Nội dung phần 2 trình bày theo từng nhóm cây trồng bao gồm: thành phần loài côn trùng gây hại phổ biến trên từng cây trồng cụ thể, tình hình phân bố, đặc điểm hình thái, sinh học, triệu chứng gây hại và thiên địch của chúng. Mời các bạn cùng tham khảo, nội dung phần 2 giáo trình!
Trang 1CHƯƠNG 4 CÔN TRÙNG HẠI CÂY ĂN TRÁI Giới thiệu:
Nội dung chương tập trung về thành phần, triệu chứng gây hại, đặc điểm hình thái và biện pháp phòng trừ một số loài sâu hại chủ yếu trên cây xoài, cây nhãn và cây có múi
Mục tiêu:
Kiến thức:
+ Trình bày thành phần loài côn trùng gây hại quan trọng trên cây ăn trái + Trình bày đặc điểm hình thái và triệu chứng gây hại của các loài gây hại trên cam quýt, xoài và nhãn
+ Trình bày các điều kiện ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển và tập tính gây hại của các loài quan trọng trên cây ăn trái
Kỹ năng:
+ Nhận diện được đặc điểm hình thái và triệu chứng gây hại của các loài gây hại trên cam quýt, xoài, nhãn
+ Điều tra mật số côn trùng hại ngoài đồng
+ Tổng hợp, phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp phù hợp để kiểm soát
sự gây hại của côn trùng trên cây cam quýt, xoài, nhãn
Năng lực tự chủ và trách nhiệm: có tinh thần tự học, có phương pháp làm việc khoa học sáng tạo
* Nội dung Bài:
1 Đặc điểm hình thái và cách gây hại
1.1 Thành phần côn trùng hại quan trọng trên cây có múi
a Sâu đục trái Cipestis sagittiferella Moore
Họ Ngài sáng (Pyralidae) - Bộ Cánh vảy (Lepidoptera)
* Phân bố: Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Singapore, Brunei và Việt Nam
* Ký chủ: Bưởi, chanh, cam
* Đặc điểm hình thái: thành trùng là một loài ngài đêm có màu nâu đỏ,
chiều dài thân: 11-13 mm, chiều dài sải cánh: 24-25 mm Cánh trước sậm màu có rất nhiều vảy nhỏ, hầu hết các vảy có màu nâu, vì vậy nhìn bằng mắt thường thành trùng có màu nâu tuy nhiên rải rác trên cánh cũng có những đốm vảy màu trắng hoặc màu đỏ
Trang 2Cánh sau có màu nâu nhạt Trên cánh trước, đốm vảy nằm ngay phía dưới phần ngực có màu nâu đen nên khi nhìn từ phía lưng của thành trùng sẽ thấy có 2 vệt màu nâu đen khá đặc trưng Rìa cánh có màu nâu Cơ thể (thân, cánh và chân) phủ đầy vảy sáng, có ánh bạc Râu đầu dài, 3 cặp chân mỏng mảnh, màu vàng ngã sang nâu nhạt Ở trạng thái nghỉ, ngài thường đưa phần trước của cơ thể cao lên Thành trùng cái có kích thước lớn hơn thành trùng đực bụng của thành trùng đực thon nhỏ so với thành trùng cái Trứng tròn, hơi bầu dục, hình vảy cá, xếp chồng lên nhau Trứng có kích thước: 1,4 x 1,2 mm Lúc mới đẻ, trứng có màu trắng đục, sau đó trở nên hồng sậm, khi sắp nở, có thể quan sát có thể thấy một chấm lớn màu đen xuyên qua vỏ trứng, đó là đầu của sâu non sắp nở Sâu có 5 tuổi, trải qua 4 lần lột xác Sâu tuổi 1 (T1) có đầu lớn so với ngực và bề ngang của cơ thể
Cơ thể màu hồng, trên mỗi đốt cơ thể có nhiều lông, xếp đều theo chiều ngang của đốt, vùng có lông này có màu sậm hơn phần còn lại của đốt
Mới nở sâu dài khoảng 1,6-1,8 mm, khoảng vài giờ sau khi nở, sâu đã dài 2,6-3,0 mm Từ tuổi 2 trở đi, cơ thể sâu có màu đỏ hồng quân nhạt Vào tuổi 5, sâu dài khoảng 20-22 mm, đầu màu nâu nhạt và phần lưng ngực có màu nâu Trước khi hóa nhộng, sâu có màu xanh rất đặc trưng Sâu hóa nhộng trong một cái kén bằng đất được kết với các sợi tơ do sâu tiết ra
* Đặc điểm sinh học: trong điều kiện phòng thí nghiệm (T0C: 28-30; RH%: 75-85) thời gian của vòng đời biến động từ 25-28 ngày, với giai đoạn trứng 5-6 ngày, giai đoạn sâu non: 10-12 ngày và giai đoạn nhộng 8-9 ngày, tiền dẻ trứng 2-3 ngày
Sau khi phát triển đầy đủ, sâu chui xuống đất để hóa nhộng, nhộng thường được phát hiện ở vị trí từ 1 đến 2 cm từ mặt đất Thành trùng hoạt động (bắt cặp,
đẻ trứng) chủ yếu vào ban đêm, cả thành trùng và ấu trùng đều di chuyển rất nhanh Ban ngày, thành trùng thường nằm yên trong tán lá Thành trùng thường
đẻ trứng thành từng cụm ở mặt dưới hoặc mặt bên của trái, mỗi ổ trứng có từ 3 đến 12 trứng
* Triệu chứng: trên trái (đặc biệt ở phần cuối trái) có nhiều lỗ đục, bên ngoài
lỗ đục có rất nhiều chất thải do sâu thải ra, các chất thải này được kết lại với nhau bằng chất keo dính do trái bị xì mủ Sự gây hại của sâu trên những trái đang phát triển sẽ làm trái rụng sớm, trên những trái đã phát triển, sự gây hại của sâu trên phần thịt của trái (múi bưởi) sẽ làm trái bị thối rất nhanh do bị bội nhiễm và trái cũng bị rụng sau đó
* Sự gây hại: sâu gây hại cả trái non (đường kính trái khoảng 4,5 cm) và trái
chuẩn bị thu hoạch Do trứng được đẻ trên trái nên ngay sau khi nở ra, sâu di
Trang 3chuyển để tìm chỗ đục vào bên trong trái Thường sâu đục vào trái ở gần nơi trứng được đẻ ra
Để đục vào vỏ trái, sâu T1 cần một thời từ 1,3 - 2,0 giờ, sau đó sâu mới chui hẳn vào trong trái Trong quá trình xâm nhập vào trái, sâu cắn vỏ trái, sau đó đẩy phần vỏ bị cắn cùng với phân của sâu ra ngoài lỗ đục
Đường đục trong trái thường được lót bằng một lớp tơ và sâu nằm trong lớp màng bằng tơ này để gây hại Sự gây hại của sâu trên phần thịt của trái (múi của trái) sẽ làm trái thối rất nhanh và làm trái bị rụng sớm Tùy theo số lượng sâu gây hại bên trong trái mà trái bị hủy hoại nhanh hay chậm, khi bị gây hại nặng, có thể
có từ 6-10 con sâu trong một trái Sâu được ghi nhận gây hại trên bưởi, chanh, cam Tuy nhiên, sự gây hại trên bưởi da xanh là quan trọng hơn cả Hai loại bưởi
có giá trị kinh tế cao như bưởi da xanh và bưởi năm roi đều bị gây hại nặng
* Thiên địch: Trong điều kiện tự nhiên, trứng sâu thường bị tấn công bởi
các loài ong ký sinh như ong mắt đỏ Trchogramma và ong thuộc họ Encyrtidae
Tại Việt Nam, ong mắt đỏ ký sinh trứng cũng đã được ghi nhận trên các vùng bị nhiễm sâu đục trái bưởi, tuy nhiên mật số thường thấp do các nhà vườn sử dụng
nhiều loại thuốc trừ sâu để phòng trừ sâu đục trái bưởi
b Sâu đục vỏ trái Praya endocarpa Meyrick
Họ Yponomeutidae - Bộ cánh vảy (Lepidoptera)
Tên khác: do hình dạng và đặc điểm sinh học của Prays endocarpa
(Kalshoven, 1981) rất giống với Prays citri, nên trước đây loài này được ghi nhận dưới tên là Prays citri Milliere (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
* Phân bố: Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Ấn Độ, Bihar,
Karnataka, Indonesia, Java, Sumatra, Sri Lanka, quần đảo Pacific và Mariana
* Ký chủ: Bưởi, cam, chanh Tại Việt Nam, loài này chủ yếu gây hại trên
bưởi (Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh, 2002)
* Triệu chứng: Vỏ trái bị nổi u, sần
* Đặc điểm hình thái: Trưởng thành có hình dạng tương tự như loài Prays
citri Milliere gây hại trên bông của nhóm cây có múi (Citrus) tại nhiều quốc gia
thuộc vùng Địa Trung Hải Về hình dạng, cánh có nhiều vảy phấn trắng ánh bạc xen lẫn với những vảy phấn màu nâu đen, chiều dài thân 3,95 mm và chiều dài sải cánh khoảng 7,84-8,00 mm Trứng dẹp, mới đẻ có màu trắng trong, đường kính 0,4 mm Trứng nhìn từ bên ngoài rất bóng, giống như túi tinh dầu trên vỏ trái Vỏ trứng có dạng như các mắt lưới Sâu mới nở có chiều dài 0,8 mm, màu vàng nhạt,
cơ thể trong, đầu hơi vàng có hai mắt đen, phần đầu nhỏ hơn phần bụng Sâu tuổi
Trang 4lớn hơn cơ thể có màu vàng, đầu màu vàng đậm, phần đầu tương đồng với phần thân
Khi chuẩn bị hóa nhộng, cơ thể sâu có màu xanh ngọc, mỗi đốt bụng có một sọc màu đỏ quanh thân Khi vừa hóa nhộng, nhộng có màu xanh đọt chuối, phần đầu ngực và phần cánh có màu vàng tươi Nhộng cái có kích thước trung bình 4,75 x 1,35 mm, nhộng đực 3,95 x 1,04 mm
* Đặc điểm sinh học: sau khi nở, sâu tuổi 1 sẽ đục thẳng vào trong trái để
gây hại Sâu tuổi 1 ăn phá phần non của vỏ trái và thải phân ngay trong các đường đục của trái, mỗi lỗ đục chỉ có một ấu trùng Trong điều kiện phòng thí nghiệm (T0C: 25-30; RH%: 67-92), tuổi thọ của ngài đực và ngài cái lần lượt là 2-7 ngày
và 2-11 ngày Thời gian nhộng 4-7 ngày Thời gian ủ trứng từ 3-4 ngày Trứng được đẻ thành từng cái riêng lẻ trên lá non, trưởng thành đẻ khoảng 46 trứng, dao động từ 35-58 trứng Sâu thường làm nhộng trên lá gần trái bị đục hoặc ở phần cuống trái và trên những trái rất non (đường kính trái từ 1-2 cm) Ngài trưởng thành hoạt động, bắt cặp và đẻ trứng Chu kỳ sinh trưởng kéo dài trong khoản 27-
30 ngày Tỷ lệ đực, cái khoảng 1:2 Sâu chủ yếu gây hại trên trái, không gây hại trên bông Sau khi hoàn thành giai đoạn ấu trùng trong trái, sâu chui ra khỏi trái
để nhả tơ làm nhộng, lúc này các sọc màu đỏ quanh thân của sâu mất dần
* Sự gây hại: sâu gây hại trong phần vỏ, không đục vào trong phần thịt của
trái Sâu chủ yếu hại trên trái non Nếu bị nhiễm sâu nặng, trái sẽ phát triển rất kém, biến dạng và bị rụng Nếu nhiễm nhẹ, trái sẽ tiếp tục phát triển nhưng sẽ bị biến dạng với những u sần nhiều khi rất to, đặc biệt là trên bưởi
Mặc dù chất lượng của trái không bị ảnh hưởng vì sâu chỉ ăn phần vỏ và không đục vào trong phần múi nhưng với các u sần trên vỏ, trái bị mất giá trị thương phẩm Sâu hiện diện vào giai đoạn cây ra trái non Gây hại nặng trên bưởi, đặc biệt là bưởi 5 roi Trên cam, chanh, sự gây hại của sâu không đáng kể do vỏ của các loài trái cây này mỏng
* Thiên địch: P citri thường bị nhiều loài ký sinh và ăn mồi tấn công như
Ageniaspis fuscicollis, Nemo-rillaculosa, Metaseiulus occidentalis, Bacillus thuringiensis Tại đồng bằng sông Cửu Long, tỷ lệ sâu bị ong ký sinh rất cao Từ
tháng 8 đến tháng 10 dl, tỷ lệ ký sinh có thể lên đến 56,7% (Nguyễn Thị Thu Cúc,
2000)
c Rầy chổng cánh Diaphorina citri Kuwayama
Họ Rầy nhảy (Psyllidae) - Bộ Cánh đều (Homoptera)
Trang 5*Phân bố: Afghanistan, Bangladesh, Brazil, Nhật, Macau, Myanmar,
Indonesia, Singapore, Campodia, Trung Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Lào, Malaysia, Nepal, Pakistan, Philippines, Việt Nam, Paraguay và Uruguay
* Ký chủ: chanh, cam, quýt, bưởi, nguyệt quế, cần thăng, kim quýt
Ấu trùng tuổi 5 dài khoảng 1,5mm với 2 mắt màu đỏ, các đốt cuối của râu đầu màu đen Thành trùng có kích thước nhỏ, thân dài từ 2,5 - 3,0mm, nâu xám, cánh có màu nâu vàng, chân có màu xám nâu Phần giữa cánh trong suốt, kéo dài thành một dãy trắng từ gốc cánh đến cuối cánh, bị gãy về phía cuối cánh Đầu nhọn, màu nâu nhạt Mắt có màu đỏ Râu đầu ngắn có 5 đốt, đốt cuối râu đầu có màu đen
