TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINHKHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN MÔN: TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN TÊN ĐỀ TÀI: Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN MÔN: TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
TÊN ĐỀ TÀI: Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự vận dụng quy luật này trong
công cuộc đổi mới ở Việt Nam
Họ và tên sinh viên: ****
Mã số sinh viên: ****
Lớp, hệ đào tạo: ****
CHẤM ĐIỂM
Tp Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 1 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
A/ Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 3
1 Khái niệm và các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất 3
1.1 Người lao động 3
1.2 Tư liệu sản xuất 3
2 Khái niệm và các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất 4
2.1 Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất 4
2.2 Quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất 5
2.3 Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động 5
B/ Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất 6
1 Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất 6
2 Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất 7
C/ Sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam 8
1 Giai đoạn trước năm 1986 8
2 Giai đoạn từ năm 1986 đến nay 9
3 Bài học rút ra 10
KẾT LUẬN 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Triết học là bộ môn nghiên cứu về những vấn đề chung và cơ bản của con người, thếgiới quan và vị trí của con người trong thế giới quan, những vấn đề có kết nối với
chân sự tồn tại, lý, kiến thức, giá trị, quy luật, ý thức, và ngôn ngữ Triết học được phân biệt với những môn khoa học khác bằng cách thức mà nó giải quyết những vấn
đề trên, đó là ở tính phê phán, phương pháp tiếp cận có hệ thống chung nhất và sự phụ thuộc của nó vào tính duy lý trong việc lập luận
Triết học đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống, là hạt nhân của thế giới quan Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý Và một trong vô vàn những quy luật của triết học, có một quy luật hiện vẫn đang được rất nhiều các quốc gia trên thế giới áp dụng để xây dựng đất nước đó là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Mác phát hiện ra quy luật đó và nó là quy luật khách quan, cơ bản, phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại và cùng với các quy luật khác làm cho lịch sử loài người vận động từ thấp đến cao, từ hình thái kinh tế - xã hội này lên hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn
Quy luật này còn là cơ sở để giải thích về nguồn gốc sâu xa của toàn bộ các hiện tượng xã hội, sự biến đổi trong đời sống chính trị Vì vậy việc vận dụng quy luật này trong việc xây dựng, phát triển đất nước là điều tất yếu, tuy nhiên không phải quốc gia nào cũng vận dụng nó một cách hiệu quả, muốn vận dụng quy luật này cần phải hiểu
và nhận thức rõ bản chất của nó Chính vì vậy, bài viết dưới đây sẽ làm rõ về bản chất quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất và sự vận dụng quy luật này trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam
Trang 4NỘI DUNG
A/ Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
1 Khái niệm và các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất:
Lực lượng sản xuất là phương thức kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, tạo ra sức sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội
Về cấu trúc, lực lượng sản xuất gồm hai thành tố là tư liệu sản xuất và người lao động Lực lượng sản xuất chính là phương thức kết hợp giữa “lao động sống” với
“lao động vật hóa” tạo ra sức sản xuất, là toàn bộ những năng lực thực tiễn dùng trong sản xuất của xã hội ở các thời kỳ nhất định Như vậy, lực lượng sản xuất là một
