CÂU HỎI TỰ LUẬN ÔN TẬP LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 1 Phân tích văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, định hướng cho sự phát triển bền vững của xã hội, thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, điều chỉnh suy nghĩ và hành vi của con người Trong suốt chặng đường lãnh đạo nhân dân Đảng ta luôn nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của văn hóa và thường xuyên quan tâm lãnh đạo, phát huy sức mạnh văn hóa đối với sự phát triển bền vững của đất nước.
Trang 1CÂU HỎI TỰ LUẬN ÔN TẬP LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
1 Phân tích văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, định hướng cho sự phát triển bền vững của xã hội, thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, điều chỉnh suy nghĩ và hành vi của con người Trong suốt chặng đường lãnh đạo nhân dân Đảng ta luôn nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của văn hóa và thường xuyên quan tâm lãnh đạo, phát huy sức mạnh văn hóa đối với sự phát triển bền vững của đất nước
Đảng ta xác định nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ, trong đó, cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH
theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên Nền VH ấy không chỉ tiên tiến về mặt ND
mà còn về HT và phương tiện truyền tải Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị truyền thống tốt
đẹp, bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, được vun đắp qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là, lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong cuộc sống; dũng cảm, kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm … Nền VH VN luôn chú trọng việc kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh
vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người; Bảo đảm dân chủ, tự do cho mọi sự sáng tạo và hoạt động văn hóa, vun đắp các tài năng, biểu dương những giá trị chân chính, bồi dưỡng cái chân, thiện, mỹ theo quan điểm tiến bộ; đấu tranh phê phán những cái phản văn hóa, lỗi thời, trái với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, trái với phương hướng đi lên CNXH;
(Tiếp tục đẩy mạnh việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức, lối sống có văn hóa; xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, tang, lễ hội Sớm có chiến lược quốc gia về xây dựng gia đình Việt Nam, góp phần giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa, con người Việt Nam, nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ Xã hội hóa các hoạt động văn hóa, chú trọng nâng cao đời
Trang 2sống văn hóa ở nông thôn, vùng khó khăn, thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, các nhóm xã hội, giữa đô thị và nông thôn…)
Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm những phương thức thể hiện và phong cách nghệ thuật mới, đáp ứng nhu cầu tinh thần lành mạnh, đa dạng và bồi dưỡng lý tưởng, thị hiếu thẩm mỹ cho công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ Bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt, khắc phục yếu kém, nâng cao tính khoa học, sức thuyết phục của hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, tạo điều kiện để đội ngũ những người hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật sáng tạo nhiều tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật… Người dân VN đến hôm nay vẫn đang bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá, truyền thống tốt đẹp trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc, góp phần tích cực gìn giữ bản sắc văn hóa,, dần loại bỏ những sự lỗi thời, lạc hậu
2 Kinh nghiệm của Đảng trong đường lối kháng chiến
Một là, đề ra đường lối đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn lịch sử của cuộc KC ngay từ những ngày đầu
(Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập đã chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước, chứng tỏ GCVS Việt Nam đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo CM Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đi theo con đường mới - con đường CMVS Đảng chủ trương làm tư sản
dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để tiến tới xã hội cộng sản chủ nghĩa.) (Đường lối
KC được thể hiện rõ trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng: bắt đầu từ bản Chỉ thị về KC kiến quốc (ngày 25-11-1945), Công việc khẩn cấp bây giờ (tháng 10-1946), Chỉ thị Toàn dân
KC ngày 12-12-1946 và Lời kêu gọi toàn quốc KC của Chủ tịch Hồ Chí Minh (ngày 19-12-1946), những quan điểm cơ bản của đường lối KC đã hình thành )
Đường lối KC chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ được đề ra ngay từ đầu cuộc KC là không
ngừng được bổ sung hoàn chỉnh trong quá trình tiến hành kháng chiến Về cơ bản, đường lối chung của cuộc KC tập trung một số nội dung:
Về mục đích kháng chiến: Cuộc KC chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ là sự kế thừa và
phát triển thành quả Cách mạng Tháng Tám nhằm đánh đổ thực dân Pháp xâm lược, giành
Trang 3thống nhất, độc lập hoàn toàn.