Bụng của con cái sắp đẻ và đang đẻ có màu hồng, ống đẻ trứng nhọn, màu đen, hiện diện rất rõ ở phần cuối bụng Bụng của con đực thon nhọn, có màu xanh nhạt Khi đậu, phần bụng của thành trùng nhổng cao nên được gọi là rầy chổng cánh
* Đặc điểm sinh học:
Trong điều kiện tự nhiên, sau khi vũ hóa 4 - 5 ngày thành trùng bắt cặp và con cái thường đẻ trứng ngay sau khi bắt cặp Trứng thường được đẻ vào ban ngày, thành từng khối hay từng nhóm 2, 3 hàng trong các nách lá hoặc trên các đọt lá non, đặc biệt là trong các lá non còn xếp lại
Thành trùng thường chích hút mặt dưới của lá, dọc theo gân chính Con cái
có thể đẻ khoảng 200 - 800 trứng, liên tiếp trong 2 tháng.Thời gian ủ trứng kéo dài 2 - 11 ngày, giai đoạn ấu trùng gồm 5 tuổi, kéo dài từ 12 - 22 ngày, thời gian sống của thành trùng là 14 ngày
Ấu trùng mới nở thường nằm cố định tại chỗ để chích hút trong 1 - 2 ngày sau đó di chuyển sang chỗ khác Sang T5, ấu trùng thường di chuyển xuống phần dưới của lá để lột xác thành thành trùng Thành trùng rất hoạt động, có thể nhảy rất nhanh khi bị động
Trang 6Chu kỳ sinh trưởng của D citri kéo dài khoảng 20 ngày, có thể có 12 - 14
thế hệ/năm Thành trùng có thể sống trong nhiều tháng Sự biến động quần thể chủ yếu dựa vào các thời điểm ra đọt non vì rầy chổng cánh gần như chỉ đẻ trứng trên các chồi non
* Sự gây hại:
Khi mật số cao, cả thành trùng và ấu trùng chích hút làm cho chồi bị khô, rụng lá, gây hiện tượng khô cành, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây và sự ra trái Mật ngọt do rầy chổng cánh tiết ra tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển, ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của cây Tuy nhiên, trong điều kiện tự nhiên, mật số của rầy thường thấp trên cam, quýt nên chưa ghi nhận như vừa nêu trên Mật số cao thường chỉ được ghi nhận trên chanh
Sự gây hại quan trọng nhất của D citri hiện nay là do chúng truyền vi khuẩn Liberobacter asiaticum gây bệnh vàng lá gân xanh (greening) cho cây có múi Do
đó, rầy chổng cánh trở thành đối tượng dịch hại nguy hiểm nhất hiện nay cho nhiều vùng trồng cây có múi trên thế giới và Việt Nam Tại Việt Nam, bệnh hiện diện trên khắp các vùng trồng cây có múi từ Bắc đến Nam và trầm trọng nhất là
ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Chúng truyền bệnh từ cây bệnh sang cây khỏe qua kim chích và nước bọt
Triệu chứng vàng lá gân xanh: trên các chồi non, phiến lá thường hẹp, mọc thẳng đứng, lá có màu vàng nhưng gân lá còn xanh hoặc lá bị vàng loang lỗ Trái nhỏ, tâm trái bị lệch, hạt nhỏ và thường bị nâu đen Trong vườn có cây bệnh nặng,
có cây lại không bệnh Trên cây có nhánh bệnh, có nhánh không biểu hiện triệu chứng Khi bị nhiễm nặng, một số cành sẽ bị chết khô Cây cằn cỗi, trái nhỏ, năng suất giảm rõ rệt
* Thiên địch:
Trong điều kiện tự nhiên của nhiều vùng tại Đông Nam Á, thành phần thiên địch của rầy chổng cánh rất phong phú, quan trọng nhất là các loài ong ký sinh
Tamarixia radiata và Diaphorencyrtus Các công trình nghiên cứu của Bộ môn
Bảo vệ thực vật, Khoa Nông nghiệp & Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần
Thơ đã ghi nhận kiến vàng Oecophylla smaragdina có khả năng hạn chế cao sự
bùng phát của rầy chổng cánh và tỉ lệ bệnh greening cũng rất thấp so với những
vườn không có sự hiện diện của kiến vàng
d) Sâu vẽ bùa Phyllocnistis citrella Stainton
Họ Gracillariidae, Bộ Cánh Vảy (Lepidoptera)
* Phân bố và ký chủ
Sâu xuất hiện nhiều ở các vùng trồng cam, quít trên thế giới như Ấn Độ,
Trang 7Nepal, Nhật, Pakistan, Philippines, Trung Quốc, các vùng miền bắc châu Úc, Việt Nam
Loài sâu này chủ yếu gây hại trên nhóm cây Cam, Quít, Chanh, nhưng mức
độ thiệt hại khác nhau tùy theo giống
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Ngài rất nhỏ, dài khoảng 2 mm, sải cánh rộng từ 4 - 5 mm Toàn thân có màu vàng nhạt, hơi có ánh bạc Cánh trước có dạng hình lá liễu, gốc cánh màu xám nhạt, phần còn lại màu trắng bạc hơi ngả vàng Từ gốc cánh có hai vân dọc màu đen kéo dài đến giữa cánh Khoảng 1/3 về phía đầu cánh có 1 vân xiên giống hình chữ Y Phần đầu cánh có rìa lông khá dài màu đen Cánh sau rất hẹp, màu xám đen, 2 rìa lông bên ngoài rất dài màu xám nhạt Thời gian sống của ngài từ 4 - 5 ngày Một ngài cái đẻ từ 40 - 50 trứng
Trứng hình bầu dục dẹp, rất nhỏ, khoảng 0,20 - 0,30 mm Trứng mới đẻ trong suốt, sắp nở có màu trắng đục hơi ngả vàng Thời gian ủ trứng từ 2 - 7 ngày Sâu mới nở dài khoảng 0,5 mm, thân màu xanh nhạt, gần như trong suốt, đầu màu nâu Sâu lớn đủ sức dài khoảng 4 mm, màu vàng xanh, cơ thể không còn trong suốt Mình sâu dẹp, có 13 đốt, hai đầu thon nhỏ, chân ngực và chân bụng đều thoái hóa, đốt cuối có hình ống dài Ở giai đoạn chuẩn bị hóa nhộng, cơ thể sâu không còn dẹp mà chuyển sang dạng hình ống màu trắng ngả vàng đục Sâu
có 4 tuổi, phát triển trong thời gian từ 5 - 20 ngày tùy điều kiện ngoại cảnh Nhộng dài từ 2 - 3 mm, hai đầu thon nhỏ, lúc mới hình thành màu vàng nhạt, sau chuyển thành màu nâu vàng với một gai rất nhỏ trên đầu Nhộng phát triển trong thời gian từ 7 - 15 ngày
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Ngài ít bị thu hút bởi ánh sáng đèn Ban ngày ngài ẩn trốn trong tán lá cây, ban đêm bay ra hoạt động và đẻ trứng, mạnh nhất từ 19 - 21 giờ Từ 12 - 15 giờ sau khi bắt cặp ngài cái bắt đầu đẻ trứng Khoảng 85% số trứng được đẻ trong vòng 2 ngày đầu Trứng thường được đẻ ở mặt dưới lá, trung bình 2 - 3 trứng trên một lá hay một chồi non Phần lớn trứng tập trung hai bên gân chính Ngài thích
đẻ trứng ở những vườn cam, quít dưới 4 năm tuổi
Sâu mới nở đục ngay vào dưới biểu bì lá và tiếp tục đục ăn thành những
đường ngoằn ngoèo như đường vẽ trên các lá bùa nên sâu có tên gọi là “sâu vẽ bùa” Sâu sống bên trong đường đục và cạp ăn lớp tế bào nhu mô diệp lục Lớp
biểu bì khi mới bị tách khỏi lớp nhu mô thường trong bóng, do đó rất dễ nhầm lẫn với vệt chất nhầy của ốc sên để lại trên mặt lá khi di chuyển Sâu đục ăn tới đâu thường bài tiết phân đến đấy, nên vệt phân là một đường liên tục, giống như sợi
Trang 8chỉ chạy dài theo đường đục của sâu ở phía chính giữa Phân sâu lúc đầu có màu xanh vàng, sau thành màu nâu sẫm Đường đục kéo dài và lớn dần theo tuổi sâu Đặc điểm của sâu này là đường đục của một con sâu ngoằn ngoèo khắp mặt lá nhưng không bao giờ cắt ngang hoặc nhập chung vào đường đục của những sâu khác sống trên cùng một lá Sâu chỉ có thể sống được trong điều kiện ẩm độ không khí cao nhưng khi mưa to, gió lớn, lớp biểu bì trên đường đục bị rách sâu sẽ chết sau một thời gian ngắn Khi lớn đủ sức sâu thường đục ra bìa phiến lá nhả tơ, dệt kén kéo bìa lá lại che kín tổ kén Cũng có đôi lúc sâu hóa nhộng ngay giữa phiến
lá nhưng vẫn có khả năng kéo cả phiến lá che tổ kén Tổ kén sâu vẽ bùa có màu
rỉ sắt Sau khi bướm vũ hóa thì võ nhộng thường nhô một phần ra ngoài tổ kén
Lá bị sâu tấn công sẽ quăn queo làm hạn chế rất lớn sự quang hợp, chồi non ngừng tăng trưởng Ngoài ảnh hưởng trên, những vết thương do sâu đục trên bề
mặt lá hoặc chồi sẽ tạo điều kiện cho vi khuẩn Xanthomonas campestris pv citri
phát triển mạnh, gây ra bệnh loét cho cây cam, sau cùng các chồi non sẽ bị hủy diệt
Các lá cam, quít hay chanh quăn queo, co rúm do sâu vẽ bùa tạo nên còn là nơi trú ẩn của nhiều loài sâu hại khác
- Thiên địch: ở giai đoạn sâu non và nhộng có thể bị Ong thuộc các họ
Encyrtidae, Eulophidae ký sinh
e Các loài rầy mềm
Họ Rầy mềm (Aphididae) - Bộ Cánh đều (Homoptera)
Trên cam quít có 2 loài rầy mềm gây hại chủ yếu: Toxoptera aurantii và Toxoptera citricidus
* Phân bố
Rầy mềm được ghi nhận xuất hiện ở các quốc gia trồng cam quít trên thế giới như Ấn Độ, Đài Loan, Hàn Quốc, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Nhật, Sri - Lanka, Trung Quốc, Philippines, châu Úc
* Ký chủ
Ngoài cam quít, các loài rầy mềm còn gây hại trên cây chanh, nhưng không
quan trọng, trên mãng cầu, mít Riêng loài Toxoptera aurantii còn có thể sống trên
Trang 9cây cacao, cây thuộc họ bầu ,bí, dưa
* Đặc điểm hình thái và sinh học
+ Toxoptera aurantii Boyer de Fonscolombe
Thành trùng có 2 dạng như các loài rầy mềm khác:
- Dạng có cánh: chân và râu đầu màu vàng nâu hơi nhạt, cuối mỗi đốt màu nâu Râu đầu 6 đốt, ngắn hơn cơ thể Cơ thể dài từ 1,44 - 1,80 mm Vòi chích hút kéo dài đến đốt chậu chân sau Ống bụng dài màu nâu đến nâu đỏ gần như nâu sẫm
- Dạng không cánh: cơ thể dài từ 1,70 - 1,80 mm, màu nâu đỏ Râu đầu 6 đốt
+ Toxoptera citricidus Kyrkaldy
Thành trùng có 2 dạng:
- Dạng có cánh: cơ thể từ màu nâu đỏ đến đen, nhưng ngực đậm hơn Râu đầu ngắn hơn cơ thể, màu nâu đỏ, chân và đoạn cuối của râu màu trắng, các đoạn nối các đốt râu cũng màu trắng Chiều dài cơ thể từ 1,6 - 2,1 mm, rộng từ 0,8 - 1
mm Vòi chích hút kéo dài khỏi đốt chậu chân sau, đốt cuối vòi nhọn và hẹp Các chân màu sậm, riêng đốt chày màu nhạt Bụng màu nhạt, có nhiều đốm đậm nằm rải rác Ống bụng dạng trụ màu đậm
- Dạng không cánh: cơ thể màu nâu đỏ, lớn hơn dạng có cánh, chiều dài từ 1,7 - 2,1 mm, rộng từ 1,1 - 1,35 mm Trên cơ thể có nhiều lông dài và nhiều đốm màu rải rác
Loài này thường đẻ con Một rầy mềm cái có thể đẻ từ 1 - 16 con trong một ngày và đẻ trên 100 con trong suốt thời gian sống là 12 - 33 ngày
Ấu trùng lột xác 4 lần trong khoảng thời gian từ 4 - 16 ngày tùy điều kiện môi trường và thức ăn Dạng có cánh phát triển khi mật số nhiều và thức ăn không còn thích hợp và dạng không cánh hình thành khi thức ăn non mềm, điều kiện thời tiết thích hợp Rầy mềm hoàn thành vòng đời khoảng 3 tuần, nếu điều kiện thích hợp có thể có 12 thế hệ trong một năm
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Cả ấu trùng và thành trùng đều gây hại cho cây bằng cách chích hút nhựa lá
và cành non làm giảm khả năng tăng trưởng của cây; lá non bị cong và biến dạng Đồng thời sự gây hại của rầy mềm cũng làm cho trái bị chín sớm và giảm phẩm chất Ngoài ra phân do rầy mềm thải ra có chứa đường sẽ thu hút nấm đen tới đóng trên thân hay lá sẽ làm giảm khả năng quang hợp của cây
Trang 10Rầy mềm còn là tác nhân truyền bệnh "Tristeza" Lá bị bệnh “Tristeza" trông rất giống triệu chứng cây bị thiếu dưỡng chất và rễ cây bị suy yếu, tiếp theo là chết các cành non
* Biện pháp phòng trị
