Giáo trình Côn trùng kho vựa với mục tiêu giúp các bạn có thể trình bày được thành phần côn trùng gây hại quan trọng trên cây lương thực, cây ăn trái, rau màu, cây công nghiệp và cây hoa kiểng. Trình bày được đặc điểm hình thái và triệu chứng gây hại của các loài côn trùng hại. Mời các bạn cùng tham khảo, nội dung phần 2 giáo trình!
Trang 1CHƯƠNG 3 THÀNH PHẦN MỌT KHO TẠI VÙNG ĐBSCL Giới thiệu:
Nội dung bài tập trung về thành phần, triệu chứng gây hại, đặc điểm hình thái và biện pháp phòng trừ một số loài sâu hại chủ yếu trên cây họ đậu, cây họ thập tự và họ bầu bí dưa
Mục tiêu:
Kiến thức:
+ Trình bày thành phần loài côn trùng gây hại quan trọng trên cây rau màu + Trình bày đặc điểm hình thái và triệu chứng gây hại của các loài gây hại trên cây họ đậu, rau cải và bầu bí dưa
+ Trình bày các điều kiện ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển và tập tính gây hại của các loài quan trọng trên cây rau màu
Kỹ năng:
+ Nhận diện được đặc điểm hình thái và triệu chứng gây hại của các loài gây hại trên cây họ đậu, rau cải và bầu bí dưa
+ Điều tra mật số sâu hại ngoài đồng
+ Tổng hợp, phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp phù hợp để kiểm soát
sự gây hại của côn trùng trên cây họ đậu, rau cải và bầu bí dưa
Năng lực tự chủ và trách nhiệm: có tinh thần tự học, có phương pháp làm việc khoa học sáng tạo
1 Đặc điểm hình thái và cách gây hại
1.1 Thành phần côn trùng hại quan trọng trên cây họ đậu
a) Dòi đục thân Ophiomyia phaseoli Tryon
Có hai loài dòi đục thân đậu phổ biến thuộc họ Agromyzidae, bộ Diptera:
- Melanagromyza sojae (Zehntner)
- Ophiomyza phaseoli (Tryon)
* Phân bố và ký chủ
M sojae được tìm thấy ở Ấn Độ, Indonesia, Nhật, Australia và hiện diện trên nhiều loại cây ký chủ như Glycine max, Cajanus indicus, Indigofera suffruticosa, Phaseolus calcaratus, trong đó loài Glycine soja bị hại từ 70-100%
O phaseoli phân bố trên một vùng rộng lớn ở cả châu Á , châu Úc và châu
Trang 2Âu, gồm Hawaii, Nhật, Ai Cập, Israel Ruồi xuất hiện trên hầu hết các giống đậu
như Phaseolus calcaratus, P vulgaris, P lanatus
Ở Việt Nam, cả hai loài ruồi trên đều xuất hiện trên các loại đậu nhưng loài
M sojae gây hại phổ biến trên cây đậu nành, còn O phaseoli tấn công hầu hết các
loại đậu khác
* Đặc tính sinh học và sinh thái
+ Melanagromyza sojae Zehntner
Thành trùng là loại ruồi nhỏ, dài từ 1,6 đến 2,0 mm, bụng màu đen bóng hơi ngả xanh, mắt màu đỏ, phần trán giữa hai mắt kép không nhô lên cao Thành trùng cái có bộ phận đẻ trứng hình lưỡi dao ở cuối bụng Đời sống của thành trùng từ
35 đến 38 ngày, một ruồi cái đẻ khoảng 200 trứng
Trứng màu trắng bóng, hình bầu dục, dài 0,3-0,4 mm, chiều ngang 0,10-0,15
mm và nở trong vòng 2-4 ngày
Ấu trùng có thân thon dài, khi lớn đủ sức dài 2,5-4 mm, màu trắng hơi ngã vàng, đầu có một móc đen, hai ống thở cuối bụng nhọn, dài màu nâu đen và có 6