Tính chất của cuộc kháng chiến: khẳng định đây là cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân,
chiến tranh chính nghĩa, nó có tính chất toàn dân, toàn diện, lâu dài Do vậy, đó là cuộc chiến tranh tiến bộ vì tự do, độc lập, dân chủ và hòa hình có tính chất dân tộc giải phóng và dân chủ mới Đảng chủ trương liên hiệp với dân tộc Pháp, chống phản động thực dân Pháp, đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do hoà bình.
Chương trình và nhiệm vụ kháng chiến: Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở xác định rõ đối tượng của CMVN là CNĐQ và thế lực PK Đặc biệt, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
II của Đảng (tháng 2-1951) đã chỉ rõ kẻ thù cụ thể trước mắt của CMVN là đế quốc Pháp, kẻ
thù nguy hiểm là đế quốc Mỹ, kẻ thù phụ là các thế lực phong kiến Lúc này là phong kiến phản
động, từ đó đề ra nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam:
● Đánh đuổi bọn ĐQ xâm lược làm cho VN hoàn toàn thống nhất và độc lập.
Xoá bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân.
Tạo cơ sở cho chủ nghĩa xã hội.
Động lực của cách mạng Việt Nam là nhân dân, chủ yếu là công, nông.
Lãnh đạo cách mạng Việt Nam là giai cấp công nhân Nông dân là bạn đồng minh "lớn mạnh và chắc chắn" của giai cấp công nhân.
Phương châm KC: Đảng chủ trương tiến hành chiến tranh nhân dân, thực hiện "KC toàn dân,
toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính".
Trong đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, điều cốt lõi nhất và cơ bản nhất là chiến lược toàn dân kháng chiến Đảng tổ chức cả nước thành một mặt trận, tạo nên thế trận cả nước
đánh giặc, phát huy sức mạnh của toàn dân và khối đoàn kết toàn dân tộc tham gia KC với những biện pháp đa dạng phong phú, phù hợp như tuyên truyền giáo dục, động viên chính trị sâu rộng từ đó xác định trách nhiệm đứng lên cứu nước nhà Chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang với ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích Từ chiến tranh
du kích phát triển lên chiến tranh chính quy, kết hợp du kích chiến với vận động chiến.
Để phát huy sức mạnh tổng hợp của cuộc kháng chiến, Đảng chủ trương KC toàn diện, tức là
Trang 4tiến hành tiến công địch trên tất cả các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, ngoại giao tạo thành sức mạnh tổng hợp.
+ Về chính trị, phải đoàn kết toàn dân chống Pháp xâm lược, làm cho mặt trận dân tộc thống
nhất ngày càng vững chắc và rộng rãi Phải củng cố chế độ cộng hoà dân chủ, xây dựng bộ máy
KC vững mạnh, thống nhất quân, dân, chính trong toàn quốc, phát triển các đoàn thể cứu quốc, củng cố bộ máy lãnh đạo KC toàn dân Phải cô lập kẻ thù, kéo thêm nhiều bạn, làm cho nhân dân Pháp và nhân dân các thuộc địa Pháp tích cực ủng hộ ta, chống lại thực dân phản động Pháp Coi trọng xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền nhà nước và Mặt trận dân tộc thống nhất vững mạnh Thống nhất Việt Minh, Liên Việt thành mặt trận Liên Việt (1951).
+ Về quân sự, triệt để dùng " du kích vận động chiến" , tiến công địch ở khắp nơi, vừa đánh địch
vừa xây dựng lực lượng; tản cư nhân dân ra xa vùng chiến sự Xây dựng căn cứ địa KC và hậu phương vững mạnh Chủ động làm thất bại các kế hoạch chiến tranh lớn của dịch, phối hợp chặt chẽ các chiến trường với sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất.
+ Về kinh tế, xây dựng nền kinh tế KC theo nguyên tắc vừa KC vừa kiến quốc, toàn dân tăng gia
sản xuất, tự túc tự cấp về mọi mặt; ra sức phá kinh tế địch không cho chúng thực hiện mưu đồ lấy chiến tranh nuôi chiến tranh Kinh tế KC về hình thức là kinh tế chiến tranh, về nội dung là dân chủ mới, chú trọng phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp Phát triển các thành phần kinh tế, từng bước thực hiện chính sách ruộng đất đối với nông dân (giảm tô và cải cách ruộng đất) Phát triển kinh tế quốc doanh, gây mầm cho chủ nghĩa xã hội.