Rầy mềm có rất nhiều thiên địch Nếu thiên địch không khống chế được mật
số rầy có thể sử dụng các loại thuốc trừ sâu thông dụng để trị; tuy nhiên rầy rất dễ phát triển mật số trở lại vì khả năng sinh sản rất cao và vì vậy nên rầy mềm có thể truyền bệnh từ cây này sang cây khác một cách dễ dàng
Ngoài cam, chanh, quít, bưởi chúng còn có thể phá hại trên ổi và một số loại cây ăn trái khác
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Rệp cái trưởng thành của loài này có cơ thể hình bầu dục khá đều đặn (gần như đối xứng hai bên), màu xanh lục hơi ngả vàng, hơi dẹp so với các loài rệp sáp khác, dài 3-4 mm Về phía đầu có hai đốm mắt đen nhỏ Chân khá phát triển, có thể nhìn thấy từ mặt trên và có thể di chuyển được
Con cái sinh sản mà không cần bắt cặp Trứng nở bên trong mai sáp mỏng
và ấu trùng tuổi 1 có chân để bò đi tìm chỗ cố định, lột xác sang tuổi 2 và sau đó thì trưởng thành Vòng đời vào khoảng 4-6 tuần lể
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Loài này có khả năng di chuyển không những ở thời kì rệp non mới nở mà
cả ở giai đoạn chuẩn bị đẻ trứng, nhưng chỉ phát tán một khoảng cách ngắn đến các cành lá gần nơi sinh sống Chúng tấn công chủ yếu là ở các chồi non, lá non hoặc trái non
Rệp thường được các loài kiến bảo vệ để ăn mật, trong đó có cả kiến vàng Tài liệu cho biết kiến ăn mật có thể làm hạn chế tỉ lệ chết của ấu trùng tuổi 1 vì
Trang 11nếu mật tích luỹ nhiều quá có thể lây bệnh hoặc dính chân rệp non trong khi di chuyển
+ Rệp sáp đỏ Aonidiella aurantii (Maskell)
(Diaspedidae, Homoptera)
* Phân bố và ký chủ: loài rệp này phân bố khá rộng, đã phát hiện thấy ở
châu Mỹ, châu Phi, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản Ở Việt Nam các vùng trồng cam đều thấy chúng xuất hiện Ngoài cây trong họ cam, quít, loài này còn phá hại trên đu đủ, ổi, trà
* Ký chủ: loài này chủ yếu sống trên cam quít, nhưng tại các nước ôn đới
chúng còn có thể sống trên các loại cây như táo, đào, nho và một số loài cây dại khác
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Thành trùng cái không cánh, thân tròn màu đỏ, đường kính độ 1,8-2 mm, cơ thể được phủ bằng mai sáp mỏng nhưng hoàn chỉnh và gắn chặt trên thân cây, nhánh hoặc trên các cành cây nhỏ Thành trùng đực có cánh và có thể bay đi tìm thành trùng cái để bắt cặp
Sau khi bắt cặp, con cái đẻ thẳng ra từ 100-150 con non theo tần suất 2-3 con/ngày, có chân để bò đi tìm nơi định cư Thời gian sống của thành trùng từ 6 -
8 tuần tùy điều kiện sống
Sau khi tìm được nơi thích hợp ấu trùng tuổi 1 bắt đầu chích hút và tiết ra một mai sáp nhỏ, tròn, màu trắng Sang tuổi 2 trở đi chúng có màu đỏ
Sự phát triển của phái tính có thể xác định được qua hình dạng và kích thước của mai sáp: sau tuổi 2 thì mai sáp của con đực có hình bầu dục trong khi của con cái thì hình tròn Con đực trải qua giai đoạn tiền-nhộng và nhộng trong mai sáp rồi vũ hoá thành con đực có cánh Con đực bị quyến rũ bởi con cái bằng pheromone và chết sau khi bắt cặp
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Cả thành trùng và ấu trùng đều chích hút nhựa cây hoặc cành làm cho cành
bị khô, cây nhỏ bị chết dễ dàng Rệp còn tiết phân có chứa chất đường bám quanh thân hay cành làm cản trở quang hợp, cây phát triển kém
+ Rệp sáp tím Lepidosaphes beckii (Newman)
(Diaspididae, Homoptera)
* Ký chủ: đa ký chủ: xoài, ổi, nhãn, bơ
* Đặc tính sinh học
Trang 12Vỏ sáp có hình dấu phẩy, dài 3-4mm và màu tím, cơ thể rệp dưới vỏ sáp dài, màu trắng đục Mai sáp của con đực ngắn, hẹp và màu lợt hơn Mai sáp của loài
này giống với Unasbis citri (Comstock), được gọi là rệp sáp trắng tuyết (snow
scale), nhưng lớn hơn và màu của con kia nâu đậm
Cũng như các loài rệp sáp khác, con đực có cánh và tìm đến bắt cặp với con cái nhờ pheromone Sau khi bắt cặp, một rệp cái đẻ từ 50 - 100 trứng ở dưới mai sáp
Trứng màu trắng đục, thời gian ủ trứng thay đổi tùy thời tiết, trời nắng nóng
có thể khoảng 2 tuần, trời lạnh ở vùgn ôn đới có thể đến 1 hoặc 2 tháng
Ấu trùng khi nở ra thường di chuyển tìm nơi thích hợp để định cư tạo vỏ sáp mới Vòng đời vào khoảng 6-8 tuần
* Khả năng gây hại
Rệp tấn công mọi bộ phận của cây Chúng thường ở rải rác cách xa nhau, chỉ tập trung ở nơi hai trái dính chùm lại
* Biện pháp phòng trị chung đối với các loài rệp sáp hại cam quít:
- Vì rệp có lớp sáp bao phủ nên tương đối khó trị Có thể áp dụng các loại thuốc nhũ dầu làm tan lớp sáp để diệt được chúng
- Có thể phun dầu khoáng để làm ngạt thở hoặc giảm khả năng đẻ trứng của con cái
- Bảo tồn thiên địch ăn thịt hoặc ký sinh như bọ rùa, ong ký sinh
+ Rầy bông (rệp sáp giả) Planococcus citri (Risso)
Họ Pseudococcidae - Bộ cánh đều (Homoptera)
Thành trùng hình thon, dài khoảng 3 mm, màu vàng nhạt đến vàng cam với
18 đôi tua sáp 2 bên hông và 1 đôi phía sau đuôi Chất sáp chỉ bao phủ phần lưng của cơ thể Một rệp cái đẻ từ 300 - 500 trứng
Trứng màu vàng, nằm trong 1 túi do rệp cái tiết ra Trứng được đẻ trên trái,
lá hay chỗ nứt của vỏ Thời gian ủ trứng từ 3 - 6 ngày
Rệp gây hại bằng cách chích hút phần non cũa cây Phân của rệp thu hút nấm đen tơi bám quanh nơi rệp định cứ làm ảnh hưởng đến quang hợp
+ Rệp dính Unaspis citri (Comstock)
Bộ Homoptera - Họ Diaspididae
Phân bố
Trang 13Rệp dính có nguồn gốc từ châu Á nhưng hiện nay chúng xuất hiện và gây hại tại nhiều vùng trồng cây có múi trên thế giới thuộc châu Á, châu Úc, châu Phi, Trung và Nam Mỹ Tại Việt Nam rệp dính xuất hiện từ năm 1962, tuy nhiên chúng chỉ thành dịch hại phổ biến và quan trọng trong vài năm gần đây
Ký chủ
Ký chủ chính của rệp dính là các loại cây có múi như cam, quýt, bưởi, chanh,… Tuy nhiên, rệp dính còn gây hại trên nhiều loại cây trồng khác như mít, khóm, mãng cầu xiêm Tại đồng bằng sông Cửu Long rệp dính cũng xuất hiện trên dừa, ổi, xoài, thiên tuế
* Triệu chứng gây hại
Trên cây có múi, rệp dính thường xuất hiện thành từng đám màu trắng, chúng thường tấn công trên thân chính và các nhánh của cây Mật số rệp dính cao và xảy
ra trong thời gian dài làm vỏ thân cây bị khô nứt, vết nứt mở đường cho các dịch hại khác xâm nhập và gây hại cây
Sự tấn công của rệp dính làm giảm khả năng sinh trưởng, phát triển của cây Trường hợp rệp gây hại nặng trên các nhánh nhỏ hoặc cây còn nhỏ có thể làm lá vàng và rụng đi khiến nhánh hoặc cả cây bị chết Rệp dính cũng tấn công và gây hại trên lá và trái khi mật số cao, làm giảm năng suất và chất lượng trái Phân của chúng thải ra chứa nhiều dưỡng chất, nhất là đường, tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển trên thân, lá Rệp dính còn truyền bệnh virus trên cây cam quýt
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Trưởng thành đực và cái của rệp dính có hình dạng và màu sắc khác nhau Con cái có hình dạng như vỏ con trai, dài 1,5 – 2,25 mm; thân bên ngoài có màu nâu tím đến đen với viền màu xám rất giống với màu của thân cây; bên dưới lớp
“áo giáp” cơ thể rệp dinh cái có màu kem đến màu cam sáng Con đực trưởng thành có cánh, thân màu vàng sáng; có 10 râu dài, nhỏ; 04 đốm mắt màu tím đen
và không có miệng Rệp dính trưởng thành không ăn và hoạt động chính của chúng là tìm đối tượng để bắt cặp
Trứng của rệp dính có hình trái xoan, màu vàng sáng và dài khoảng 0,3 mm Trứng được đẻ rời từng trái và được che chở, bảo vệ bởi thân của con mẹ Trứng
nở sau khi đẻ khoảng 30 phút đến 3 giờ Con cái chỉ tiếp tục đẻ trở lại khi lứa trứng trước đó đã nở Một con cái có thể đẻ đến 150 trứng trong thời kỳ đẻ trứng
kéo dài từ 2 – 3 tháng
Ấu trùng từ tuổi 2, rệp dính bắt đầu phân biệt về giới tính và lớp “áo giáp” bằng sáp xuất hiện “Áo giáp” của ấu trùng đực có màu trắng như tuyết nên rệp dính còn có tên là rệp trắng tuyết hại cam quýt (citrus snow scale); trong khi lớp
Trang 14“áo giáp” của ấu trùng cái có màu xám Ấu trùng đực dài khoảng 1 mm Ấu trùng đực chích hút nhựa cây và không di chuyển, chúng chỉ di chuyển sau khi chấm dứt giai đoạn nhộng và trở thành con trưởng thành có cánh
Vòng đời của rệp dính cái có 3 giai đoạn gồm trứng, ấu trùng và thành trùng Trong khi, vòng đời con đực ngoài 3 giai đoạn kể trên còn có thêm giai đoạn tiền
nhộng và giai đoạn nhộng
+ Rệp sáp
Họ Rầy mềm (Aphididae) - Bộ Cánh đều (Homoptera)
Trên cam quít có 2 loài rầy mềm gây hại chủ yếu: Toxoptera aurantii và Toxoptera citricidus
* Phân bố
Rầy mềm được ghi nhận xuất hiện ở các quốc gia trồng cam quít trên thế giới như Ấn Độ, Đài Loan, Hàn Quốc, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Nhật, Sri - Lanka, Trung Quốc, Philippines, châu Úc
* Ký chủ
Ngoài cam quít, các loài rầy mềm còn gây hại trên cây chanh, nhưng không
quan trọng, trên mãng cầu, mít Riêng loài Toxoptera aurantii còn có thể sống trên
cây cacao, cây thuộc họ bầu ,bí, dưa
* Đặc điểm hình thái và sinh học
+ Toxoptera aurantii Boyer de Fonscolombe
Thành trùng có 2 dạng như các loài rầy mềm khác:
- Dạng có cánh: chân và râu đầu màu vàng nâu hơi nhạt, cuối mỗi đốt màu nâu Râu đầu 6 đốt, ngắn hơn cơ thể Cơ thể dài từ 1,44 - 1,80 mm Vòi chích hút kéo dài đến đốt chậu chân sau Ống bụng dài màu nâu đến nâu đỏ gần như nâu sẫm
- Dạng không cánh: cơ thể dài từ 1,70 - 1,80 mm, màu nâu đỏ Râu đầu 6 đốt
+ Toxoptera citricidus Kyrkaldy
Thành trùng có 2 dạng:
- Dạng có cánh: cơ thể từ màu nâu đỏ đến đen, nhưng ngực đậm hơn Râu đầu ngắn hơn cơ thể, màu nâu đỏ, chân và đoạn cuối của râu màu trắng, các đoạn nối các đốt râu cũng màu trắng Chiều dài cơ thể từ 1,6 - 2,1 mm, rộng từ 0,8 - 1
mm Vòi chích hút kéo dài khỏi đốt chậu chân sau, đốt cuối vòi nhọn và hẹp Các chân màu sậm, riêng đốt chày màu nhạt Bụng màu nhạt, có nhiều đốm đậm nằm
Trang 15rải rác Ống bụng dạng trụ màu đậm
- Dạng không cánh: cơ thể màu nâu đỏ, lớn hơn dạng có cánh, chiều dài từ 1,7 - 2,1 mm, rộng từ 1,1 - 1,35 mm Trên cơ thể có nhiều lông dài và nhiều đốm màu rải rác
Loài này thường đẻ con Một rầy mềm cái có thể đẻ từ 1 - 16 con trong một ngày và đẻ trên 100 con trong suốt thời gian sống là 12 - 33 ngày
Ấu trùng lột xác 4 lần trong khoảng thời gian từ 4 - 16 ngày tùy điều kiện môi trường và thức ăn Dạng có cánh phát triển khi mật số nhiều và thức ăn không còn thích hợp và dạng không cánh hình thành khi thức ăn non mềm, điều kiện thời tiết thích hợp Rầy mềm hoàn thành vòng đời khoảng 3 tuần, nếu điều kiện thích hợp có thể có 12 thế hệ trong một năm