lổ thở xung quanh Ấu trùng có 3 tuổi phát triển trong thời gian 8-10 ngày
Nhộng hình bầu dục, dài 2-2,4 mm, ngang 0,7-1,0 mm, lúc mới hình thành màu vàng, sau chuyển thành màu nâu, cuối đuôi có 2 ống thở nhọn, màu nâu đen Thời gian nhộng từ 7-9 ngày
+ Ophiomyza phaseoli Tryon
Thành trùng rất giống như M sojae nhưng khác là phần trán giữa hai mắt kép hơi nhô cao
Trứng dài 0,25 - 0,30 mm, ngang rộng 0,10 - 0,15 mm, thời gian ủ trứng từ
2 - 4 ngày
Ấu trùng có hai ống thở cuối bụng có dạng chẻ đôi thành 2 nhánh và 6 lỗ thở tập trung ở phần cuối cùng Âu trùng phát triển từ 7-10 ngày
Nhộng cũng giống như của loài trên, phát triển trong vòng 7-13 ngày
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
+ Melanagromyza sojae (Zehntner)
Ruồi rất linh hoạt vào ban ngày, thường đậu trên mặt các lá non để ăn và đẻ trứng Ruồi xuất hiện trên ruộng đậu ngay khi cây có hai lá non đầu tiên Ruồi cái dùng bộ phận đẻ trứng rạch mặt lá thành lỗ có hình bầu dục để nhựa chảy ra và
ăn Trên cây đậu nành, chủ yếu ruồi ăn ở mặt trên lá và đẻ trứng trong một số vết chích ở mặt dưới phiến lá, gần gân Các vết do ruồi đục để đẻ trứng thường có
Trang 3hình bầu dục, ngắn, chiều dài khoảng 0,17 mm và chiều ngang khoảng 0,11 mm Trứng được đẻ cạn trên mặt lá, đôi khi lộ ra khỏi mặt lá, mỗi vết chích chỉ đẻ 1-2 trứng, nằm ngay dưới lớp biểu bì Các vết đục dùng để ăn chất nhựa tiết ra thường
ở mặt trên lá, dài từ 1 đến 1,5 mm và ngang khoảng 0,05 mm
Dòi mới nở đục thẳng vào gân chính qua cuống, ăn phá phần trụ trung tâm của thân, từ ngọn tới gốc và đi xuống đến cổ rễ, xong dòi quay đầu trở lên để đục về phía ngọn cho đến khi lớn hoàn toàn Dòi làm nhộng ở bất cứ vị trí nào bên trong thân cây đậu Trước khi làm nhộng ấu trùng đục một lổ xuyên qua thân cây đậu chỉ chừa lại một màng mỏng để sau này thành trùng bay ra Nhộng có thể hình thành ở trên hoặc dưới lổ đục do ấu trùng đã cắn sẵn, đầu quay về hướng lổ đục Vị trí làm nhộng khác nhau tuỳ theo giai đoạn sinh trưởng của cây đậu:
- Trên cây đậu già, nhộng thường định vị ở phần giữa của thân
- Trên cây đậu còn non, dòi ăn dần xuống gốc đến khi đủ sức và làm nhộng ngay tại đó, chỉ một ít làm nhộng ở ngọn và cuống lá
Ruồi gây hại cây con từ 15 - 30 ngày sau khi gieo sẽ làm chết cây con Nếu cây bị gây hại sau thời gian đó sẽ không chết nguyên cây mà chỉ những cành bị ruồi tấn công mới chết, cây chỉ giảm sức tăng trưởng Thân cây còn non dòi thường tấn công phần ngọn làm chồi ngọn bị hư và nhiều chồi nách phía dưới mọc lên thay thế
Ruồi thường xuất hiện vào mùa nắng nhiều hơn mùa mưa Ruộng đậu trồng trễ bị thiệt hại nhiều do ruồi tích lũy mật số từ thế hệ trước Trong một vụ đậu nành thường có từ 2 - 3 lứa ruồi đục thân:
- Lứa 1: xuất hiện lúc đậu có hai lá đơn đầu tiên
- Lứa 2: đậu 1 tháng tuổi, sắp ra hoa
