy bay Mỹ là vào ngày 4 tháng 6 năm 1965

Năm 1969, ông chuyển loại sang bay MiG-19.Ông đã được bổ nhiệm chức vụ Phó Trung đoàn trưởng, rồi Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân tiêm kích 925

Sau chiến tranh, ông đảm nhận nhiều nhiệm vụ quan trọng trong Quân chủng Không quân, như Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân tiêm kích

925, Phó Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 370.Năm 1990, ông chuyển sang công tác tại Tổng cục Hàng không dân dụng Việt'Nam, là Tổng Giám đốc Cụm cảng Hàng không miền Trung

Ông về nghỉ hưu năm 2000 với quân hàm Đại tá.Ngày 10 tháng 8 năm 2015, ông được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân

Hiện ông sống tại thành phô" Đà Nang

Trang 32

Trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Nhị sinh ngày 22 tháng 12 năm 1936 tại Hoài Sơn, Hoài Nhơn, Bình Định, nhập ngũ tháng 5 năm 1952.Sau khi tập kết ra Bắc, ông được chọn gửi đi học lái MiG-21 đoàn bay đầu tiên ở Liên Xô từ năm

1961 đến năm 1965

Tốt nghiệp về nước, ông đã tham gia trực ban chiến đấu từ ngày 25 tháng 1 năm 1966 và cất cánh đánh thắng trận đầu bằng MiG-21 vào ngày 4 tháng 3 năm 1966, bắn rơi chiếc máy bay trinh sát không người lái đầu tiên khi nó bay ở độ cao 18.000 mét.Trong chiến tranh, ông xuất kích chiên đấu hơn 100 lần, bắn rơi tám máv bay Mỹ (ba chiêc F-4,

ba chiêc F-105, một chiếc F-8 và một máy bay trinh sát không người lái)

Ngày 18 tháng 6 năm 1969, ông được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân

Trong và sau chiến tranh, ông đã trải qua nhiều cương vị chỉ huy quan trọng trong Quân chủng Phòng không - Không quân, như Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân tiêm kích 927, Phó

Tư lệnh Sư đoàn Không quân 371, Tư lệnh các Sư đoàn Không quân 372, 370, Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân, Tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam,

Trang 33

Chủ tịch, Tổng giám đốc Tổng công ty Hàng không Việt Nam.

ở cương vị nào, ông đều thể hiện là người cán bộ chỉ huy, quản lí quyết đoán, có tầm nhìn chiến lược

(Chi tiết về cuộc đời ông đã được tác giả Nguyễn Công Huy viết trong cuốn "Thanh kiếm bầu trời", Nxb L ao động, 2012).

Ong nghỉ hưu năm 1998 với quân hàm Thiếu tướng và hiện sôhg tại thành phô" Hồ Chí Minh

Sĩ quan dẫn đường Lê Thành Chơn sinh tháng 3 năm 1937 tại Tân Mỹ, Chợ Mới, An Giang, nhập ngũ năm 1952

Năm 1959, ông được chọn đi học lái máy bay tại trường Không quân Việt Nam Từ năm 1960, ông học ngành dẫn đường - tiêu đồ gần (đánh dấu đường bay trên bàn tiêu đồ dẫn đường trong Sở chỉ huy) tại trưòng Hàng không Nam Uyển, Bắc Kinh, Trung Quốc và thực tập công tác dẫn đường tại Sư đoàn Không quân sô" 5 - sân bay Hàng Châu, Triết Giang, Trung Quốc

Ông là sĩ quan tiêu đồ đầu tiên và duy nhất của Không quân nhân dân Việt Nam được đào tạo

ở nước ngoài

Do hoàn thành tốt nhiệm vụ, ông được chọn sang học dẫn đường tại sở chỉ huy

Trang 34

ông tham gia dẫn trận đầu tiên vào ngày 6 tháng 11 năm 1965 cho biên đội MiG-17 của Trần Hanh, Ngô Đoàn Nhung, Phạm Ngọc Lan, Trần Minh Phương bắn rơi một chiếc CH-47.