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Cả ấu trùng và thành trùng đều gây hại cho cây bằng cách chích hút nhựa lá
và cành non làm giảm khả năng tăng trưởng của cây; lá non bị cong và biến dạng Đồng thời sự gây hại của rầy mềm cũng làm cho trái bị chín sớm và giảm phẩm chất Ngoài ra phân do rầy mềm thải ra có chứa đường sẽ thu hút nấm đen tới đóng trên thân hay lá sẽ làm giảm khả năng quang hợp của cây
Rầy mềm còn là tác nhân truyền bệnh "Tristeza" Lá bị bệnh “Tristeza" trông rất giống triệu chứng cây bị thiếu dưỡng chất và rễ cây bị suy yếu, tiếp theo là chết các cành non
* Biện pháp phòng trị
Rầy mềm có rất nhiều thiên địch Nếu thiên địch không khống chế được mật
số rầy có thể sử dụng các loại thuốc trừ sâu thông dụng để trị; tuy nhiên rầy rất dễ phát triển mật số trở lại vì khả năng sinh sản rất cao và vì vậy nên rầy mềm có thể truyền bệnh từ cây này sang cây khác một cách dễ dàng
Trang 16Ngoài cam, chanh, quít, bưởi chúng còn có thể phá hại trên ổi và một số loại cây ăn trái khác
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Rệp cái trưởng thành của loài này có cơ thể hình bầu dục khá đều đặn (gần như đối xứng hai bên), màu xanh lục hơi ngả vàng, hơi dẹp so với các loài rệp sáp khác, dài 3-4 mm Về phía đầu có hai đốm mắt đen nhỏ Chân khá phát triển, có thể nhìn thấy từ mặt trên và có thể di chuyển được
Con cái sinh sản mà không cần bắt cặp Trứng nở bên trong mai sáp mỏng
và ấu trùng tuổi 1 có chân để bò đi tìm chỗ cố định, lột xác sang tuổi 2 và sau đó thì trưởng thành Vòng đời vào khoảng 4-6 tuần lể
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Loài này có khả năng di chuyển không những ở thời kì rệp non mới nở mà
cả ở giai đoạn chuẩn bị đẻ trứng, nhưng chỉ phát tán một khoảng cách ngắn đến các cành lá gần nơi sinh sống Chúng tấn công chủ yếu là ở các chồi non, lá non hoặc trái non
Rệp thường được các loài kiến bảo vệ để ăn mật, trong đó có cả kiến vàng Tài liệu cho biết kiến ăn mật có thể làm hạn chế tỉ lệ chết của ấu trùng tuổi 1 vì nếu mật tích luỹ nhiều quá có thể lây bệnh hoặc dính chân rệp non trong khi di chuyển
+ Rệp sáp đỏ Aonidiella aurantii (Maskell)
(Diaspedidae, Homoptera)
* Phân bố và ký chủ: loài rệp này phân bố khá rộng, đã phát hiện thấy ở
châu Mỹ, châu Phi, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản Ở Việt Nam các vùng trồng cam đều thấy chúng xuất hiện Ngoài cây trong họ cam, quít, loài này còn phá hại trên đu đủ, ổi, trà
* Ký chủ: loài này chủ yếu sống trên cam quít, nhưng tại các nước ôn đới
chúng còn có thể sống trên các loại cây như táo, đào, nho và một số loài cây dại khác
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Thành trùng cái không cánh, thân tròn màu đỏ, đường kính độ 1,8-2 mm, cơ thể được phủ bằng mai sáp mỏng nhưng hoàn chỉnh và gắn chặt trên thân cây, nhánh hoặc trên các cành cây nhỏ Thành trùng đực có cánh và có thể bay đi tìm thành trùng cái để bắt cặp
Sau khi bắt cặp, con cái đẻ thẳng ra từ 100-150 con non theo tần suất 2-3 con/ngày, có chân để bò đi tìm nơi định cư Thời gian sống của thành trùng từ 6 -
Trang 178 tuần tùy điều kiện sống
Sau khi tìm được nơi thích hợp ấu trùng tuổi 1 bắt đầu chích hút và tiết ra một mai sáp nhỏ, tròn, màu trắng Sang tuổi 2 trở đi chúng có màu đỏ
Sự phát triển của phái tính có thể xác định được qua hình dạng và kích thước của mai sáp: sau tuổi 2 thì mai sáp của con đực có hình bầu dục trong khi của con cái thì hình tròn Con đực trải qua giai đoạn tiền-nhộng và nhộng trong mai sáp rồi vũ hoá thành con đực có cánh Con đực bị quyến rũ bởi con cái bằng pheromone và chết sau khi bắt cặp
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Cả thành trùng và ấu trùng đều chích hút nhựa cây hoặc cành làm cho cành
bị khô, cây nhỏ bị chết dễ dàng Rệp còn tiết phân có chứa chất đường bám quanh thân hay cành làm cản trở quang hợp, cây phát triển kém
+ Rệp sáp tím Lepidosaphes beckii (Newman)
này giống với Unasbis citri (Comstock), được gọi là rệp sáp trắng tuyết (snow
scale), nhưng lớn hơn và màu của con kia nâu đậm
Cũng như các loài rệp sáp khác, con đực có cánh và tìm đến bắt cặp với con cái nhờ pheromone Sau khi bắt cặp, một rệp cái đẻ từ 50 - 100 trứng ở dưới mai sáp
Trứng màu trắng đục, thời gian ủ trứng thay đổi tùy thời tiết, trời nắng nóng
có thể khoảng 2 tuần, trời lạnh ở vùgn ôn đới có thể đến 1 hoặc 2 tháng
Ấu trùng khi nở ra thường di chuyển tìm nơi thích hợp để định cư tạo vỏ sáp mới Vòng đời vào khoảng 6-8 tuần
* Khả năng gây hại
Rệp tấn công mọi bộ phận của cây Chúng thường ở rải rác cách xa nhau, chỉ tập trung ở nơi hai trái dính chùm lại
+ Rầy bông (rệp sáp giả) Planococcus citri (Risso)
Họ Pseudococcidae - Bộ cánh đều (Homoptera)
Thành trùng hình thon, dài khoảng 3 mm, màu vàng nhạt đến vàng cam với
Trang 1818 đôi tua sáp 2 bên hông và 1 đôi phía sau đuôi Chất sáp chỉ bao phủ phần lưng của cơ thể Một rệp cái đẻ từ 300 - 500 trứng
Trứng màu vàng, nằm trong 1 túi do rệp cái tiết ra Trứng được đẻ trên trái,
lá hay chỗ nứt của vỏ Thời gian ủ trứng từ 3 - 6 ngày
Rệp gây hại bằng cách chích hút phần non cũa cây Phân của rệp thu hút nấm đen tơi bám quanh nơi rệp định cứ làm ảnh hưởng đến quang hợp
+ Rệp dính Unaspis citri (Comstock)
Bộ Homoptera - Họ Diaspididae
* Phân bố
Rệp dính có nguồn gốc từ châu Á nhưng hiện nay chúng xuất hiện và gây hại tại nhiều vùng trồng cây có múi trên thế giới thuộc châu Á, châu Úc, châu Phi, Trung và Nam Mỹ Tại Việt Nam rệp dính xuất hiện từ năm 1962, tuy nhiên chúng chỉ thành dịch hại phổ biến và quan trọng trong vài năm gần đây
* Ký chủ
Ký chủ chính của rệp dính là các loại cây có múi như cam, quýt, bưởi, chanh,… Tuy nhiên, rệp dính còn gây hại trên nhiều loại cây trồng khác như mít, khóm, mãng cầu xiêm Tại đồng bằng sông Cửu Long rệp dính cũng xuất hiện trên dừa, ổi, xoài, thiên tuế
* Triệu chứng gây hại
Trên cây có múi, rệp dính thường xuất hiện thành từng đám màu trắng, chúng thường tấn công trên thân chính và các nhánh của cây Mật số rệp dính cao và xảy
ra trong thời gian dài làm vỏ thân cây bị khô nứt, vết nứt mở đường cho các dịch hại khác xâm nhập và gây hại cây
Sự tấn công của rệp dính làm giảm khả năng sinh trưởng, phát triển của cây Trường hợp rệp gây hại nặng trên các nhánh nhỏ hoặc cây còn nhỏ có thể làm lá vàng và rụng đi khiến nhánh hoặc cả cây bị chết Rệp dính cũng tấn công và gây hại trên lá và trái khi mật số cao, làm giảm năng suất và chất lượng trái Phân của chúng thải ra chứa nhiều dưỡng chất, nhất là đường, tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển trên thân, lá Rệp dính còn truyền bệnh virus trên cây cam quýt
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Trưởng thành đực và cái của rệp dính có hình dạng và màu sắc khác nhau Con cái có hình dạng như vỏ con trai, dài 1,5 – 2,25 mm; thân bên ngoài có màu nâu tím đến đen với viền màu xám rất giống với màu của thân cây; bên dưới lớp
“áo giáp” cơ thể rệp dinh cái có màu kem đến màu cam sáng Con đực trưởng thành có cánh, thân màu vàng sáng; có 10 râu dài, nhỏ; 04 đốm mắt màu tím đen
Trang 19và không có miệng Rệp dính trưởng thành không ăn và hoạt động chính của chúng là tìm đối tượng để bắt cặp
Trứng của rệp dính có hình trái xoan, màu vàng sáng và dài khoảng 0,3 mm Trứng được đẻ rời từng trái và được che chở, bảo vệ bởi thân của con mẹ Trứng
nở sau khi đẻ khoảng 30 phút đến 3 giờ Con cái chỉ tiếp tục đẻ trở lại khi lứa trứng trước đó đã nở Một con cái có thể đẻ đến 150 trứng trong thời kỳ đẻ trứng
kéo dài từ 2 – 3 tháng
Ấu trùng từ tuổi 2, rệp dính bắt đầu phân biệt về giới tính và lớp “áo giáp” bằng sáp xuất hiện “Áo giáp” của ấu trùng đực có màu trắng như tuyết nên rệp dính còn có tên là rệp trắng tuyết hại cam quýt (citrus snow scale); trong khi lớp
“áo giáp” của ấu trùng cái có màu xám Ấu trùng đực dài khoảng 1 mm Ấu trùng đực chích hút nhựa cây và không di chuyển, chúng chỉ di chuyển sau khi chấm dứt giai đoạn nhộng và trở thành con trưởng thành có cánh
Vòng đời của rệp dính cái có 3 giai đoạn gồm trứng, ấu trùng và thành trùng Trong khi, vòng đời con đực ngoài 3 giai đoạn kể trên còn có thêm giai đoạn tiền
nhộng và giai đoạn nhộng
g Ngài chích hút
Họ Ngài đêm (Noctuidae) - Bộ Cánh vảy (Lepidoptera)
Ở đồng bằng sông Cửu Long thường gặp các loài sau đây:
- Ophideres fullonia Clerck, còn có tên là Othreis fullonia Clerck
- Eudocima dividens Cramer, còn có tên là Eudocima salaminia Cramer
- Artena dotata Fabricius, còn có tên là Lagoptera dotata Fabricius
- Anua coronata Fabricius, còn có tên là Ophiusa coronata Fabricius
* Phân bố: các loài ngài này ghi nhận gây hại quan trọng ở hầu hết các quốc
gia trồng cam quít trên thế giới
* Ký chủ: ấu trùng chỉ ăn phá cây dại, chỉ có thành trùng tấn công trên trái
các loại cây như cam, táo, đào, nho, dứa, chuối
* Đặc điểm hình thái và sinh học
+ Loài Ophideres fullonia Clerck, còn có tên là Othreis fullonia Clerck
Ngài có chiều dài thân từ 30 - 35 mm, sải cánh rộng từ 80 - 100 mm Cánh trước màu nâu với những đốm, vệt nhiều màu, giữa cạnh sau của cánh có 1 mảng màu vàng, từ cạnh ngoài cánh có 1 đốm hình chữ C to màu đen Vòi chích hút màu đen, chóp nhọn, hóa cứng, có nhiều ngạnh gai và lông cứng dọc đến khoảng 1/3 chiều dài của vòi Đầu và ngực màu nâu Râu môi dưới màu nâu, đỉnh đốt râu
Trang 20thứ ba màu xanh lam Chân màu nâu, đốt chày chân giữa không có gai và phủ nhiều lông rất dài Một bướm cái đẻ từ 200 - 300 trứng
Trứng có dạng hình cầu, đường kính khoảng 1 mm, trong suốt Thời gian ủ trứng tùy điều kiện ngoại cảnh, có thể từ 2 - 3 ngày hoặc 8 - 10 ngày và đôi khi đến 14 hay 15 ngày
Sâu màu nâu hơi ửng đỏ, chân màu đỏ; từ đốt thứ 3 đến đốt thứ 8 trên mặt lưng màu nâu Đốt thứ 8 nổi lên cao, hai bên sườn có đốm màu vàng Sâu có 5 tuổi phát triển từ 4 - 5 tuần
Sâu thường làm nhộng trong đất hoặc trên cây bằng cách kéo các lá lại và sống bên trong Nhộng phát triển từ 10 - 15 ngày
+ Loài Eudocima lividens Fabricius còn có tên là Eudocima salaminia
Cramer