- Lứa 3: cây có trái non, mật số lúc này giảm vì cây không còn lá non Trên đồng ruộng lúc nào cũng có một số loài thiên địch phát triển, gây hại cho ruồi Thường gặp chủ yếu là 2 loài ong thuộc họ Chalcididae và một loài thuộc
họ Cynipidae, tỉ lệ ký sinh của hai loài này trên ruồi đục thân đậu đôi khi lên đến 90% Kiến lửa cũng là một thiên địch đáng kể của ruồi và thường chui vào lổ đục
để ăn dòi
+ Ophiomyia phaseoli Tryon
Thành trùng ăn mặt trên lá và các vết chích tập trung gần gốc các gân chính, hình tròn Ruồi cái chọn một số vết chích để đẻ trứng vào đó Trứng được đẻ ở mặt trên lá và nằm trong nhu mô lá, giữa 2 lớp biểu bì của mặt trên và mặt dưới
lá Sau khi nở, ấu trùng đục những đường ngoằn ngoèo ở mặt dưới lá khoảng 2
Trang 4ngày, sau đó đục vào gân gần nhất, qua biểu bì cuống, xuống vỏ thân và tiếp tục đục xuống gốc, gây hại phần thân dưới lớp biểu bì, ngay phía trên cổ rễ Ruồi làm nhộng giữa phần da và gỗ của thân cây đậu, ngay dưới mặt đất
- Trên cây đậu còn nhỏ, dòi gây hại phần gốc và một số có thể đục đến rễ cái của cây đậu và làm nhộng ở lớp biểu bì thân, gần gốc hoặc trên mặt đất
- Trên cây đậu già dòi gây hại các nhánh và làm nhộng ở cuống lá
Chỗ cây có dòi làm nhộng bị sưng, thối hoặc khô và nứt
Nếu có nhiều dòi hiện diện trong một cây, do cạnh tranh thức ăn, dòi có thể
đục sâu vào bên trong thân cây đậu
b) Sâu xanh da láng Spodoptera exigua Hubner
Họ Ngài đêm (Noctuidae) - Bộ Cánh vảy (Lepidoptera)
* Phân bố và ký chủ
Sâu xanh da láng ghi nhận là hiện diện ở miền nam châu Á và châu Phi, nam
và trung châu Âu, châu Úc và nam châu Mỹ
Ở Việt Nam, nhất là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, từ năm 1981 sâu là đối tượng gây hại chính trên đậu nành, đậu xanh, hành, ớt và một số loại hoa màu ngắn ngày khác
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Thành trùng là loài ngài đêm, màu trắng xám, chiều dài thân từ 7- 10 mm, sải cánh rộng từ 20 - 25 mm Đầu màu xám, mang nhiều lông, 2 mắt kép to, màu đen, râu đầu hình sợi chỉ, dài từ 5 - 6 mm Ngực màu nâu đỏ, được phủ kín bởi 1 lớp phấn màu xám tro có ánh kim Cánh trước màu xám hơi ngả nâu, thon dài, hình tam giác, góc cánh hơi bầu, có nhiều vân Khoảng 1/3 cánh tính từ chân cánh, gần cạnh trước có 1 đốm tròn màu lợt, giữa đốm có 1 điểm đen nhỏ, bên cạnh có
1 đốm to hơn màu vàng cam Cạnh trên của cánh có 1 sọc đen không liên tục chạy
từ đầu đến cuối cánh, bìa cánh có 1 hàng chấm đen, tận cùng rìa cánh là 1 đường vân màu trắng Cánh sau là cánh màng, màu xám trắng, càng ra cạnh ngoài cánh các gân có màu đậm, kế đó là 1 đường viền màu nâu đậm, ngoài cùng là rìa lông trắng Cả ngài cái và ngài đực đều có chùm lông ở cuối bụng nhưng trên ngài cái thì chùm lông này dài hơn
Thời gian sống của ngài từ 5 - 10 ngày và một ngài cái có thể đẻ từ 300 - 400 trứng trong vòng từ 3 - 5 ngày, cao nhất vào đêm thứ ba sau khi vũ hóa (trung bình 128 trứng/ngày/con)