hệ thống gồm các yếu tố (người lao động và tư liệu sản xuất) cùng mối quan hệ (phương thức kết hợp), tạo ra thuộc tính đặc biệt (sức sản xuất) để cải biến giới tự nhiên, sáng tạo ra của cải vật chất theo mục đích của con người Đây là sự thể hiện năng lực thực tiễn cơ bản nhất - năng lực hoạt động sản xuất vật chất của con người Lực lượng sản xuất là thước đo quan trọng nhất của sự tiến bộ xã hội
1.1 Người lao động
Người lao động là con người có tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động và năng lực sáng tạo nhất định trong quá trình sản xuất của xã hội Người lao động là chủ thể sáng tạo ra của cải vật chất, đồng thời cũng là chủ thể tiêu dùng mọi của cải vật chất
xã hội Đây là nguồn lực cơ bản, vô tận và đặc biệt của sản xuất
1.2 Tư liệu sản xuất
Tư liệu sản xuất là điều kiện vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất, được cấu thành từ tư liệu lao động và đối tượng lao động
• Đối tượng lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất mà con người dùng tư liệu lao động tác động lên, nhằm biến đổi chúng cho sao cho phù hợp với mục đích
sử dụng của con người
Ví dụ: sắt, thép, xi măng, sỏi, bông, len, sợi vải… Đó là những vật liệu, nguyên liệu
“thô” để làm đầu vào của sản xuất
• Tư liệu lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất mà con người dựa vào đó
để tác động lên đối tượng lao động nhằm biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩm đáp ứng yêu cầu sản xuất của con người Tư liệu lao động gồm công cụ lao động và phương tiện lao động
Trang 5+ Phương tiện lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất, cùng với công cụ lao động mà con người sử dụng để tác động lên đối tượng lao động trong quá trình sản xuất vật chất
VD: đường xá, bến cảng, phương tiện giao thông,…
+ Công cụ lao động là những phương tiện vật chất mà con người trực tiếp sử dụng
để tác động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi chúng nhằm tạo ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu con người và xã hội
VD: những công cụ lao động như cày, cuốc, máy kéo, dệt, máy, xe tải…
Công cụ lao động là yếu tố động nhất, cách mạng nhất trong lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm
Tư liệu lao động dù có tinh xảo và hiện đại đến đâu nhưng khi tách khỏi con người thì nó cũng không phát huy tác dụng của chính bản thân nó
Yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng lao động là người lao động Bởi vì họ là yếu tố chủ thể trong lực lượng sản xuất, họ là yếu tố mà gắn kết các yếu tố khác trong lực lượng sản xuất lại với nhau Và họ là người sử dụng công cụ lao động tác động vào của cải vật chất làm giàu cho xã hội Chính vì vậy mà Lê Nin đã viết: “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động” Người lao động với những kinh nghiệm, thói quen lao động, sử dụng tư liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất Tư liệu sản xuất với tư cách là khách thể của lao động sản xuất, và
nó chỉ phát huy tác dụng khi nó được kết hợp với lao động sống của con người
2 Khái niệm và các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất:
Quan hệ sản xuất là tổng hợp các quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất Quan hệ sản xuất vật chất bao gồm quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức quản lý và trao đổi hoạt động với nhau, quan hệ về phân phối sản phẩm lao động
2.1 Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất
Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc chiếm hữu, sử dụng các tư liệu sản xuất xã hội Đây là quan hệ quy định địa vị kinh tế
- xã hội của các tập đoàn người trong sản xuất, từ đó quy định quan hệ quản lý và phân phối Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, cơ bản, trung tâm của quan hệ sản xuất, luôn có vai trò quyết định các quan hệ khác Bởi vì, lực lượng xã hội
Trang 6nào nắm phương tiện vật chất chủ yếu của quá trình sản xuất thì sẽ quyết định việc quản lý quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm
Ví dụ:
• Quan hệ giữa địa chủ sở hữu đất với tá điền không sở hữu đất là quan hệ sở hữu.