Ngài có chiều dài thân từ 30 - 35 mm, sải cánh rộng từ 75 - 85 mm Cánh trước màu nâu nhạt, có một đường cong từ đỉnh xiên vào bên trong cánh đến gốc cạnh sau tạo thành một mảng hình tam giác màu nâu tím, cạnh ngoài cánh màu nâu nhạt, phần phía trong màu trắng Cánh sau màu vàng mơ, từ cạnh ngoài trở vào chiếm 1/3 cánh là một mảng màu đen, gần giữa cánh có đốm đen hình cung
Vòi hút có cấu tạo tương tự như loài Ophideres fullonia Đầu và ngực màu nâu,
- Từ tuổi 4 đến tuổi 6: sâu có màu nâu tối, có các chấm nhỏ nằm rải rác trên thân, các chấm này dần dần rõ hơn; đến cuối tuổi 6, các chấm này có màu trắng hơi xanh, đồng thời 2 chấm trắng trên lưng lớn dần và có màu nâu đỏ vào giai
Trang 21đoạn cuối tuổi 6
Thời gian phát triển của sâu từ tuổi 1 đến tuổi 5 từ 3 - 4 ngày, riêng tuổi 6 sâu phát triển lâu hơn, khoảng 6 ngày
Nhộng màu đen, có hình dáng và màu sắc tương tư như loài trên Nhộng phát triển từ 16 - 18 ngày
+ Loài Artena dotata Fabricius
Ngài có chiều dài thân từ 30 - 37 mm, sải cánh rộng khoảng 70 mm Vòi chích hút có phần cuối không nhọn, ít cứng, dọc xuôi theo chiều dài vòi có nhiều lông cứng Toàn thân ngài có màu nâu sẫm
Cánh trước màu nâu, giữa có 1 đốm màu nâu hồng hình quả thận Cánh sau màu nâu đậm, giữa cánh có một đốm cong hình cung màu trắng hoặc xanh lơ Bụng ngài màu nâu Một ngài cái đẻ từ 40 - 45 trứng
Trứng, sâu non, nhộng có hình dáng và thời gian phát triển không khác biệt nhau nhiều so với các loài khác
+ Loài Anua coronata Fabricius
Bướm có chiều dài thân khoảng 30 - 32 mm, sải cánh rộng từ 70 - 80 mm Cánh trước màu nâu, vân hình quả thận màu đen to, cánh sau màu vàng cam, có
2 mảng đen to cong theo chiều mép cánh Vòi phát triển, đầu vòi nhọn, xung quanh
có nhiều lông cứng Đầu và ngực màu nâu Bụng màu vàng
* Cách gây hại
Các loài này gây hại nhiều trên quít tiều, quít đường, cam bắt đầu xuất hiện khoảng tháng 10 - 11 dương lịch và kéo dài đến khi thu hoạch Hiện diện phổ biến
và gây hại nặng trên quít tiều Ngài gây hại cho trái cây bằng 2 cách:
- Trực tiếp: khi đậu trên trái ngài bắt đầu dò tìm vị trí thích hợp để chọc vòi chích hút vào bên trong trái, chích hút dịch trái Nếu không tìm được vị trí thích hợp chúng rút vòi ra và tìm nơi khác thích hợp hơn Trái mới bị chích rất khó phát
Trang 22hiện, nếu thấy lỗ chích hút dùng tay bóp nhẹ sẽ có nước chảy ra
- Gián tiếp: vỏ trái chung quanh vết chích sau một vài ngày trở nên mềm và nấm bệnh cũng như vi trùng sẽ xâm nhập tiếp theo Vết chích hút sẽ có màu nâu
và vùng chung quanh sẽ có màu nhạt hơn bình thường Sau cùng trái sẽ vàng và rụng ngay hoặc trong vòng một tuần Trái rụng sẽ có mùi hôi thúi, ngài không thích ăn trên đó nhưng rất thu hút ngài từ xa đến
* Các yếu tố ảnh hưởng đến mật số
- Ngài thích những trái cây to, mỏng vỏ, mọng nước và ngọt
- Riêng đối với quít thì ngài thích nhất giống quít Tiều
- Trong cùng một vườn cây thì ngài thích những hàng cây phía ngoài hơn là
những hàng phía trong
h) Bọ trĩ Scirtothrips citri Moulton
Họ Thripidae - Bộ Thysanoptera
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Thành trùng màu vàng cam, nhỏ, khảng 0,1 mm Một thành trùng cái đẻ khoảng 25 trứng trong lá và trái non
Ấu trùng không cánh, màu hổ phách nhạt, bụng nở to 2 bên, trên thân có nhiểu lông nhỏ rất mịn Ấu trùng tuổi 1 rất nhỏ, tuổi 2 có kích thước cơ thể tương
tự thành trùng, bắt đầu có râu đầu Cuối tuổi 2 một số buông mình xuống đất làm nhộng, một số khác làm nhộng trong các lá cuốn lại; sang tuổi 3 và 4 (giai đoạn tiền nhộng và nhộng bắt đầu có mầm cánh), giai đoạn này hoàn toàn không ăn
* Tập quán sinh hoạt và cách gây hại
Thành trùng và ấu trùng bù lạch ẩn trong lá đài chích hút nhựa từ mô biểu bì phần vỏ trái gần cuống trái, khi trái phát triển có những mảng màu nâu nhạt có dạng vòng tròn chung quanh cuống trái Điểm đặc trưng của vết sẹo do bù lạch gây ra trên trái là những vòng sẹo chung quanh cuống trái, về sau vết sẹo có màu xám hay bạc Trái dễ bị sẹo nhất trong thời gian từ sau khi cánh hoa rụng đến khi trái có đường kính khoảng 4 cm Vết sẹo làm giảm giá trị thương phẩm của trái
Bù lạch chỉ tập trung xuất hiện cao nhất khi cam quít trổ hoa rộ Tuổi 2 gây hại nhiều nhất vì chủ yếu chúng tập trung dưới lá đài của trái non và cơ thể to hơn tuổi 1 Bù lạch gây hại chủ yếu các trái ở ngoài trảng
Trên lá non, Bù lạch chích hút gây ra hiện tượng phiến lá gần gân chính có
sọc dày ở cả 2 mặt lá; thường lá bị cong queo khi phát triển
1.2 Thành phần côn trùng hại quan trọng trên cây xoài
Trang 23a Bọ cắt lá Deporaus marginatus Pascoe
Họ Vòi voi (Curculionidae) - Bộ Cánh cứng (Coleoptera)
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Thành trùng là loài cánh cứng, chiều dài thân từ 5 - 8 mm, mỏ dài gần bằng nửa thân mình Đầu, ngực và bụng màu đỏ, râu đầu, cánh và chân màu nâu Một thành trùng cái đẻ từ 70 - 200 trứng
Trứng được đẻ vào phần thịt của mặt trên của gân chính, tính từ chóp lá trứng nằm ở khoảng 0,5 cm Trứng có chiều dài khoảng 0,5 mm, thời gian ủ trứng từ 2 đến 3 ngày
Ấu trùng có 3 tuổi, phát triển từ 6 - 10 ngày
Nhộng được hình thành trong đất và phát triển từ 10 - 15 ngày
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Đẻ trứng xong thành trùng cắt đứt lá, vết cắt có chiều dài từ 5 - 10 cm tính
từ chân cuống và rất sắc, trông giống như lá được cắt bằng dao hay kéo Phần lá
bị cắt rời ra sẽ rơi xuống đất Ấu trùng nở ra sẽ sống ngay trên phần lá rơi xuống đất, khi lớn đủ sức chui xuống đất làm nhộng
Thành trùng vũ hóa khi xoài vừa có lá non và gây hại cây xoài bằng 2 cách:
- Ăn phá lá non làm cây bị mất sức
- Cây bị mất lá, đỉnh sinh trưởng bị kích thích, cây đâm nhiều chồi non, ảnh
hưởng đến sự ra trái
b Rầy bông xoài Idiocerus niveosparsus Lethierry
Họ Rầy xanh (Cicadellidae) - Bộ Cánh đều (Homoptera)
Trên cây xoài thường có nhiều loài rầy gây hại bông Ở Việt Nam chủ yếu
gặp loài Idiocerus niveosparsus Lethierry
* Phân bố và ký chủ
Rầy xuất hiện nhiều ở Ấn Độ, Malaysia, Philippines Loài này chỉ gây hại duy nhất trên cây xoài
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Thành trùng của loài Idiocerus niveosparsus Lethierry có thân dài khoảng 4
mm, cánh màu nâu, trên cánh phần giáp với ngực có một băng trắng chạy ngang Trứng màu trắng trong khi mới đẻ, sắp nở chuyển sang màu vàng Thời gian
ủ trứng từ 4 - 7 ngày
Ấu trùng khi mới nở có màu trắng sữa, có 5 tuổi với thời gian phát triển từ 8
Trang 24đến 10 ngày
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Thành trùng mới vũ hóa rất linh động và liền sau đó di chuyển tới chồi, lá non, bắt đầu đẻ trứng, ngay cả trên chồi non còn cuốn lại, hoặc trên gân chính của
lá, chúng còn đẻ trứng trên từng hoa nhỏ hay trên cành nhỏ Cả thành trùng và ấu trùng đều sống trong lá xoài và nhảy xào xạc khi bị động đến Khi xoài trổ bông thì rầy tập trung chích hút trên bông, chồi non Rầy cái dùng bộ phận đẻ trừng nhọn ở cuối bụng đẻ trứng rải rác vào bên trong cuống của chồi non Rầy đẻ trứng
và chích hút nhiều gây ra hai hiện tượng như sau:
- Số lượng trứng đẻ nhiều trên các bộ phận trên cành non, bông gây vết thương làm cho các phần trên bị khô, héo và có thể rụng
- Sự tập trung chích hút của thành trùng và ấu trùng làm cây bị suy yếu Rầy còn tiết ra chất đường thu hút nấm đen tới đóng quanh nơi rầy bám hoặc các tầng
lá phía dưới làm cản trở quang hợp của cây
Nếu mật độ rầy cao thì xoài sẽ không đậu bông và rụng trái
c) Xén tóc đục thân Batocera rufomaculata De Geer
Tên khoa học: Plocaederus ruficornis (Newman)
Họ Xén tóc (Cerambycidae) - Bộ Cánh cứng (Coleoptera)
* Phân bố và ký chủ
Loài này ghi nhận là gây hại trên cây xoài tại các quốc gia vùng nhiệt đới như Ấn Độ, Sri Lanka, Thái Lan, Philíppin, đảo Bornéo thuộc Indonesia
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Xén tóc có thân màu nâu đen, dài từ 2,5 - 4 cm Râu rất dài, màu đỏ, bằng hoặc hơn thân mình (con đực); sáu chân cũng màu đỏ với đốm nâu đậm ở cuối đùi và cẳng chân Trên cánh cứng có những đốm gồ màu đen hoặc nâu Ngực trước có u nhỏ trông gồ ghề, mỗi bên có một gai đưa ra giống như hai cái sừng Thành trùng có thể sống nhiều tháng, ăn mật và phấn hoa hoặc các phần non của đọt cây
Trứng tròn, màu trắng được đẻ rải rác trong các vết nứt của vỏ cây Trứng nở trong thời gian từ 2 - 3 ngày
Ấu trùng có thân màu vàng nhạt, đầu rất nhỏ và hay rút xuống phía dưới, chân thoái hoá còn rất nhỏ, có đời sống rất lâu, có thể đến 7- 8 tháng ngay bên trong thân cây, do đó khả năng phá hại rất cao Mới nở ấu trùng rất mềm yếu nhưng khoảng 1 tuần là trở nên cứng bình thường và rất linh động
Trang 25Trước khi làm nhộng ấu trùng đục một lỗ để sau thành trùng chui ra Thời gian nhộng có thể từ 1 đến 2 hay 3 tháng
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Thành trùng thường bị thu hút bởi ánh sáng đèn vào đầu mùa mưa sau khi vừa trưởng thành Thành trùng cái đẻ trứng trong các cháng ba của cây, trong các vết nứt hay vết thương ở trên thân cây Ấu trùng sau khi nở ăn vỏ cây thành những đường ngoằn ngoèo không đều nhau Càng lớn ấu trùng ăn càng nhiều và gây ra tiếng động rất dễ nghe thấy Sau đó chúng đục vào thân do các vết bệnh trên thân
và đục dần lên Đôi khi không có điểm thích hợp để đục vào, ấu trùng di chuyển dần xuống phía dưới gốc và đục chui vào bên trong làm thành những đường hầm ngoằn ngoèo bên trong thân, các đường này chứa phân do chúng thải ra Nấm mốc
sẽ theo các vết đục này xâm nhập tiếp theo sau Đường đục có thể dọc theo bên ngoài thân cây hay đi thẳng vào trung tâm, và đường đục càng lớn dần với tuổi của ấu trùng Cây bị tấn công vào giai đoạn nhỏ sẽ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng rất nhiều, mạch dẫn nhựa tắt nghẽn làm cho cành bị khô héo và rụng lá, các lổ do
ấu trùng đục vào bị chảy nhựa và cành dễ gãy
d Sâu đục cành Chlumetia transversa Walker
Tên khoa học: Chlumetia transversa Walker
Họ Gelechidae - Bộ Cánh vảy (Lepidoptrea)
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Thành trùng là một loài ngài màu nâu nhỏ, thân có chiều dài từ 8 - 10 mm Cánh sải rộng từ 17 - 20 mm Cánh trước màu bạc óng ánh, phần giáp với thân màu hơi sậm, cạnh ngoài có những sọc ngang gãy khúc rất nhỏ và 1 hàng chấm đen ở sát bìa cánh Cánh sau màu nhạt hơn