Trong thời gian chiến tranh, ông cùng kíp trực tham gia dẫn khoảng 80 trận, tạo điều kiện cho các phi công MiG bắn rơi 60 máy bay các loại của Mỹ.Ông là một trong những sĩ quan dẫn đường giỏi, góp phần rất quan trọng trong các trận đánh thắng của Không quân nhân dân Việt Nam

Năm 1967, ông là Trưởng ban dẫn đường Sư đoàn Không quân 372

Năm 1983, ông chuyển ngành về Ban Tổ chức Thành ủy thành phô" Hồ Chí Minh

Năm 2007, ông về nghỉ hưu với quân hàm Thượng tá và hiện sống tại thành phô" Hồ Chí Minh.Ong là tác giả của nhiều cuốn sách về Không quân và không chiến, như các tập ký: "Anh hùng trên chín tầng mây", "Đọ cánh với pháo đài bay B-52",

"Hoàng tử của bầu tròi", "Người anh hùng chưa được tuyên dương", "Bầu tròi ước vọng", "Tầm cao" và những tiểu thuyết: "Khối mây hình lưỡi búa", "Đối mặt", "Huyền thoại đất phương Nam",

"Canh năm", "Xuyên mây" và một số’ sách, kịch bản phim truyện, phim tài liệu khác

Trang 35

Sĩ quan dẫn đường Tạ Quốc Hưng sinh năm

1940 tại ứng Hòa, Hà Tây (nay là Hà Nội), nhập ngũ tháng 7 năm 1963, được chọn đi học lớp chỉ huy, tham mưu - dẫn đường tại trường Hàng không cao cấp sô" 1 ỏ Nam Uyển, Bắc Kinh, Trung Quốc từ năm 1964 đến năm 1966

Sau khi tốt nghiệp, ông được điều về làm sĩ quan dẫn đường tại Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 từ năm 1966 cho đến hết chiến tranh

động, trực ban dẫn đường tại các Sở chỉ huy X-3 Quảng Bình, B -l Thọ Xuân, B-2 Vinh, B-3 Sở chỉ huy tiền phương ở Đô Lương, Nghệ An, B-8 sở chỉ huy tiền phương ở Lệ Thủy, Quảng Bình

Trong thời gian trực ban dẫn đường tại Trung đoàn Không quân tiêm kích 921, ông tham gia dẫn độc lập trên 40 trận, góp phần giúp các phi công trong các trận không chiến bắn rơi hơn 30 máy bay Mỹ.Sau chiến tranh, ông về công tác tại Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân

Năm 2001, ông về hưu với quân hàm Đại tá và hiện ông sông tại Hà Nội

Sĩ quan dẫn đường Đỗ Cát Lâm sinh năm 1943 tại Phước Quang, Tuy Phước, Bình Định, nhập ngũ năm 1961 tại trường Không quân Việt Nam

Trang 36

Năm 1963, ông được chọn đi học ngành dẫn đường Sở chỉ huy tại trường Hàng không Nam Uyển, Bắc Kinh, Trung Quốc.

Sau khi về nước, ông dẫn trận không chiến đầu tiên là ngày 29 tháng 9 năm 1966 cho phi công Nguyễn Văn Biên bắn rơi chiếc máy bay trinh sát không người lái Trong chiến tranh Việt Nam, Đô Cát Lâm tham gia dẫn khoảng 30 trận không chiến, tạo điều kiện cho các phi công bắn rơi 27 máy bay các loại của Mỹ

Kết thúc chiến tranh, ông được cử đi học Khoa dẫn đường của Học viện Chỉ huy - Tham mưu mang tên nhà du hành vũ trụ Gagarin, Liên Xô, tốt nghiệp năm 1978

Năm 1981, ông được bổ nhiệm là Phó Tham mưu trưởng - Trưởng ban dẫn đường Sư đoàn Không quân 370 rồi sau đó là Sư đoàn Không quân 372.Năm 1990, ông chuyển ngành sang Hàng không dân dụng, được bổ nhiệm giữ chức vụ Giám đôc Trung tâm Quản lí bay miền Trung

Ong nghỉ hưu năm 2004 với quân hàm Trung

tá và hiện sông tại thành phố Đà Nang

Sĩ quan dẫn đường Lê Thiết Hùng sinh tháng 12 năm 1938 tại Đại Thành, Phụng Hiệp, Hậu Giang, nhập ngũ tại tĩnh đội Sóc Trăng

Trang 37

Sau khi tập kết ra Bắc, ông được chọn đi học lái máy bay tại trường Không quân Việt Nam.