• Quan hệ giữa tư sản có nhà máy với công nhân không có nhà máy là quan hệ sở
hữu
2.2 Quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất
Quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc
tổ chức sản xuất và phân công lao động Quan hệ này có vai trò quyết định trực tiếp đến quy mô, tốc độ, hiệu quả của nền sản xuất; có khả năng đẩy nhanh hoặc kìm hãm
sự phát triển của nền sản xuất xã hội Ngày nay, khoa học tổ chức quản lý sản xuất hiện đại có tầm quan trọng đặc biệt trong nâng cao hiệu quả quá trình sản xuất
Ví dụ: Trong một tập đoàn, quan hệ giữa Chủ tịch tập đoàn – Giám đốc hay quan hệ
giữa Giám đốc – các Trưởng phòng là những quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất Nếu những quan hệ này được tổ chức khoa học thì doanh thu của tập đoàn sẽ phát triển Ngược lại, nếu những quan hệ này có mâu thuẫn thì hoạt động kinh doanh của tập đoàn sẽ gặp rắc rối
2.3 Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động
Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc phân phối sản phẩm lao động xã hội, nói lên cách thức và quy mô của cải vật chất
mà các tập đoàn người được hưởng Quan hệ này có vai trò đặc biệt quan trọng, kích thích trực tiếp lợi ích con người; là "chất xúc tác" kinh tế thúc đẩy tốc độ, nhịp điệu sản xuất, làm năng động hoá toàn bộ đời sống kinh tế xã hội Hoặc ngược lại, nó có thể làm trì trệ, kìm hãm quá trình sản xuất
Ví dụ: Quan hệ giữa ông chủ – người trả lương và công nhân – người nhận lương là
quan hệ phân phối sản phẩm lao động Nếu mức lương hợp lý sẽ kích thích người lao động tăng năng suất, góp phần tăng hiệu quả kinh doanh Ngược lại, nếu mức lương quá thấp, công nhân có xu hướng đình công, làm đình trệ sản xuất
Những quan hệ sản xuất này tồn tại trong mối quan hệ thống nhất và chi phối, tác động lẫn nhau trên cơ sở quyết định của quan hệ sở hữu vể tư liệu sản xuất Trong kết
Trang 7cấu quan hệ sản xuất thì quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất là quan trọng nhất bởi
nó quyết định và chi phối tới tất cả các quan hệ khác Mác nói “Trong mối quan hệ này thì quan hệ sản xuất là quan trọng nhất nhưng quan hệ sở hữu này không phải đơn giản
mà có được”
Tóm lại quan hệ sản xuất chính là biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất Chính nhờ mối quan hệ giữa con người với con người
mà quá trình sản xuất của xã hội mới diễn ra bình thường
B/ Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của một phương thức sản xuất
có tác động biện chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, còn quan hệ sản xuất tác động trở lại to lớn đối với lực lượng sản xuất Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, ngược lại, nếu không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Đây là quy luật cơ bản nhất của sự vận động và phát triển xã hội
1 Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất
Trong mối quan hệ giữ lực lượng sản xuất và lao động sản xuất thì lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định đối với quan hệ sản xuất Nói cách khác, quan hệ sản xuất phụ thuộc tất yếu vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Khi lực lượng sản xuất như thế nào thì quan hệ sản xuất như thế đó Và khi lực lượng sản xuất thay đổi thì quan hệ sản xuất tất yếu đòi hỏi cũng phải thay đổi theo Thay đổi về sở hữu,
về tổ chức quản lý, về phân phối để cho phù hợp với quan hệ sản xuất Tuy nhiên sự thay đổi này có thể diễn ra nhanh, chậm, mức độ khác nhau, phạm vi cũng khác nhau nhưng tất yếu sẽ dẫn đến những thay đổi nhất định, bởi thực chất quan hệ sản xuất chỉ là hình thức kinh tế của quá trình sản xuất còn lực lượng sản xuất mới là nội dung vật chất của quá trình sản xuất