Trứng có hình cầu, đường kính từ 0,4 - 0,5 mm, mới đẻ màu xanh đến vàng nhat, sau chuyển sang màu trắng đục, sắp nở có một chấm đen trên vỏ trứng, đó
Trang 5là mắt của sâu Trứng được đẻ thành từng ổ, trên phủ lớp lông màu trắng ngà Thời gian ủ trứng từ 2 - 4 ngày
Sâu có từ 5 - 6 tuổi, phát triển trong thời gian từ 10 - 19 ngày Mặt lưng của
sâu màu xanh và trơn láng nên còn có tên là "Sâu xanh da láng” Sâu thay đổi
màu sắc rất nhiều trong suốt giai đoạn phát triển của sâu Nhìn chung sâu có màu sắc như sau:
Trên lưng có 5 sọc, 2 sọc ở mỗi bên hông rất to và đậm màu; chạy dài từ đốt thứ nhất của ngực đến đốt cuối của bụng; 1 sọc giữa lưng có màu đen xen kẻ màu trắng, cũng chạy từ đốt đầu của ngực đến đốt cuối của bụng nhưng không liên tục;
kế đến là 2 sọc nhỏ và mờ nằm cách đều và ở 2 bên sọc giữa lưng Các sọc này càng rõ khi tuổi sâu càng lớn Mặt bụng có màu sắc khác hẳn mặt lưng, thường
có màu hồng hay xanh nhạt và có 2 vệt trắng ở 2 bên bụng Chi tiết trong từng tuổi sâu như sau:
- Tuổi 1: thân sâu có màu xanh lá cây hay vàng xanh, đầu đen bóng, mang nhiều lông, bụng màu vàng nhạt Trên lưng có nhiều chấm to màu nâu nhạt, ở mỗi chấm có 1 lông dài màu nâu, cơ thể có chiều dài từ 1,2 - 1,5 mm, thường phần đầu có chiều ngang lớn hơn chiều ngang thân mình và các sọc trên cơ thể chưa rõ ràng Thời gian phát triển của sâu ở tuổi này từ 2 - 5 ngày
- Từ tuổi 2, màu sắc cơ thể sâu bắt đầu thể hiện rõ dần Bụng màu vàng xanh, các đốt trên thân phân biệt rõ dần Mình sâu có 3 sọc màu trắng mờ, 1 sọc giữa lưng và 2 sọc ở 2 bên thân, cả 3 sọc trên chạy từ đốt thứ nhất đến đốt cuối của bụng Ở tuổi này sâu có kích thước cơ thể trung bình là 0,45x3,7mm Thời gian phát triển của sâu tuổi 2 từ 2 - 4 ngày
- Sang tuổi 3, lúc mới lột xác sâu có màu vàng xanh, sau chuyển sang màu xanh lá cây Đầu màu vàng nhạt, bóng; vẫn còn mang nhiều lông Các chấm trên mình sâu nhỏ dần, lông ngắn hơn Thời gian phát triển từ 2 - 3 ngày
Hình 3.1: Thành trùng và ấu trùng sâu xanh da láng
Trang 6* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Trưởng thành là loài ngài đêm Đêm thứ hai sau khi vũ hóa, thành trùng bắt đầu bắt cặp và đẻ trứng vài giờ sau
Trứng được đẻ thành từng ổ, có phủ lông màu trắng ngà, mặt trên lá, gần cuống lá, mỗi ổ khoảng 20 - 40 trứng Ổ trứng được sắp xếp thành từng khối có 2 lớp Trứng thường nở vào ban ngày
Sau khi nở sâu sống tập trung quanh ổ trứng, ăn phần diệp lục của lá thành những lỗ nhỏ, chừa lại lớp biểu bì trắng Cuối tuổi 1 sâu bắt đầu phân tán sang các
lá lân cận Ấu trùng tuổi 2 ăn lủng lá thành những lỗ nhỏ và có tập quán nhả tơ buông mình xuống đất khi bị động Ở tuổi 3 sâu ăn phá mạnh nhất, cắn lá thành những lỗ to; sâu còn đeo trên các chùm hoa của cây đậu nành và ăn các cánh hoa vừa mới nhú Ở những ruộng có mật số cao sâu ăn lá còn trơ gân chính và cuống