Năm 1960, ông chuyển sang học dẫn đường Sở chỉ huy ỏ Bạch Mai và "Công trường 300" Mỏ Chén, Sơn Tây Sau khi tốt nghiệp, được biên chế về Tiểu ban dẫn đường Trung đoàn Không quân tiêm kích

921 và được giao dẫn trên hiện sóng của Sở chỉ huy Trung đoàn

Trận đầu tiên ông tham gia dẫn chiến đấu là vào đêm 3 tháng 2 năm 1966, tạo điều kiện cho phi công Lâm Văn Lích bắn rơi hai chiếc AD-6 trên vùng trời Tân Lạc - Suối Rút

Trong chiến tranh, ông tham gia dẫn khoảng

110 trận không chiến, tạo điều kiện cho các phi công MiG bắn rơi 91 máy bay các loại của Mỹ Ông liên tục trực tại đài ra-đa dẫn đường trên hiện sóng, cho dù nơi ấy có nhiều nguy cơ bị tên lửa Shrike bắn trúng

Sau chiến tranh, ông là Trưởng ban dẫn đường

Sư đoàn Không quân 372

Năm 1977, ông là Tham mưu trưởng Trung đoàn Không quân 917, sau đó là Trung đoàn 918.Năm 1988, ông chuyển sang công tác tại Chi cục Di dân và phát triển vùng kinh tế mới thuộc sở Lao động - Thương binh và Xã hội thành phô"

Hồ Chí Minh

Trang 38

Năm 1999, ông về hưu với quân hàm Trung tá

và hiện sông tại thành phố Hồ Chí Minh

Sĩ quan dẫn đường Vũ Đức Bình sinh năm

1936 tại Thái Bình, nhập ngũ tháng 4 năm 1955.Sau khi nhập ngũ, Vũ Đức Bình được cử đi học bay tại Trường bay Cát Bi

Năm 1965, Vũ Đức Bình được tuyển chọn đi học ngành dẫn đường sau đó thuộc biên chế của Ban dẫn đường Binh chủng Không quân

Ông từng dẫn đường cho lực lượng máy bay An-2 đánh tàu biệt kích của Mỹ

Sĩ quan dẫn đường Vũ Đức Bình được điều về công tác tại Trung đoàn Không quân tiêm kích 927.Ngày 10 tháng 5 năm 1972, Vh Đức Bình được phân công dẫn lực lượng MiG-21 của Trung đoàn Không quân tiêm kích 927 trực chiến tại sân bay

Đa Phúc

Sau chiến tranh, sĩ quan dẫn đường Vũ Đức Bình từng đảm nhận chức vụ Tham mưu phó Trung đoàn, rồi Trung đoàn phó Trung đoàn Không quân 935

Năm 1984, sĩ quan dẫn đường Vũ Đức Bình về nghỉ hưu với quân hàm Trung tá và hiện sống tại Biên Hòa, Đồng Nai

Trang 39

Sĩ quan dẫn đường Lưu Văn Cộng sinh ngày 1 tháng 9 năm 1941 tại Tự Khoát, Vũ Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội, nhập ngũ tháng 4 năm 1959.