Sự phát triển của lực lượng sản xuất bao giờ cũng bắt nguồn từ sự đòi hỏi khách quan của xã hội là không ngừng phát triển sản xuất, nâng cao năng suất lao động, muốn nâng cao năng suất lao động thì con người phải không ngừng cách mạng, cải tiến, nâng cao công cụ lao động Công cụ lao động càng hiện đại thì phạm vi mà con người tác động đến thế giới càng lớn, con người càng được giải phóng về sức lao động đồng thời
Trang 8trình độ của người lao động không ngừng được nâng lên Và ngược lại, khi mà công cụ lao động càng hiện đại, càng được nâng cao thì trình độ người lao động cũng phải được nâng cao thì mới có thể sử dụng được công cụ lao động và khi đó công cụ lao động mới phát huy được tính hiệu quả của nó Khi mà công cụ lao động được cải tiến, người lao động được nâng cao trình độ thì sự phân công lao động sẽ diễn ra sâu sắc hơn, sự chuyên môn hóa ngày càng rõ nét hơn và thông qua đó lực lượng sản xuất ngày càng phát triển
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là đòi hỏi khách quan của nền sản xuất Lực lượng sản xuất vận động, phát triển không ngừng sẽ mâu thuẫn với tính “đứng im” tương đối của quan hệ sản xuất Quan hệ sản xuất từ chỗ là “hình thức phù hợp”, “tạo địa bàn” phát triển của lực lượng sản xuất trở thành “xiềng xích” kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Đòi hỏi tất yếu của nền sản xuất xã hội là phải xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất đã phát triển
Lực lượng sản xuất quyết định sự ra đời của một kiểu quan hệ sản xuất mới trong lịch sử, quyết định đến nội dung và tính chất của quan hệ sản xuất Con người bằng năng lực nhận thức và thực tiễn, phát hiện và giải quyết mâu thuẫn, thiết lập sự phù hợp mới làm cho quá trình sản xuất phát triển đạt tới một nấc thang cao hơn
2 Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất
Tuy quan hệ sản xuất bị quyết định bởi lực lượng sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối nên có tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất
Sự tác động của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất diễn ra theo hai chiều hướng, đó là thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất thì nền sản xuất phát triển đúng hướng, quy mô sản xuất được mở rộng; những thành tựu khoa học công nghệ được
áp dụng nhanh chóng; người lao động nhiệt tình hăng hái sản xuất, lợi ích của người lao động được đảm bảo và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Nếu quan hệ sản xuất không phù hợp thì sẽ kìm hãm, thậm chí phá hoại lực lượng sản xuất Tuy nhiên,
sự kìm hãm đó chỉ diễn ra trong những giới hạn, với những điều kiện nhất định Trạng thái vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất diễn ra là từ phù hợp đến không phù hợp, rồi đến sự phù hợp mới ở trình
độ cao hơn
Trang 9C/ Sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam
1 Giai đoạn trước năm 1986
Vào thời kì trước năm 1986, tức trước thời kì đổi mới Ngay sau khi đánh thắng đế quốc Mĩ xâm lược, thống nhất đất nước, cả nước quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Vào thời điểm trước năm 1986, đảng và nhà nước ta muốn đạt được chủ nghĩa xã hội một cách nhanh chóng nên nhà nước ta lúc bấy giờ đã đưa quan hệ sản xuất lên quá cao
Trong quan hệ sở hữu, chúng ta chỉ chủ trưởng phát triển hình thức sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể, chủ trương phát triển nền kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác xã, không quan tâm tới sở hưu tư nhân và không phát triển nền kinh tế tư nhân bởi lúc đó chúng ta nghĩ rằng việc phát triển nền kinh tế tư nhân sẽ khiến cho Việt Nam đi vào con đường tư bản chủ nghĩa, và lúc bấy giờ ta luôn nghĩ rằng tư bản chủ nghĩa là xấu và ta vứt bỏ hết các yếu tố tư bản chủ nghĩa Với suy nghĩ đó, vì muốn có ngay chủ nghĩa xã hội, ta đã đưa quan hệ sản xuất lên quá cao Trong đó, về mặt tổ chức quản lý, chúng ta thực hiện cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, quan liêu, bao cấp Về mặt phân phối, chúng ta thực hiện nguyên tắc phân phối bình quân, hàng hoá được phân phối theo chế độ tem phiếu do nhà nước nắm toàn quyền điều hành Lúc đó sản xuất và kinh doanh của chúng ta không tuân theo quy luật của thị trường mà bị can thiệp trực tiếp bởi các mệnh lệnh hành chính của cơ quan nhà nước