+ Về văn hoá, thực hiện hai nhiệm vụ: xoá bỏ nền văn hoá nô dịch ngu dân, xâm lược của thực
dân Pháp và xây dựng nền văn hoá dân chủ mới, dựa trên ba nguyên tắc: dân tộc hóa, khoa học hoá, đại chúng hóa Phát triển giáo dục, đào tạo các bậc phổ thông trung học chuyên nghiệp và đại học Tiến hành cải cách giáo dục Phát triển văn học, nghệ thuật, coi văn nghệ là một mặt trận và văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận này
+ Về đấu tranh ngoại giao, triệt để cô lập kẻ thù, tranh thủ thêm nhiều bầu bạn, làm cho nhân
dân thế giới kể cả nhân dân Pháp hiểu, tán thành và ủng hộ cuộc KC chính nghĩa của nhân dân Việt Nam Tranh thủ sự ủng hộ giúp đỡ về mọi mặt trận các nước xã hội chủ nghĩa nhất là Liên
Xô, Trung Quốc Năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ Việt Nam là bạn của các nước dân chủ trên thế giới, không gây thù oán với một ai.
Trang 5KC lâu dài: Xuất phát từ sự so sánh lực lượng, ban đầu địch mạnh, ta yếu nên Đảng chủ trương
đánh lâu dài Vừa đánh vừa xây dựng phát triển lực lượng, đồng thời tích cực tiêu hao, tiêu diệt địch để so sánh lực lượng sẽ dần có lợi cho và ta sẽ chuyển từ yếu thành mạnh, tiến tới đánh thắng thù Song, Đảng khẳng định đánh lâu dài nhưng phải tạo thế chủ động phát triển thế và lực, tạo thời cơ giành thắng lợi quyết định.
Dựa vào sức mình là chính: là dựa vào sức lực của nhân dân, vào đường lối đúng đắn của
Đảng, vào các điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hòa của đất nước, đồng thời ra sức tranh thủ sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ quốc tế để chiến thắng kẻ thù.
Đường lối KC của Đảng là sự kế thừa và nâng lên tầm cao mới tư tưởng quân sự truyền thống của dân tộc, là sự vận dụng lý luận chiến tranh cách mạng của chủ nghĩa Mác Lênin và kinh nghiệm nước ngoài vào điều kiện Việt Nam Với đường lối KC đúng đắn của Đảng, buộc kháng
cn chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ ngày càng phát triển và giành thắng lợi vẻ vang
Sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường, Nhà nước dân chủ nhân dân ngày càng vững mạnh, mặt trận Việt Minh, Liên Việt và các đoàn thể cách mạng đã tập hợp rộng rãi khối đại đoàn kết dân tộc Kinh tế phát triển nhất là nông nghiệp, xây dựng, văn hóa, giáo dục có nhiều thành công Ngoại giao từng bước phá thế bị bao vây, tranh thủ được sự ủng hộ về mọi mặt của đồng chí, bè bạn trên thế giới Đặc biệt, trên mặt trận quân sự, quân đội và nhân dân Việt Nam đã lần lượt đánh bại các kế hoạch chiến tranh lớn của thực dân Pháp: đánh bại kế hoạch chiến tranh chớp nhoáng của địch với chiến thắng Việt Bắc thu đông (1947); làm thất bại kế hoạch Rơve với chiến thắng Biên giới (1950); đánh bại kế hoạch Đ.Tátxinhi với chiến thắng Hòa Bình (1951), Tây Bắc(1952) và làm phá sản kế hoạch Nava với chiến thắng vĩ đại ở Điện Biên Phủ (ngày 7-5-1954), buộc thực dân Pháp ký Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh, rút quân Pháp về nước Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân vi mục tiêu giành độc lập, thắng lợi hoàn toàn.