Sau khi nhập ngũ, Lưu Văn Cộng được biên chế vào lực lượng pháo cao xạ, thuộc Trung đoàn

250, Sư đoàn Phòng không 367 trong vòng gần một năm rồi được đi học lớp hạ sĩ quan Học xưng, Lưu Văn Cộng được điều về Trung đoàn Phòng không 240 với nhiệm vụ bảo vệ nhà máy dầu Thượng Lý và nhà máy xi măng Hải Phòng

Năm 1960 và 1961 Lưu Văn Cộng được cử đi

học ở Trường văn hóa ở o Cách và Trường văn hóa

quân đội, tới năm 1964 thì được cử đi học ngành dẫn đường tại Trung Quốc

Tốt nghiệp về nước năm 1966, sĩ quan dẫn đường Lưu Văn Cộng được điều về Bộ Tư lệnh Binh chủng Không quân

Năm 1969, Lưu Văn Cộng từng trực ở sỏ chỉ huy X-3, Quảng Bình để dẫn đánh trong chiến trường khu Bôn

Năm 1971, sĩ quan dẫn đường Lưu Văn Cộng được điều về Trung đoàn Không quân tiêm kích 925.Ngày 10 tháng 5 năm 1972, sĩ quan dẫn đường Lưu Văn Cộng cùng với sĩ quan dẫn đường Triệu Sĩ Việt đã dẫn các biên đội MiG-19 lên không chiến tại đỉnh sân bay Yên Bái

Trang 40

òau ctiien trann, L,ưu Van Uọng tưng đam nhận chức Phó phòng dẫn đường của Quân chủng Phòng không - Không quân.

Ông về nghỉ hưu năm 1989 với quân hàm Trung tá và hiện sông tại Hà Nội

Phi công tiêm kích MiG-21 Đặng Ngọc Ngự sinh ngày 1 tháng 11 năm 1939 tại Xuân Thủy, Xuân Trường, Nam Định, nhập ngũ ngày 23 tháng 3 năm 1959

Ồng được chọn gửi đi học lái máy bay thuộc đoàn bay MiG-21 khóa 1 tại Liên Xô từ năm 1961 đến năm 1966

Sau khi về nưốc, ông trở thành phi công chiến đấu MiG-21 thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 921

Ngày đầu tiên ông tham gia trực ban chiên đấu

1972, khi đã là Đại đội trưởng Đại đội 7 của Trung đoàn Không quân tiêm kích 921, ông dẫn đầu biên đội hai chiêc MiG-21 chiến đấu với tốp đông máy bay F-4 và đã anh dũng hy sinh trên vùng trời Hòa Bình

Ngày đăng: 25/07/2022, 10:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Những trận không chiến trên hầu trời Việt N am (1965-1975) nhìn từ hai phía, Nxb Quân đội nhân dân, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những trận không chiến trên hầu trời Việt N am (1965-1975) nhìn từ hai phía
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
2. Các đơn vị và cá nhân Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dãn thuộc Quân chủng Phòng không - K hông quản, Nxb Quân đội nhân dân, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các đơn vị và cá nhân Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dãn thuộc Quân chủng Phòng không - K hông quản
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
3. N hớ ơn các liệt sĩ Không quân nhăn dân Việt N am , Nxb Quân đội nhân dân, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhớ ơn các liệt sĩ Không quân nhân dân Việt Nam
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2010
4. Kỷ yếu các cựu học viên bay năm 1965, in năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu các cựu học viên bay năm 1965
Năm: 2010
5. 60 năm K hông quân nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 60 năm Không quân nhân dân Việt Nam
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2015
6. Lịch sử S ư đoàn Không quân 371, Nxb Quân đội nhân dân, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử S ư đoàn Không quân 371
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
7. L ịch sử Trung đoàn Không quăn tiêm kích 921, Nxb Quân đội nhân dân, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Trung đoàn Không quân tiêm kích 921
Nhà XB: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
Năm: 2014
8. Lịch sử Trung đoàn Không quân tiêm kích 927, Nxb Quân đội nhân dân, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Trung đoàn Không quân tiêm kích 927
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
9. L ịc h sử n g àn h d ẫ n đư ờng K h ôn g qu ân , Nxb Quân đội Nhân dân, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử ngành đường Không quân
Nhà XB: Nxb Quân đội Nhân dân
Năm: 2007
10. S ự kiện và nhăn chứng, s ố 174, tháng 6-2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: S ự kiện và nhăn chứng, s ố 174

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w