Trứng được đẻ thành rải rác trên lá và chồi non và nở trong vòng từ 2 - 3 ngày Ấu trùng màu hồng, dài từ 2 - 3 mm khi lớn đủ sức, phát triển trong thời gian từ 8 - 15 ngày Nhộng màu nâu, phát triển trong thời gian từ 8 - 12 ngày
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Ngài bị thu hút nhiều bởi ánh sáng đèn, nhất là trong những đêm trời tối và không có gió với ẩm độ khoảng 90% Ngài đẻ trứng vào ban đêm, rải rác trên các chồi và lá non
Khi vừa nở, sâu đục vào gân chính của lá non mềm nhất; khoảng 2 ngày sau,
cơ thể to hơn, sâu chui dần vào chồi ngọn gần đỉnh sinh trưởng Sâu thường sâu chỉ ăn trong 1 lóng, nhưng nếu lóng có chiều dài ngắn hơn 5 cm, sâu có thể đục xuyên qua mắt để sang lóng kế Thường sâu chỉ ăn từ trên xuống Lá các chồi bị
Trang 26hại thường héo và rụng Chồi non bị hại sẽ héo, không cho hoa Nếu sâu tấn công trên hoa sẽ là rụng bông Sâu làm nhộng trên vỏ cây, trên hoa khô, trong kẻ nứt
của vỏ cây hay trong đất
e Sâu đục trái Deanolis albizonalis (Hampson)
Tên khoa học: Noorda albizonalis (Hampson)
Tên khác: Deanolis albizonalis Hampson
Họ Ngài sáng (Pyralidae) - Bộ Cánh vảy (Lepidoptera)
Đây là loài gây hại nhiều cho cây xoài trong thời gian gần đây Tại các tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ, đây là đối tượng sâu hại rất quan trọng Sâu hiện diện trên hầu hết các vườn xoài và gây hại năng suất ngày càng một trầm trọng hơn Trên thế giới, sâu cũng đang gây hại trầm trọng cho xoài ở Thái Lan, Indonesia, Philippines Chưa tìm thấy cây ký chủ nào khác ngàoi cây xoài
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Ngài có chiều rộng sải cánh từ 27- 28 mm, thân màu nâu Cánh trước màu nâu, cánh sau màu xám trắng
Trứng có hình bầu dục, lúc mới nở có màu trắng ngà, dần dần chuyển sang màu hồng vă khi sắp nở vỏ trứng có màu đậm hơn Đường kính trứng khoảng 0,2- 0,3 mm, rất khó phát hiện trong điều kiện ngoài đồng
Ấu trùng lúc mới nở có kích thước 0,5-0,6 mm, màu trắng, có các sọc ngang màu đỏ rất nhỏ trên lưng, sau đó các sọc này lớn dần lên theo sự phát triển của sâu Ở tuổi 2, các sọc rõ dần lên, sâu đạt chiều dài khoảng 0,7-0,8 mm Chuyển sang tuổi 3, sâu có chiều dài 1-1,2 cm Qua tuổi 4, chiều dài cở 1,3 - 1,5 cm, đến tuổi 5 sâu lớn khoảng 1,8-2,2 cm, các sọc màu đỏ trên lưng trở nên đậm và khi chuẩn bị làm nhộng thì mặt dưới bụng chuyển sang màu trắng xanh
Nhộng có kích thước từ 11 - 12 mm, lúc đầu màu vàng nhạt, sau chuyển dần thành màu vàng nâu, thời gian nhộng từ 14 - 16 ngày
Thành trùng có kích thước trung bình, chiều ngang sải cánh rộng 22 - 24
mm, chiều dài thân mình khoảng 11- 12 mm Mặt trên cánh có màu nâu đậm, mép sau của cánh có vân nâu lợt hình gãy khúc, mặt dưới màu xám tro với viền sậm màu ở mép cánh Bụng của thành trùng ở mặt trên có viền trắng đỏ xen kẻ, cuối bụng của con đực bằng hơn thành trùng cái và đốt chày của chân giữa phình to và
có mang một chùm lông màu nâu đen dễ phân biệt với con cái
Thời gian sinh trưởng của sâu đục trái xoài kéo dài từ 38 đến 43 ngày: giai đoạn trứng 4 – 5 ngày (trung bình 4,22 ngày), giai đoạn ấu trùng có 5 tuổi với 4
Trang 27lần lột xác kéo dài từ 14 – 16 ngày (trung bình 14,85 ngày), giai đoạn nhộng từ 11 – 17 ngày (trung bình 14,47 ngày), giai đoạn thành trùng 6 –7 ngày ( trung bình 6,71 ngày )
Sâu thường gây hại nặng trong mùa xoài chính vụ, mùa xoài sớm ít bị gây hại hơn
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Ngài hoạt động và đẻ trứng vào ban đêm, thường đẻ trứng trên cuông trái, khuất trong phần khô còn sót lại của đài và tràng hoa, rất khó phát hiện
Sâu bắt đầu gây hại khi trái bằng khoảng 2 - 3 cm đến khi trái sắp thu hoạch Sâu non nở ra bò xuống đáy trái để đục vào bên trong trái Mủ trái chảy ra bao bọc ấu trùng ở bên trong và từ đó sâu đục dần vào bên trong trái Sâu bắt đầu tấn công vào phần thịt trái và sau cùng vào ăn hạt Có thể có rất nhiều sâu tấn công trên một trái, khi ăn hết phần hột sâu sẽ bò sang trái lân cận để gây hại tiếp Khi
đủ lớn sâu nhả tơ để đu xuống đất và làm nhộng trong đất Thời gian là nhộng khá
lâu, độ 2 tuần lể
f Ruồi đục trái Dacus dorsalis Hendel
Tên khoa học: Dacus dorsalis Hendel
Còn có tên là: Bactrocera dorsalis Hendel
Họ Ruồi trái cây (Trypetidae) - Bộ Hai Cánh (Diptera)
* Phân bố và ký chủ
Loài này chủ yếu hiện diện ở các quốc gia trồng cây ăn trái vùng Đông Nam
Á, trong đó có Việt Nam Ngoài cam, chanh, quít, chúng còn tấn công trên xoài,
ổi, mít, nhãn
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Ruồi có cơ thể dài từ 6 - 9 mm, sải cánh rộng khoảng 13 mm Đầu màu vàng,
có dạng hình bán cầu, mặt trước màu nâu đỏ với 6 chấm nhỏ màu đen, phía sau đầu có nhiều lông nhỏ Râu đầu tương đối ngắn, có 33 đốt, 2 đốt đầu nhỏ và ngắn, đốt cuối dài và to, trên đốt này có một lông nhọn Ngực màu nâu đỏ hoặc màu nâu tối Hai bên ngực có 2 đốm màu vàng ở góc phía trước, kế đến là 2 vệt vàng dài đến cuối ngực, phần ngực giáp với bụng có một vệt màu vàng to Bụng có 2 sọc ngang màu vàng, sọc phía trên nhỏ hơn sọc phía dưới; giữa hai sọc này là một sọc màu đen; đồng thời cũng có một sọc dọc chạy từ sọc vàng cuối cùng đến cuối bụng giống như hình chữ T Cánh trong có màu khói, gần cạnh trước có màu đậm hơn Bàn chân có 5 đốt, đốt cuối cùng có hai móng và một miếng đệm rất to Ở
3 đôi chân thì đốt đùi màu đỏ, còn đốt chày và bàn chân màu vàng
Trang 28Có thể phân biệt ruồi cái với ruồi đực một cách dễ dàng nhờ ruồi cái có cơ thể to hơn và có bộ phận đẻ trứng dài Sau khi vũ hóa từ 7 - 15 ngày, ruồi bắt đầu
đẻ trứng Ruồi sống khoảng từ 20 - 40 ngày, trong thời gian đó một ruồi cái có thể
đẻ khoảng 150 - 200 trứng, trung bình 50 trứng trong vòng 30 ngày
Trứng ruồi có hình hạt gạo, dài khoảng 1 mm; lúc mới đẻ màu trắng sữa, khi sắp nở chuyển sang màu vàng nhạt Thời gian ủ trứng từ 2 - 4 ngày
Dòi mới nở dài khoảng 1,5 mm, lớn đủ sức dài từ 6 - 8 mm, màu vàng nhạt Giai đoạn dòi kéo dài từ 10 - 18 ngày
Vỏ nhộng là kén giả, có hình trứng dài, lúc đầu có màu vàng nâu, khi sắp vũ hóa chuyển sang màu nâu đỏ Nhộng dài khoảng 5 - 7 mm, thời gian nhộng kéo dài từ 7 - 12 ngày
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Ruồi cái dùng ống đẻ trứng chọc thủng vỏ trái cây và đẻ trứng vào chỗ tiếp giáp giữa vỏ và thịt, trứng được đẻ thành từng chùm trong một lỗ khoét trên trái Dòi non nở ra đục ăn thịt trái cây, tuổi càng lớn dòi càng đục sâu vào phía trong trái làm trái bị thúi và hư Ngay sau khi dòi nở ra, tại miệng lỗ chọc ở vỏ trái bắt đầu ứa nước Triệu chứng này càng về sau càng rõ rệt Lúc này mép của miệng lỗ chọc hơi nhô cao, tiếp đến là phần vỏ chung quanh lổ bị thúi Khi lớn đủ sức, nếu trái rụng dòi sẽ di chuyển xuống đất làm nhộng, nếu trái không rụng dòi cũng búng mình cho rơi xuống đất để hóa nhộng Dòi làm nhộng dưới đất sâu khoảng
3 - 7 cm
1.3 Thành phần côn trùng hại quan trọng trên cây nhãn
a Sâu đục cuống trái Conopomorpha lichiella
Họ Gracillariidae, Bộ Lepidoptera
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Ngài có chiều dài thân khoảng mm, sải cánh rộng từ 10 - 12 mm
Sâu có hình dạng rất giống sâu đục gân lá nhãn nhưng có kích thước lớn hơn, dài từ 5 - 7 mm, mình sâu có màu trắng và có đặc điểm khác với sâu đục gân lá nhãn là chiều dài tất cả đốt bụng đều bằng nhau
Nhộng dài khoảng 1 cm, lúc đầu có màu vàng nhạt, chuyển dần thành màu nâu khi sắp vũ hoá, thời gian nhộng từ 7 - 9 ngày
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Sâu thường đục vào trái nhãn, nơi gần cuống trái tấn công ăn chung quanh cuống trái Sâu thường tấn công và làm rụng trái rất nặng ở giai đoạn trái lớn và
Trang 29trái bị thiệt hại nhiều nhất ở giai đoạn gần thu hoạch Khi đến tuổi trưởng thành sâu thường đục một lỗ nhỏ gần cuống trái bò lên các lá gần chùm trái kéo lớp
màng mỏng màu trắng hóa nhộng trong đó
b Nhóm sâu ăn bông
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Loài 1: Thalassodes falsaria
Họ Sâu đo (Geometridae) - Bộ Cánh vảy (Lepidoptera)
Ngài có cánh rộng khoảng 2,5 cm, thân mình và cánh có màu xanh, cạnh ngoài của cánh trước và cánh sau có đường viền nhỏ màu nâu
Ấu trùng là dạng sâu đo màu xanh hơi vàng (màu rất giống màu bông nhãn), chiều dài cơ thể từ 25 - 30 mm, trên mình có những chấm nhỏ màu vàng nâu Nhộng màu xanh nhạt, sau chuyển thành màu vàng nâu khi sắp vũ hóa, dài khoảng 16 mm Nhộng phát triển trong thời gian từ 6 - 8 ngày
Loài 2: Comibaena sp
Họ Sâu đo (Geometridae) - Bộ Cánh vảy (Lepidoptera)
Ngài có chiều rộng sải cánh khoảng 18 mm Thân mình có màu xanh, cánh trước và cánh sau có 1 đường viền lớn màu vàng nâu Ở góc sau của cánh trước
và góc trước của cánh sau có một vệt lớn màu nâu
Sâu có chiều dài cơ thể khoảng 15 mm, mình sâu có màu vàng nâu
Nhộng màu vàng nâu và chuyển dần sang đen khi gần vũ hóa, sâu kết dính các bông nhãn khô lại và hóa nhộng trong đó
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Loài Thalassodes falsaria có tập quán nằm sát các nhánh hoa khi bị động
nên rất khó phát hiện Sâu thường tấn công và ăn trụi các nhánh hoa Có thể có rất nhiều sâu trên một nhánh hoa Loài này có thể tấn công từ khi hoa bắt đầu nhú ra đến khi đậu trái
Loài Comibaena sp thường tấn công và ăn các nụ hoa khi chưa nở nhụy và kết dính các bông nhãn khô che kín mình nên rất khó phát hiện
c Sâu đục trái Conogethes punctiferalis Guenée
Họ Pyralidae - Bộ Cánh vảy (Lepidoptera)
*Ký chủ
Đây là loài đa ký chủ, ngoài cây nhãn, sâu còn gây hại trên sầu riêng, ổi, mít
và một số loại cây ăn trái khác
Trang 30* Đặc điểm hình thái và sinh học
Ngài có chiều rộng sải cánh từ 2,5 -3 cm, cánh màu vàng, có nhiều chấm nhỏ màu đen
Sâu màu trắng hơi ửng hồng, trên lưng có nhiều chấm nhỏ màu đen, sâu lớn
đủ sức dài từ 1,7 - 2 cm
Nhộng lúc đầu có màu vàng hơi nâu, dần dần chuyển sang nâu đen khi sắp
vũ hóa Kích thước nhộng từ 1,2 - 1,4 cm và phát triển trong thời gian từ 8 - 12 ngày
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Thành trùng hoạt động chủ yếu vào ban đêm, thường đẻ trứng ở các lá đài của chóp trái hoặc nơi dính giữa trái và lá