3 CNH-HĐH là sự nghiệp của toàn dân của mọi thành phần kinh tế
● Quá trình CNH-HĐH là do con người tổ chức, thực hiện do đó phải có sự hiện diện của con người Với bản chất hoạt động có mục đích và sáng tạo,con người bằng trí tuệ đã tạo
ra các công cụ sản xuất ngày càng hiện đại Con người là chủ thể của mọi hành động,vừa
là động lực vừa là mục tiêu của quá trình CNH-HĐH, Con người sáng tạo ra của cải vật
Trang 6chất,tinh thần cho xã hội,có khả năng vận dụng thành tựu KHKT vào hoạt động kinh tế thúc đẩy CNH-HĐH phát triển nhanh chóng
● Xuất phát từ thực trạng CNH-HĐH đất nước đòi hỏi phải có nguồn nhân lực Đối với VN,nguồn lực tài chính vẫn còn hạn chế nên nguồn lực con người đóng vai trò quyết định tác động trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng kinh tế Nguồn nhân lực nếu được đào tạo và có chất lượng cao là điều kiện rút ngắn khoảng cách tụt hậu,thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đẩy CNH-HĐH phát triển nhanh và bền vững.Là điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Nhiệm vụ trung tâm của cách mạng nước ta trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là phải xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Muốn thực hiện thành công nhiệm
vụ đó, ta phải đẩy mạnh CNH-HĐH, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp
CNH-HĐH đất nước là quá trình đầy thách thức, đòi hỏi nhiều nỗ lực Cho nên muốn thực hiện
thành công cần có sự hợp lực của toàn dân Nguyễn Trãi) cũng đã từng nói "Đẩy thuyền là dân
mà lật thuyền cũng là dân"
Một trong những quan điểm lớn được Đảng ta nhấn mạnh là: " CNH-HĐH là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo" Quan điểm này xuất phát từ nguyên lý: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” CNH-HĐH là sự nghiệp cách mạng trọng đại của nhân dân ta, đất nước ta, nhằm mục đích “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh” Vì vậy, nó không phải là công việc riêng của một bộ phận, 1 giai cấp mà
là sự nghiệp của toàn dân, do nhân dân thực hiện
CNH-HĐH đòi hỏi phải huy động cao độ sức mạnh của toàn dân về mọi mặt : sức lao động, tiền vốn, trí tuệ, tài năng, kinh nghiệm, kỹ thuật Cũng như những sự nghiệp CM khác, nhân dân là người quyết định sự thành công của quá trình CNH-HĐH đất nước
CNH-HĐH đất nước được thực hiện trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần cho phép khai thác và sử dụng có hiệu quả các yếu tổ sản xuất, các tiềm năng và nguồn lực của đất nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, góp phần vào sự nghiệp CNH-HĐH Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, mỗi thành phần kinh tế có lợi thế so sánh riêng về kỹ thuật, vôn, lực lượng lao động, kinh nghiệm quản lý trong đó kinh tế Nhà nước
Trang 7giữ vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nước “làm đòn bẩy đầy nhanh tăng trưởng kinh tế và tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới” Kinh tế Nhà nước nắm giữ các ngành, các lĩnh vực, các khâu quan trọng nhất của nền kinh tế được trang bị bằng kỹ thuật và công nghệ hiện đại đủ sức chủ đạo và định hướng phát triển các thành phần kinh tế khác
Con người là yếu tố quyết định để tạo ra công nghệ hiện đại và sử dụng chóng để tạo ra của cải cho xã hội, là yếu tố quyết định để thực hiện chuyển giao công nghệ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Là một nước nghèo, lại trải qua chiến tranh lâu dài, muốn công nghiệp hoá thắng lợi thì phải có vốn Hồ Chí Minh đã chỉ ra cho Đảng và nhân dân ta rằng không thể chỉ trông chờ vào sự giúp
đỡ của các nước, mà phải dựa vào dân: "Muốn xây dựng phải có tiền Tiền ở đây ra? Tiền ở nhân dân tức là ở nông dân và công thương" và "tiền của nhân dân trở lại làm lợi cho nhân dân"
Vì vậy, để phát huy sức mạnh của nhân dân vào sự nghiệp công nghiệp hoá, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh các biện pháp nhằm "bồi dưỡng sức dân":
Một là, phát triển giáo dục để nâng cao dân trí Theo Hồ Chí Minh, trình độ dân trí là thước đo sức mạnh của một dân tộc, Người từng nói: "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu" Vì vậy, để bảo
vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung, thực hiện công nghiệp hoá nói riêng phải đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục, nâng cao trình độ vǎn hoá cho nhân dân: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải tǎng gia sản xuất Muốn tǎng gia sản xuất tốt thì phải có kỹ thuật cải tiến Muốn sử dụng tốt kỹ thuật thì phải có vǎn hoá Vì vậy công việc bổ túc vǎn hoá là cực kỳ cần thiết" 14
Hai là, phát triển y tế; thể dục thể thao để nâng cao sức khoẻ cho nhân dân, Người nói: "Mỗi một
người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khoẻ tức là cả nước mạnh khoẻ Dân cường thì quốc thịnh" 15
Ba là, kết hợp công tác giáo dục với cải tiến công tác quản lý: "Hiện nay phải phát động công nhân, viên chức cải tiến chế độ quản lý xí nghiệp Phát động công nhân, viên chức lần này là để giáo dục nâng cao giác ngộ chính trị cho công nhân, giáo dục cán bộ, đồng thời cán bộ và công nhân giáo dục lẫn nhau; trong giáo dục có đấu tranh, tức là phê bình và tự phê bình để tiến bộ,
để đoàn kết chặt chẽ hơn, để quản lý tốt để, sản xuất tốt" 16
Bốn là, tǎng cường vai trò lãnh đạo của Đảng: "Lực lượng của giai cấp công nhân và nhân dân
Trang 8lao động là rất to lớn, là vô cùng vô tận Nhưng lực lượng ấy cần có Đảng lãnh đạo quần chúng, thì cách mạng mới thành công" 17