và cả trái non Một sâu tuổi 4 có thể ăn hết 1 lá đậu trong 1 ngày Ở tuổi lớn khi
bị động sâu không nhả tơ trốn như sâu tuổi nhỏ mà thường co mình rơi xuống đất hay lá bên dưới để trốn
Ngoài đậu nành, đậu xanh, sâu còn gây hại nhiều cho cây hành lá, ớt trồng xen hoặc luân canh với cây đậu nành; sâu gây hại chủ yếu vào vụ Đông - Xuân và Xuân - Hè
- Trên đậu nành và đậu xanh, sâu có khả năng gây hại từ khi cây đậu còn nhỏ đến khi cây trổ hoa, tượng trái Sâu có thể ăn rụi cả lá, đọt non, hoa và trái non
- Trên hành lá, ngài đẻ trứng bên ngoài cọng hành, sâu nở ra chui vào bên trong cọng hành ăn phần nhu mô diệp lục, chừa lại lớp biểu bì trắng bên ngoài Khi bị hại nặng lá hành bị vàng và rũ xuống
- Trên cây ớt, sâu ăn phá đọt non, ăn lủng lá, hoa và trái Trên trái ớt sâu thường ăn ở phần đầu trái, nơi tiếp giáp với đài hoa hay đục lỗ ở giữa trái; trái bị sâu ăn thường thối và rụng sớm
Hình 3.2: Triệu chứng gây hại của sâu xanh da láng
Trang 7Mặc dù sâu gây hại tương đối nhiều nhưng ngoài thiên nhiên có nhiều loài côn trùng cũng như bệnh ký sinh làm sâu giảm mật số rất đáng kể Thường các loài ký sinh chỉ xuất hiện trên đậu trồng trong vụ 2 Ấu trùng sâu xanh từ tuổi 2 đến tuổi 4 thường bị ký sinh bởi các loài ong thuộc họ Braconidae Nấm và vi khuẩn có thể gây hại trên mọi lứa tuổi của ấu trùng
Ký sinh do côn trùng: gồm 2 loài ong kén nhỏ thuộc họ Braconidae và 1 loài ruồi thuộc họ Tachinidae; trong đó ong thuộc họ Braconidae chiếm đa số và thường ký sinh sâu tuổi 2 - 4
- Ong ký sinh thuộc họ Braconidae gồm hai loài:
Ong kén vàng: đây là loài nội ký sinh, chủ yếu gây hại trên ấu trùng tuổi 2
- 3 Khi bị ký sinh, sâu ít hoạt động, có màu vàng xanh, phần cuối bụng màu vàng nâu, đó là màu của ký sinh nằm bên trong cơ thể của ấu trùng Ấu trùng ký sinh tuổi lớn có màu nâu xám, cơ thể có chiều dài độ 3 mm và chiều ngang khoảng 1
mm Khi ấu trùng ký sinh phát triển hoàn toàn, ký sinh chui ra ngoài cơ thể sâu từ bên hông, gần cuối mình sâu và làm nhộng ngay sát cuối bụng sâu, nhộng màu vàng rơm, kích thước 3x1,5 mm, vài ngày sau nhộng vũ hóa, thành trùng ong sống
từ 2 - 3 ngày
Ong kén trắng: đây cũng là loài nội ký sinh quan trọng trên sâu xanh,
thường ký sinh sâu ở tuổi 3 - 4 Sâu bị ký sinh hoạt động yếu, phát triển kém, một ngày trước khi ấu trùng ký sinh chui ra, sâu ngưng ăn, màu sắc biến đổi, thường
có màu hồng đỏ trên lưng, thân rút nhỏ lại khoảng 5 - 6 mm, trong khi kích thước bình thường của sâu ở giai đoạn này khoảng 9 - 10 mm và có tập quán cắn lá vụn
ra thành nhiều phần xong dùng tơ kết lại như kén để hóa nhộng bên trong Thường chỉ có 1 ký sinh trong 1 ấu trùng