Đối với cây nhãn: sâu thường tấn công vào trái khi trái mới tượng và chỉ thích trái còn non Sâu thường đục vào bên trong trái ăn cả phần hạt Khi còn ở bên ngoài sâu thường nhả tơ kết dính các trái non lại Giai đoạn trái lớn sâu đục làm trái bị hư, kém phẩm chất Sâu hóa nhộng bằng cách kết tơ gần cuống trái hoặc bên trong phần hạt đã bị đục
Đối với cây ổi: ngài đẻ trứng vào phần chóp trái, nơi còn dính các lá đài Sâu thích tấn công những chồi nhiều trái và các trái còn cánh đài ở chóp trái Sâu nở
ra thường ẩn ở phần cuối của trái, sau đó tấn công vào phần thịt trái Sâu có thể đục trái từ khi trái còn nhỏ đến lúc gần thu hoạch, nhưng gây hại nhiều nhất vào lúc trái có đường kính từ 1 - 2 cm Trái non bị sâu đục thường bị biến dạng, khô
và rụng, trái lớn bị sâu đục có thể bị thối do nấm tấn công tiếp theo làm thối trái Sâu thường hóa nhộng ngay trên cành, lá gần trái nơi sâu tấn công, nhộng nằm
bên trong kén tơ màu vàng nâu
d Rệp sáp phấn Ferrisia virgata Cockerell
Họ Pseudococcidae - Bộ Homoptera
Phân bố: phân bố rộng tại các vùng nhiệt đới
Ký chủ: là loài có phổ ký chủ rộng nhất trong họ rệp sáp Pseudococcidae bao gồm nhiều loài thực vật thuộc 150 giống và 68 họ Tại Việt Nam, hầu hết các loại cây ăn trái và hoa kiểng đều bị nhiễm loài này
Trang 31* Sự gây hại: gây hại trên trái non, chồi và cành non của cây nhãn
2 Biện pháp quản lý côn trùng hại trên cây ăn trái
Sử dụng biện pháp tổng hợp để quản lý dịch hại cây ăn quả trên cơ sở sinh thái học sẽ làm tăng năng suất, cải thiện phẩm chất, bảo vệ sinh thái, giảm độc hại
do sử dụng thuốc quá đáng và giảm chi phí đầu tư Quản lý dịch hại tổng hợp bằng cách tăng cường biện pháp sinh học và các biện pháp kỹ thuật chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật khi thật cần thiết, sử dụng đúng và có hiệu quả, an toàn cho người tiêu dùng, không làm hại quá đáng thiên địch, hạn chế sự kháng thuốc của các loài sâu bệnh
a Biện pháp sinh học: Nhằm giúp các thiên địch (côn trùng có ích) phát
triển, chúng sẽ tấn công sâu hại Đây là một giải pháp rất hữu ích nhằm tạo sự cân bằng trong thiên nhiên Rất nhiều loài thiên địch đã bị huỷ hoại do thiếu hiểu biết Chim, tắc kè, rắn mối, ếch, nhái ăn nhiều loại côn trùng Kiến vàng kiểm soát khá hiệu quả bọ xít xanh trên cây họ cam quýt Nhiều vườn cây nuôi kiến vàng đã hạn chế nhiều sâu bệnh hại
Một số côn trùng, nấm, virus ký sinh làm chết sâu hại Riêng côn trùng
có ích, đại lược có thể chia thành 2 nhóm :
- Nhóm ăn thịt : chuồn chuồn, bọ ngựa, kiến vàng, bọ rùa, nhện, dòi ăn rệp,
- Nhóm ký sinh : trưởng thành đẻ trứng vào cơ thể sâu hại, ấu trùng nở ra dùng ngay cơ thể của ký chủ làm thức ăn (thí dụ các loài ong ký sinh) Để giúp các thiên địch phát triển, nên hạn chế việc sử dụng các thuốc trừ sâu có phổ rộng Nên xen canh, giữ một số loài cỏ vì chúng cung cấp phấn hoa làm thức ăn, sinh sôi cho côn trùng có ích
ta rất sợ nhóm bệnh virus, một trong những bệnh đó là bệnh Tristeza đã tàn phá hàng chục triệu cây cam quýt ở châu Mỹ Gốc ghép có tầm quan trọng như vậy nên việc chọn gốc ghép thích hợp cho cây lâu năm là một việc tối quan trọng Tại Nam bộ, nhiều nhà vườn cho là những cây hoang dại hay bán hoang dại thường
Trang 32có đặc tính chống chịu sâu bệnh tốt nên thường chọn những cây này làm gốc ghép, nhưng cũng cần lưu ý thêm sự tương dung giữa các thành phần của cây ghép, khả năng cho năng suất và phẩm chất quả sau này
+ Chọn cành ghép: Cây mẹ, nhất là cây họ cam quýt cần được trắc nghiệm (test) để xem có mang mầm bệnh virus hay không Sử dụng cây chỉ thị bệnh để phát hiện sớm Như chanh Mexique dể giúp kiểm tra Tristeza; Citron 684-S1 để kiểm tra exocortis sớm Đối với các loài cây không bị các bệnh nguy hiểm như cây họ cam quýt, cành ghép hay cành chiết cũng phải được lựa chọn từ những cây khoẻ mạnh (đã được indexing) và lấy từ các vườn tốt Lấy ở vị trí ngoài tán + Chọn phương pháp nhân giống
- Mỗi loài cây có nhiều kiểu nhân giống, hãy chọn kiểu nhân giống thuận lợi nhất
- Một số loài cây có hiện tượng đa phôi và nhờ đặc tính một số bệnh không truyền qua hạt nên người ta dùng phôi tâm để nhân giống hầu tránh một số bệnh virus
- Nuôi cấy mô các đỉnh chồi mầm nhằm tránh bệnh virus và một số bênh khác
- Tránh nhiễm bệnh khi ghép : khử trùng dao ghép và các dụng cụ ghép.- Môi trường nhân giống : đất, vật liệu cho vào bầu đất như phân chuồng, xơ dừa, hay những vật liệu làm nền trong kỹ thuật giâm cành cần xem xét vì có những trường hợp cây con bị nhiễm, nhất là Rhizoctonia sp., Phythoptora spp., tuyến trùng, Sự khử đất, sự bón vôi sẽ làm bớt nguy cơ bị nhiễm bệnh
- Các dụng cụ như dao, kéo, cần phải được sát trùng, rửa sạch trước và sau khi sử dụng nhằm tránh lây lan bệnh như trường hợp bệnh virus Psorosis, Exocortis,
- Thao tác ghép, chiết cần nhanh, gọn, chỗ chiết, ghép tránh để bị úng, nấm bệnh sẽ xâm nhập gây bệnh sau này
- Chăm sóc cây chiết, ghép : nhiều trường hợp cây đã bị nhiễm bệnh ngay trong vườn ươm nhưng chưa bộc lộ ra ngoài Ngay cả những cây nhân giống bằng chồi như thơm đã bị rệp sáp truyền virus gây bệnh wilt nhưng bệnh chỉ lộ sau từ
2 tuần đến 6 tháng tuỳ theo giống Chồi thơm sau khi nhân, nên bó lại từng 10 con một, để gốc lên trên, ngọn xuống dưới cho khô gốc, sự ẩm ướt dễ làm bệnh thối lõi và bệnh thối mềm phát triển nhanh Những cây như chuối khi bứng cây non không nên để dưới tán cây bệnh, bệnh Sigatoka truyền do nước mưa hoặc sương rất có thể bào tử từ lá câylớn bị nước mưa kéo xuống lá cây con
c Biện pháp canh tác
Trang 33+ Khử giống trước khi trồng
+ Cải thiện môi trường nơi trồng
- Tránh để vườn bị úng, hạn cây sinh trưởng yếu sẽ dễ bị nhiễm bệnh
- Tránh để vườn ẩm quá nấm bệnh sẽ phát triển nhanh Tránh trồng dày đặc, cây xen quá nhiều nó sẽ tạo độ ẩm cao làm nấm phát triển mạnh
- Hãy chú trọng bón tro, vôi, nhất là trên các đất có pH thấp, để nâng cao
+ Tỉa thoáng tán
Cần tạo tán thoáng để ánh sáng có thể lọt vào bên trong tán Công việc tạo tán cần làm ngay từ đầu và theo dõi sửa cành hàng năm ở các vườn thiếu ánh sáng không những bệnh phát triển như bệnh đốm rong mà nhiều loại sâu đục cành phát triển vì trưởng thành ưa chỗ râm mát để đẻ trứng
+ Xen canh
Xen canh hợp lý là một giải pháp lấy ngắn nuôi dài, hoặc ngay cả khi xen canh giữa các cây ăn quả với nhau sẽ giúp phân tán ký chủ như bọ xít cam sẽ bị phân tán trong các vườn cam xen lẫn nhãn Rệp sáp bị phân tán trong các vườn xoài xen lẫn mãng cầu ta, sâu vẽ bùa phát triển ít khi xen bưởi với nhãn, Một
số nông dân có sáng kiến trồng những cây xua đuổi côn trùng, chẳng hạn dây thuốc cá trồng dưới gốc xoài,
+ Bón phân cân đối, đầy đủ
Bón phân cân đối và đầy đủ sẽ giúp cây trồng khoẻ mạnh, tăng cường sức chống chịu của cây đối với sâu bệnh và các khắc nghiệt khác cả môi trường Bón phân đúng lúc sẽ giúp sự ra chồi, ra quả tập trung hơn như vậy việc phòng trừ sâu bệnh sẽ dễ hơn
Trang 34+ Vệ sinh vườn
Thu dọn các tàn dư thực vật, các quả rụng, cắt bỏ các cành, lá sâu bệnh rồi tuỳ từng loại sâu bệnh mà huỷ đi Công tác vệ sinh thực vật sẽ làm giảm nguồn
lây lan
CÂU HỎI GỢI Ý
1 Khi cây xoài bắt đầu trổ bông thì nên có kỹ thuật canh tác nào để chăm sóc cây xoài nhằm bảo vệ hoa và trái non khỏi bị côn trùng gây hại
2 Khi xoài non mới trồng trong vòng 1-3 năm đầu thì nên chú ý để phòng trị loài sâu hại nào giúp cây mau phát triển và có trái tốt
Trang 35CHƯƠNG 5 CÔN TRÙNG HẠI CÂY RAU MÀU Giới thiệu:
Nội dung của chương tập trung về thành phần, triệu chứng gây hại, đặc điểm hình thái và biện pháp phòng trừ một số loài sâu hại chủ yếu trên cây họ đậu, cây
+ Trình bày các điều kiện ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển và tập tính gây hại của các loài quan trọng trên cây rau màu
Kỹ năng:
+ Nhận diện được đặc điểm hình thái và triệu chứng gây hại của các loài gây hại trên cây họ đậu, rau cải và bầu bí dưa
+ Điều tra mật số sâu hại ngoài đồng
+ Tổng hợp, phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp phù hợp để kiểm soát
sự gây hại của côn trùng trên cây họ đậu, rau cải và bầu bí dưa
Năng lực tự chủ và trách nhiệm: có tinh thần tự học, có phương pháp làm việc khoa học sáng tạo
1 Đặc điểm hình thái và cách gây hại
1.1 Thành phần côn trùng hại quan trọng trên cây họ đậu
a Dòi đục thân Ophiomyia phaseoli Tryon
Có hai loài dòi đục thân đậu phổ biến thuộc họ Agromyzidae, bộ Diptera:
- Melanagromyza sojae (Zehntner)
- Ophiomyza phaseoli (Tryon)
* Phân bố và ký chủ
M sojae được tìm thấy ở Ấn Độ, Indonesia, Nhật, Australia và hiện diện trên nhiều loại cây ký chủ như Glycine max, Cajanus indicus, Indigofera suffruticosa, Phaseolus calcaratus, trong đó loài Glycine soja bị hại từ 70-100%
O phaseoli phân bố trên một vùng rộng lớn ở cả châu Á , châu Uc và châu
Âu, gồm Hawaii, Nhật, Ai Cập, Israel Ruồi xuất hiện trên hầu hết các giống đậu
Trang 36như Phaseolus calcaratus, P vulgaris, P lanatus
Ở Việt Nam, cả hai loài ruồi trên đều xuất hiện trên các loại đậu nhưng loài
M sojae gây hại phổ biến trên cây đậu nành, còn O phaseoli tấn công hầu hết các
loại đậu khác
* Đặc tính sinh học và sinh thái
- Melanagromyza sojae (Zehntner)
Thành trùng là loại ruồi nhỏ, dài từ 1,6 đến 2,0 mm, bụng màu đen bóng hơi ngả xanh, mắt màu đỏ, phần trán giữa hai mắt kép không nhô lên cao Thành trùng cái có bộ phận đẻ trứng hình lưỡi dao ở cuối bụng Đời sống của thành trùng từ
35 đến 38 ngày, một ruồi cái đẻ khoảng 200 trứng
Trứng màu trắng bóng, hình bầu dục, dài 0,3-0,4 mm, chiều ngang 0,10-0,15
mm và nở trong vòng 2-4 ngày
Ấu trùng có thân thon dài, khi lớn đủ sức dài 2,5-4 mm, màu trắng hơi ngã vàng, đầu có một móc đen, hai ống thở cuối bụng nhọn, dài màu nâu đen và có 6
lổ thở xung quanh Âu trùng có 3 tuổi phát triển trong thời gian 8-10 ngày
Nhộng hình bầu dục, dài 2-2,4 mm, ngang 0,7-1,0 mm, lúc mới hình thành màu vàng, sau chuyển thành màu nâu, cuối đuôi có 2 ống thở nhọn, màu nâu đen Thời gian nhộng từ 7-9 ngày
- Ophiomyza phaseoli (Tryon)
Thành trùng rất giống như M sojae nhưng khác là phần trán giữa hai mắt kép hơi nhô cao
Trứng dài 0,25-0,30 mm, ngang rộng 0,10-0,15 mm, thời gian ủ trứng từ
2-4 ngày
Ấu trùng có hai ống thở cuối bụng có dạng chẻ đôi thành 2 nhánh và 6 lỗ thở tập trung ở phần cuối cùng Âu trùng phát triển từ 7-10 ngày
Nhộng cũng giống như của loài trên, phát triển trong vòng 7-13 ngày
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