4 Vì sao công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng?
Hoàn cảnh + phẩm chất:
Đa số GCCN xuất phát từ GCND, nên họ có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với GCND- vốn có truyền thống yêu nước, bất khuất Chính vì vậy, giai cấp công nhân VN sớm liên minh với ND, tạo thành khối liên minh công-nông và khối đại đoàn kết toàn dân tộc,đảm bảo cho sự lãnh đạo của giai cấp công nhân trong suốt quá trình cách mạng
Là LLSX tiên tiến nhất của XH, có hệ tư tưởng riêng, có ĐK LĐ, SH tập trung, có YT tổ chức, tính kỷ luật cao Vì có lợi ích giai cấp đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản (họ luôn muốn xóa bỏ chế độ tư hữu, xóa bỏ áp bức, bóc lột, giành chính quyền và làm chủ XH còn GCTS không bao giờ tự rời bỏ những lợi ích basic đó) nên tinh thần CM triệt để, kiên quyết Giai cấp công nhân việt nam ra đời khi cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng 10 Nga thành công,
mở ra 1 chế độ xã hội mới lịch sử trong lịch sử nhân loại,đó là chế độ xã hội chủ nghĩa và cùng lúc đó nguyễn ái quốc đã tìm ra con đường cứu nước giải phóng dân tộc là con đường cách mạng
vô sản dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân Họ có ĐK tiếp thu CN Mác Lenin và trào lưu
CM TG đb là CM tháng 10 Nga
GCCN đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến, gắn liền với thành tựu KHCN hiện đại, họ là những NLĐ trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ SX có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và XH hóa cao với trình độ trí tuệ ngày càng cao
5 Để tăng trưởng kinh tế cần 5 yếu tố nào
Cơ cấu kinh tế:
Cũng giống như một cơ thể sống, nền kinh tế chỉ có thể tăng trưởng và phát triển khi giữa các mặt, các bộ phận, các yếu tố cấu thành của nó phù hợp với nhau cả về số lượng và chất lượng cũng có nghĩa là phải có một cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại để phát huy mọi tiềm năng, nội lực, lợi thế so sánh của toàn bộ nền kinh tế, là yếu tố tạo tiền đề, cơ sở cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế
Trang 9Thể chế chính trị: phù hợp để bảo vệ quyền lực kinh tế thực tế của nhóm có quyền kiểm soát
nguồn lực trong quốc gia TTCT tạo ra tạo ra hệ thống cơ cấu tác động của các chủ thể CT đối với KT, có thể điều hành cơ cấu các TP KT của 1 QG
Vốn: là yếu tố sản xuất cơ bản, quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế Vốn tạo ra các yếu tố
vật chất, kỹ thuật để phát triển Do đó, việc tăng cường huy động nguồn vốn, đa dạng hóa hình thức huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn, trong đó đặc biệt là vốn đầu tư là nội dung hết sức cần thiết cho sự phát triển kinh tế bền vững của các quốc gia
Nhân lực:
Trong khi các nguồn lực khác như vốn,tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất, nguồn lực nước ngoài trong quá trình khai thác sử dụng đến một lúc nào đó bị cạn kiệt thì nguồn nhân lực được xem là vô tận và phát triển.Nó là nhân tố quyết định việc khai thác,sử dụng,bảo vệ,tái tạo các nguồn lực khác
Quá trình PT KT là do con người tổ chức,thực hiện do đó phải có sự hiện diện của con người Con người là chủ thể của mọi hành động, sáng tạo ra của cải vật chất,tinh thần cho xã hội,có khả năng vận dụng thành tựu KHKT thúc đẩy KT phát triển nhanh chóng
Đối với VN, nguồn lực tài chính vẫn còn hạn chế nên nguồn lực con người đóng vai trò quyết định tác động trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng kinh tế