- Ruồi ký sinh thuộc họ Tachinidae: đây là loài nội ký sinh Ấu trùng của ký sinh màu vàng, cơ thể có kích thước 4 x 0,5mm, hình ống, thon dài, đầu có 1 móc đen, cuối thân có 2 gai nhọn Sau khi phát triển hoàn toàn, dòi chui ra làm nhộng bên ngoài Nhộng ban đầu màu vàng cam, sau chuyển thành màu nâu đỏ, kích thước 3 x 1mm; từ 3 - 4 ngày sau nhộng vũ hóa Thời gian nhộng kéo dài từ 3 - 4 ngày Sâu bị ký sinh thường ít hoạt động và có thể có đến 2 con dòi trong 1 ấu trùng, từ 1 - 2 ngày sau khi ký sinh chui ra thì sâu chết
- Ký sinh do nấm Metarrhizium sp : sâu bị ký sinh thường chết rất nhanh;
trên mình sâu phủ một lớp phấn trắng, vài ngày sau lớp phấn này có màu xanh
- Ký sinh do vi khuẩn Bacillus sp :âu bị vi khuẩn ký sinh gây bệnh thường
thân bị thối nhũn và chết rất nhanh Khi chết, cơ thể sâu mềm nhũn, và tiết ra một
dịch màu vàng, mùi rất hôi
Trang 8c) Sâu ăn tạp Spodoptera litura Fabricius
Họ Ngài đêm (Noctuidae), Bộ Cánh Vảy (Lepidoptera)
* Phân bố và ký chủ
Trên thế giới sâu phân bố rất rộng vì phổ ký chủ rộng Sâu có thể gây hại khoảng 200 loại cây, gây hại nhiều trên rau, cải, bắp, đậu, khoai
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Ngài có chiều dài thân từ 20 - 25 mm, sải cánh rộng từ 35 - 45 mm Cánh trước màu nâu vàng Phần giữa từ cạnh trước cánh tới cạnh sau cánh có 1 vân ngang rộng, màu trắng Trong đường vân trắng này có 2 đường vân màu nâu Cánh sau màu trắng óng ánh Ngài có đời sống trung bình từ 1 - 2 tuần tùy điều kiện thức ăn Trung bình một ngài cái có thể đẻ 300 trứng, nhưng nếu điều kiện thích hợp ngài có thể đẻ từ 900 - 2000 trứng Thời gian đẻ trứng trung bình của ngài kéo dài từ 5 - 7 ngày, đôi khi đến 10 hoặc 12 ngày
Trứng hình bán cầu, đường kính từ 0,40 - 0,5 mm Bề mặt trứng có những đường khía dọc từ đỉnh trứng xuống đến đáy và bị cắt ngang bởi những đường khía ngang tạo thành những ô nhỏ Trứng mới đẻ có màu trắng vàng, sau chuyển thành màu vàng tro, lúc sắp nở có màu tro đậm Ổ trứng có phủ lông từ bụng ngài
mẹ Thời gian ủ trứng từ 4 - 7 ngày
Sâu có 5 - 6 tuổi tùy điều kiện môi trường và phát triển trong thời gian từ 20 đến 25 ngày Sâu lớn đủ sức dài khoảng 35 - 53 mm, hình ống tròn Sâu tuổi nhỏ
có màu xanh lục, càng lớn sâu chuyển dần thành màu nâu đậm Toàn thân màu xanh ở tuổi nhỏ và màu nâu ở tuổi lớn với 1 sọc màu vàng sáng ở 2 bên hông chạy
từ đốt thứ nhất của bụng đến đốt cuối Dọc theo đường ấy có những điểm hình bán nguyệt Từ đốt thứ nhất đến đốt thứ tám của bụng mỗi đốt có một chấm đen
rõ, đây là điểm đặc biệt của loài sâu này để phân biệt với các loài sâu khác cùng giống; trong số đó 2 chấm đen ở đốt thứ nhất to nhất và càng lớn 2 chấm này gần như giao nhau thành một khoang đen trên lưng nên sâu này còn có tên là "sâu khoang"
Nhộng dài từ 18 - 20 mm, màu nâu hoặc màu nâu tối Cuối bụng có một đôi gai ngắn Thời gian nhộng từ 7 - 10 ngày
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Ngài thường vũ hóa vào buổi chiều và bay ra hoạt động vào lúc vừa tối, ban ngày ngài đậu ở mặt sau lá hoặc trong các bụi cỏ Ngài hoạt động từ tối đến nửa đêm Ngài bay rất mạnh, có khi xa đến vài chục mét và cao đến 6 - 7 m Sau khi