- Melanagromyza sojae (Zehntner)
Ruồi rất linh hoạt vào ban ngày, thường đậu trên mặt các lá non để ăn và đẻ trứng Ruồi xuất hiện trên ruộng đậu ngay khi cây có hai lá non đầu tiên Ruồi cái dùng bộ phận đẻ trứng rạch mặt lá thành lỗ có hình bầu dục để nhựa chảy ra và
ăn Trên cây đậu nành, chủ yếu ruồi ăn ở mặt trên lá và đẻ trứng trong một số vết chích ở mặt dưới phiến lá, gần gân Các vết do ruồi đục để đẻ trứng thường có hình bầu dục, ngắn, chiều dài khoảng 0,17 mm và chiều ngang khoảng 0,11 mm
Trang 37Trứng được đẻ cạn trên mặt lá, đôi khi lộ ra khỏi mặt lá, mỗi vết chích chỉ đẻ 1-2 trứng, nằm ngay dưới lớp biểu bì Các vết đục dùng để ăn chất nhựa tiết ra thường
ở mặt trên lá, dài từ 1 đến 1,5 mm và ngang khoảng 0,05 mm
Dòi mới nở đục thẳng vào gân chính qua cuống, ăn phá phần trụ trung tâm của thân, từ ngọn tới gốc và đi xuống đến cổ rễ, xong dòi quay đầu trở lên để đục
về phía ngọn cho đến khi lớn hoàn toàn Dòi làm nhộng ở bất cứ vị trí nào bên trong thân cây đậu Trước khi làm nhộng ấu trùng đục một lổ xuyên qua thân cây đậu chỉ chừa lại một màng mỏng để sau này thành trùng bay ra Nhộng có thể hình thành ở trên hoặc dưới lổ đục do ấu trùng đã cắn sẵn, đầu quay về hướng lổ đục
Vị trí làm nhộng khác nhau tuỳ theo giai đoạn sinh trưởng của cây đậu:
- Trên cây đậu già, nhộng thường định vị ở phần giữa của thân
- Trên cây đậu còn non, dòi ăn dần xuống gốc đến khi đủ sức và làm nhộng ngay tại đó, chỉ một ít làm nhộng ở ngọn và cuống lá
Ruồi gây hại cây con từ 15 - 30 ngày sau khi gieo sẽ làm chết cây con Nếu cây bị gây hại sau thời gian đó sẽ không chết nguyên cây mà chỉ những cành bị ruồi tấn công mới chết, cây chỉ giảm sức tăng trưởng Thân cây còn non dòi thường tấn công phần ngọn làm chồi ngọn bị hư và nhiều chồi nách phía dưới mọc lên thay thế
Ruồi thường xuất hiện vào mùa nắng nhiều hơn mùa mưa Ruộng đậu trồng trễ bị thiệt hại nhiều do ruồi tích lũy mật số từ thế hệ trước Trong một vụ đậu nành thường có từ 2 - 3 lứa ruồi đục thân:
- Lứa 1: xuất hiện lúc đậu có hai lá đơn đầu tiên
- Lứa 2: đậu 1 tháng tuổi, sắp ra hoa
- Lứa 3: cây có trái non, mật số lúc này giảm vì cây không còn lá non Trên đồng ruộng lúc nào cũng có một số loài thiên địch phát triển, gây hại cho ruồi Thường gặp chủ yếu là 2 loài ong thuộc họ Chalcididae và một loài thuộc
họ Cynipidae, tỉ lệ ký sinh của hai loài này trên ruồi đục thân đậu đôi khi lên đến 90% Kiến lửa cũng là một thiên địch đáng kể của ruồi và thường chui vào lổ đục
để ăn dòi
- Ophiomyia phaseoli Tryon
Thành trùng ăn mặt trên lá và các vết chích tập trung gần gốc các gân chính, hình tròn Ruồi cái chọn một số vết chích để đẻ trứng vào đó Trứng được đẻ ở mặt trên lá và nằm trong nhu mô lá, giữa 2 lớp biểu bì của mặt trên và mặt dưới
lá Sau khi nở, ấu trùng đục những đường ngoằn ngoèo ở mặt dưới lá khoảng 2 ngày, sau đó đục vào gân gần nhất, qua biểu bì cuống, xuống vỏ thân và tiếp tục
Trang 38đục xuống gốc, gây hại phần thân dưới lớp biểu bì, ngay phía trên cổ rễ Ruồi làm nhộng giữa phần da và gỗ của thân cây đậu, ngay dưới mặt đất
- Trên cây đậu còn nhỏ, dòi gây hại phần gốc và một số có thể đục đến rễ cái của cây đậu và làm nhộng ở lớp biểu bì thân, gần gốc hoặc trên mặt đất
- Trên cây đậu già dòi gây hại các nhánh và làm nhộng ở cuống lá
Chỗ cây có dòi làm nhộng bị sưng, thối hoặc khô và nứt
Nếu có nhiều dòi hiện diện trong một cây, do cạnh tranh thức ăn, dòi có thể
đục sâu vào bên trong thân cây đậu
b Sâu xanh da láng Spodoptera exigua Hubner
Họ Ngài đêm (Noctuidae) - Bộ Cánh vảy (Lepidoptera)
* Phân bố và ký chủ
Sâu xanh da láng ghi nhận là hiện diện ở miền nam châu Á và châu Phi, nam
và trung châu Âu, châu Úc và nam châu Mỹ
Ở Việt Nam, nhất là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, từ năm 1981 sâu là đối tượng gây hại chính trên đậu nành, đậu xanh, hành, ớt và một số loại hoa màu ngắn ngày khác
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Thành trùng là loài ngài đêm, màu trắng xám, chiều dài thân từ 7- 10 mm, sải cánh rộng từ 20 - 25 mm Đầu màu xám, mang nhiều lông, 2 mắt kép to, màu đen, râu đầu hình sợi chỉ, dài từ 5 - 6 mm Ngực màu nâu đỏ, được phủ kín bởi 1 lớp phấn màu xám tro có ánh kim Cánh trước màu xám hơi ngả nâu, thon dài, hình tam giác, góc cánh hơi bầu, có nhiều vân Khoảng 1/3 cánh tính từ chân cánh, gần cạnh trước có 1 đốm tròn màu lợt, giữa đốm có 1 điểm đen nhỏ, bên cạnh có
1 đốm to hơn màu vàng cam Cạnh trên của cánh có 1 sọc đen không liên tục chạy
từ đầu đến cuối cánh, bìa cánh có 1 hàng chấm đen, tận cùng rìa cánh là 1 đường vân màu trắng Cánh sau là cánh màng, màu xám trắng, càng ra cạnh ngoài cánh các gân có màu đậm, kế đó là 1 đường viền màu nâu đậm, ngoài cùng là rìa lông trắng Cả ngài cái và ngài đực đều có chùm lông ở cuối bụng nhưng trên ngài cái thì chùm lông này dài hơn
Thời gian sống của ngài từ 5 - 10 ngày và một ngài cái có thể đẻ từ 300 - 400 trứng trong vòng từ 3 - 5 ngày, cao nhất vào đêm thứ ba sau khi vũ hóa (trung bình 128 trứng/ngày/con)
Trứng có hình cầu, đường kính từ 0,4 - 0,5 mm, mới đẻ màu xanh đến vàng nhat, sau chuyển sang màu trắng đục, sắp nở có một chấm đen trên vỏ trứng, đó
là mắt của sâu Trứng được đẻ thành từng ổ, trên phủ lớp lông màu trắng ngà Thời
Trang 39gian ủ trứng từ 2 - 4 ngày
Sâu có từ 5 - 6 tuổi, phát triển trong thời gian từ 10 - 19 ngày Mặt lưng của
sâu màu xanh và trơn láng nên còn có tên là "Sâu xanh da láng” Sâu thay đổi
màu sắc rất nhiều trong suốt giai đoạn phát triển của sâu Nhìn chung sâu có màu sắc như sau:
Trên lưng có 5 sọc, 2 sọc ở mỗi bên hông rất to và đậm màu; chạy dài từ đốt thứ nhất của ngực đến đốt cuối của bụng; 1 sọc giữa lưng có màu đen xen kẻ màu trắng, cũng chạy từ đốt đầu của ngực đến đốt cuối của bụng nhưng không liên tục;
kế đến là 2 sọc nhỏ và mờ nằm cách đều và ở 2 bên sọc giữa lưng Các sọc này càng rõ khi tuổi sâu càng lớn Mặt bụng có màu sắc khác hẳn mặt lưng, thường
có màu hồng hay xanh nhạt và có 2 vệt trắng ở 2 bên bụng Chi tiết trong từng tuổi sâu như sau:
- Tuổi 1: thân sâu có màu xanh lá cây hay vàng xanh, đầu đen bóng, mang nhiều lông, bụng màu vàng nhạt Trên lưng có nhiều chấm to màu nâu nhạt, ở mỗi chấm có 1 lông dài màu nâu, cơ thể có chiều dài từ 1,2 - 1,5 mm, thường phần đầu có chiều ngang lớn hơn chiều ngang thân mình và các sọc trên cơ thể chưa rõ ràng Thời gian phát triển của sâu ở tuổi này từ 2 - 5 ngày
- Từ tuổi 2, màu sắc cơ thể sâu bắt đầu thể hiện rõ dần Bụng màu vàng xanh, các đốt trên thân phân biệt rõ dần Mình sâu có 3 sọc màu trắng mờ, 1 sọc giữa lưng và 2 sọc ở 2 bên thân, cả 3 sọc trên chạy từ đốt thứ nhất đến đốt cuối của bụng Ở tuổi này sâu có kích thước cơ thể trung bình là 0,45x3,7mm Thời gian phát triển của sâu tuổi 2 từ 2 - 4 ngày
- Sang tuổi 3, lúc mới lột xác sâu có màu vàng xanh, sau chuyển sang màu xanh lá cây Đầu màu vàng nhạt, bóng; vẫn còn mang nhiều lông Các chấm trên mình sâu nhỏ dần, lông ngắn hơn Thời gian phát triển từ 2 - 3 ngày
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Trưởng thành là loài ngài đêm Đêm thứ hai sau khi vũ hóa, thành trùng bắt đầu bắt cặp và đẻ trứng vài giờ sau
Trứng được đẻ thành từng ổ, có phủ lông màu trắng ngà, mặt trên lá, gần cuống lá, mỗi ổ khoảng 20 - 40 trứng Ổ trứng được sắp xếp thành từng khối có 2 lớp Trứng thường nở vào ban ngày
Sau khi nở sâu sống tập trung quanh ổ trứng, ăn phần diệp lục của lá thành những lỗ nhỏ, chừa lại lớp biểu bì trắng Cuối tuổi 1 sâu bắt đầu phân tán sang các
lá lân cận Ấu trùng tuổi 2 ăn lủng lá thành những lỗ nhỏ và có tập quán nhả tơ buông mình xuống đất khi bị động Ở tuổi 3 sâu ăn phá mạnh nhất, cắn lá thành những lỗ to; sâu còn đeo trên các chùm hoa của cây đậu nành và ăn các cánh hoa
Trang 40vừa mới nhú Ở những ruộng có mật số cao sâu ăn lá còn trơ gân chính và cuống
và cả trái non Một sâu tuổi 4 có thể ăn hết 1 lá đậu trong 1 ngày Ở tuổi lớn khi
bị động sâu không nhả tơ trốn như sâu tuổi nhỏ mà thường co mình rơi xuống đất hay lá bên dưới để trốn
Ngoài đậu nành, đậu xanh, sâu còn gây hại nhiều cho cây hành lá, ớt trồng xen hoặc luân canh với cây đậu nành; sâu gây hại chủ yếu vào vụ Đông - Xuân và Xuân - Hè
- Trên đậu nành và đậu xanh, sâu có khả năng gây hại từ khi cây đậu còn nhỏ đến khi cây trổ hoa, tượng trái Sâu có thể ăn rụi cả lá, đọt non, hoa và trái non
- Trên hành lá, ngài đẻ trứng bên ngoài cọng hành, sâu nở ra chui vào bên trong cọng hành ăn phần nhu mô diệp lục, chừa lại lớp biểu bì trắng bên ngoài Khi bị hại nặng lá hành bị vàng và rũ xuống
- Trên cây ớt, sâu ăn phá đọt non, ăn lủng lá, hoa và trái Trên trái ớt sâu thường ăn ở phần đầu trái, nơi tiếp giáp với đài hoa hay đục lỗ ở giữa trái; trái bị sâu ăn thường thối và rụng sớm
* Thiên địch của sâu xanh da láng
Mặc dù sâu gây hại tương đối nhiều nhưng ngoài thiên nhiên có nhiều loài côn trùng cũng như bệnh ký sinh làm sâu giảm mật số rất đáng kể Thường các loài ký sinh chỉ xuất hiện trên đậu trồng trong vụ 2 Ấu trùng sâu xanh từ tuổi 2 đến tuổi 4 thường bị ký sinh bởi các loài ong thuộc họ Braconidae Nấm và vi khuẩn có thể gây hại trên mọi lứa tuổi của ấu trùng
Ký sinh do côn trùng: gồm 2 loài ong kén nhỏ thuộc họ Braconidae và 1 loài ruồi thuộc họ Tachinidae; trong đó ong thuộc họ Braconidae chiếm đa số và thường ký sinh sâu tuổi 2 - 4
- Ong ký sinh thuộc họ Braconidae gồm hai loài:
Ong kén vàng: đây là loài nội ký sinh, chủ yếu gây hại trên ấu trùng tuổi 2
- 3 Khi bị ký sinh, sâu ít hoạt động, có màu vàng xanh, phần cuối bụng màu vàng nâu, đó là màu của ký sinh nằm bên trong cơ thể của ấu trùng Ấu trùng ký sinh tuổi lớn có màu nâu xám, cơ thể có chiều dài độ 3 mm và chiều ngang khoảng 1
mm Khi ấu trùng ký sinh phát triển hoàn toàn, ký sinh chui ra ngoài cơ thể sâu từ bên hông, gần cuối mình sâu và làm nhộng ngay sát cuối bụng sâu, nhộng màu vàng rơm, kích thước 3x1,5 mm, vài ngày sau nhộng vũ hóa, thành trùng ong sống
từ 2 - 3 ngày
Ong kén trắng: đây cũng là loài nội ký sinh quan trọng trên sâu xanh,
thường ký sinh sâu ở tuổi 3 - 4 Sâu bị ký sinh hoạt động yếu, phát triển kém, một ngày trước khi ấu trùng ký sinh chui ra, sâu ngưng ăn, màu sắc biến đổi, thường