Khoa học và công nghệ: là nền tảng và động lực cho PTKT Chỉ bằng con đường phát triển
khoa học và công nghệ mới có thể đưa nước ta từ nghèo nàn lạc hậu trở thành một nước giàu mạnh văn minh Việc đưa khoa học và công nghệ, trước hết là phổ cập những tri thức khoa học
và công nghệ cần thiết vào sản xuất và đời sống xã hội là một nhu cầu cấp thiết của xã hội ta hiện nay Xã hội hoá tri thức khoa học và công nghệ là một trong những nhu cầu thiết thực và cấp bách nhất để đẩy mạnh PTKT
6 Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo
Kinh tế Nhà nước là đòn bẩy đầy nhanh tăng trưởng kinh tế và tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới” Kinh tế NN nắm giữ các ngành, các lĩnh vực, các khâu quan trọng nhất của nền kinh tế
Trang 10được trang bị bằng kỹ thuật và công nghệ hiện đại đủ sức chủ đạo và định hướng phát triển các thành phần kinh tế khác
Để vừa Phát triển kinh tế vừa bảo đảm công bằng xã hội, thỏa mãn các yêu cầu về tiến bộ xã hội,
ổn định về chính trị thì nền kinh tế phải chịu sự chi phối của một nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Chỉ có nhà nước đó mới bảo đảm được lợi ích của đại đa số
nhân dân lao động, mới định hướng vào sự phát triển của từng cá nhân, của cộng đồng và xã hội
Và, để bảo đảm được lợi ích của đại đa số nhân dân lao động, KTNN - chủ yếu dựa trên chế độ
sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện - phải giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế đó
KTNN dựa trên chế độ công hữu về TLSX; là chế độ sở hữu phù hợp với xu hướng xã hội hóa của lực lượng sản xuất Thành phần KTNN không chỉ bao hàm doanh nghiệp nhà nước, mà còn bao hàm sức mạnh kinh tế đứng đằng sau các chính sách và hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước; bao hàm khả năng tổ chức và hoạch định chính sách đúng đắn của Nhà nước; sự gắn kết hợp lý của hệ thống doanh nghiệp nhà nước, tài chính nhà nước, luật pháp và hiệu lực quản lý của Nhà nước Với sức mạnh kinh tế tổng hợp đó, thành phần KTNN có khả năng tạo ra các điều kiện vật chất, các tiền đề kinh tế-xã hội để phát triển tất cả các thành phần kinh tế
Trong điều kiện các quan hệ thị trường mới được phát triển, khu vực tư nhân còn nhỏ bé, chưa
có khả năng đầu tư lớn, khu vực sở hữu nhà nước tất yếu phải đảm nhận vai trò đầu tàu, dẫn dắt trong những lĩnh vực mới này KTNN nắm giữ những vị trí then chốt, yết hầu, xương sống của nền kinh tế, do đó, nó có khả năng, có điều kiện chi phối hoạt động của các thành phần kinh tế khác, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển theo hướng đã định KTNN là lực lượng có khả năng giúp đỡ và liên kết, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển Nó còn đảm nhận các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh có tính chiến lược đối với sự phát triển kinh tế-xã hội đòi hỏi vốn đầu tư lớn vượt quá khả năng của tư nhân KTNN tham gia vào những lĩnh vực khoa học, công nghệ mũi nhọn, có hệ số rủi ro cao…
về mặt xã hội, do bản chất về mặt sở hữu và mục đích hoạt động, KTNN có vai trò quan trọng trong gánh vác chức năng xã hội Vai trò này thể hiện ở chỗ, KTNN phải đảm nhận những ngành
ở những địa bàn khó khăn có ý nghĩa chính trị - xã hội mà tư nhân không muốn đầu tư, thực hiện
sự bảo đảm cân bằng về đầu tư phát triển theo vùng, miền, đảm nhận các ngành sản xuất hàng hóa công cộng thiết yếu, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, các chương trình xóa đói, giảm nghèo,