Chúng ta đã đưa quan hệ sản xuất lên quá cao trong khi trình độ phát triển lực lượng sản xuất của nước ta lúc bấy giờ còn thấp kém: nông nghiệp thì lạc hậu; khoa học kĩ thuật thì còn yếu kém; người lao động thì có trình độ và kĩ năng hạn chế, tính tự giác, trách nhiệm trong lao động rất thấp Chính vì điều đó đã làm cho quan hệ sản xuất không phù hợp với lực lượng sản xuất khiến cho nước ta bị kìm hãm sự phát triển kinh tế, nền kinh tế rơi vào suy thoái, khủng hoảng trầm trọng, nguy cơ đói nghèo tăng cao Người lao động lúc bấy giờ bị tách khỏi tư liệu sản xuất, không làm chủ được quá trình sản xuất, phải phụ thuộc vào lãnh đạo hợp tác xã, và sự phân chia thành quả lao động không phù hợp với công sức lao động bỏ ra nên người lao động không có động lực để thúc đẩy năng suất làm việc, người lao động bị mất tính sáng tạo, chủ động trong công việc Tình
Trang 10trạng như thế cứ kéo dài khiến cho nền kinh tế nước ta ban đầu vốn nghèo nàn không những không tăng trưởng mà còn ngày càng trì trệ
Đứng trước bối cảnh đó, Đảng và nhà nước ta nhận thức lại là cần phải đổi mới toàn diện nền kinh tế.
2 Giai đoạn từ năm 1986 đến nay
Giai đoạn từ năm 1986 trở về sau, Đảng và nhà nước ta đã thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, từng bước đổi mới về chính trị
Cụ thể ta đã đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất bằng cách thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa để xây dựng cơ sở vật chất, kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội cùng với đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Để xây dựng cơ sở vật chất, kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội ta đã tiến hành cải tạo quan
hệ sản xuất Về quan hệ sở hữu, ta thực hiện nhiều hình thức sở hữu đó là sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu hỗn hợp Về kinh tế, ta chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hiện nay thường được gọi là “phát triển kinh
tế thị trường định hướng theo xã hội chủ nghĩa” Bản chất của nền kinh tế thị trường là nền kinh tế nhiều thành phần bao gồm nhà nước, tư nhân, tập thể, vốn đầu tư nước ngoài
Về mặt tổ chức quản lý, ta đã xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa, quan liêu, bao cấp và chuyển sang cơ chế thị trường, sản xuất kinh doanh tuân theo tín hiệu, quy luật của thị trường và
do thị trường điều tiết Về phân phối, ta đã xóa bỏ phân phối bình quân và thực hiện nhiều hình thức phân phối, trong đó phân phối theo lao động là cơ bản
Chính vì ta đã đẩy mạnh lực lượng sản xuất và tiến hành cải tạo quan hệ sản xuất dẫn tới quan hệ sản xuất dần dần phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Ngoài việc đẩy mạnh lực lượng sản xuất, nhà nước còn cho phép thực hiện chính sách hướng ngoại, mở cửa giao lưu buôn bán với các nước khác Kết quả là nền kinh tế dần hồi phục
và thoát khỏi tình trạng trì trệ, mức sống người dân được nâng cao, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, thu nhập người dân ngày càng tăng lên, nước ta dần thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển, từ một nước có thu nhập thấp trở thành nước có thu nhập trung bình, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trung bình trong 35 năm sau khi thực hiện chính sách đổi mới là trên 7% Và hiện nay nền kinh tế Việt Nam đang nằm trong top
40 nền kinh tế lớn nhất thế giới Một thành tựu to lớn và đáng tự hào mà trước đó ta chưa từng nghĩ sẽ đạt được