vũ hóa vài giờ ngài có thể bắt cặp và 1 ngày sau đẻ trứng
Trang 9Trứng được đẻ thành từng ổ có phủ lông màu vàng
Sâu vừa nở ăn gặm vỏ trứng và sống tập trung, nếu bị khua động nhẹ chúng phân tán hoặc nhả tơ buông mình xuống đất; ở giai đoạn này sâu chỉ gặm mặt dưới lá, chừa biểu bì trên và gân Sang tuổi 2 sâu bắt đầu phân tán và ăn gặm lá nhiều hơn Từ tuổi 4 sâu có phản ứng rõ rệt đối với ánh sáng, ban ngày sâu ẩn những nơi tối hoặc chui xuống kẽ đất nứt, ban đêm sâu chui lên cây; trong những ngày trời râm mát hoặc mưa nhẹ thì ban ngày sâu có thể bò hoạt động trên cây Ở tuổi lớn sâu có tập quán ăn thịt lẫn nhau và không những ăn phá lá cây mà còn ăn trụi cả thân, cành và trái non Khi sắp làm nhộng sâu chui xuống đất làm thành
một khoang và nằm yên trong đó hóa nhộng
d) Rầy mềm Aphis glycines Matsumura
Họ Aphididae - Bộ Cánh đều (Homoptera)
* Đặc điểm hình thái và sinh học
+ Loài Aphis glycines Matsumura
Rầy mềm có 2 dạng là có cánh và không cánh
- Dạng có cánh: cơ thể màu vàng xanh đến vàng tươi, ngực và đầu có màu đen hay xanh đậm, bụng màu nhạt, dài từ 1,7 - 2 mm, rộng từ 0,7 - 0,9 mm Râu màu trắng bẩn nhưng các đốt roi râu màu nâu đen, ngắn hơn cơ thể Vòi chích hút kéo dài vượt khỏi đốt chậu chân giữa Ống bụng màu nâu
- Dạng không cánh: cơ thể màu vàng xanh đến vàng tươi, 2 mắt đen, râu ngắn hơn 1/2 thân mình và có màu trắng giống như chân, dài từ 1,5 - 2 mm, rộng
từ 0,7 đến 1,2 mm Các đặc điểm khác đều giống như dạng có cánh
Rầy nhân mật số nhanh chóng khi gặp ký chủ thích hợp và thường tạo cao điểm ở giai đoạn cây đậu nành sắp trổ hoa đến khi dứt trổ hoa; đây là thời điểm cây đậu nành có nguồn dinh dưởng nhiều nhất để cung cấp cho rầy Rầy thường bám vào cây và chen chúc nhau ở phần lá non và các hoa mới nở để chích hút
Hình 3.3: Rầy mềm Aphis glycines Matsumura + Loài Aphis craccivora Koch, còn có tên là Aphis medicaginis Koch
Trang 10Thành trùng cũng có hai dạng hình:
- Dạng có cánh: cơ thể có màu xanh đen hoặc vàng, dài từ 1,5 - 1,8 mm, rộng
từ 0,8 - 0,9 mm Râu đầu dài khoảng 1,23 mm Chân, râu màu vàng nâu nhạt, cuối các đốt có màu sậm hơn Ống bụng màu đen sậm, dài khoảng 0,23 mm Loại hình này có khả năng đẻ rất kém, trung bình khoảng 4 con
- Dạng không cánh: lúc mới vũ hóa thành trùng màu xám nhạt, vài giờ sau trở nên đen bóng hoặc tím đen, thân có chiều dài từ 1,7 - 2,1 mm, rộng từ 0,8 - 1,3 mm Râu đầu dài khoảng 1,07 mm Ống bụng màu đen, không có rìa mép, dài khoảng 0,5 mm, dài hơn ống bụng của loại hình có cánh Đường nối giữa các đốt bụng rõ ràng Một thành trùng cái đẻ từ 50 - 60 ấu trùng và đẻ cao điểm vào ngày thứ hai sau khi vũ hóa Thời gian sống của dạng thành trùng này từ 4 - 6 ngày
Cả 2 loại hình trên đều có chân màu xanh nhạt
Rầy cái có thể đẻ trứng hoặc đẻ con tùy điều kiện thời tiết Vùng ôn đới rầy thường đẻ trứng Trứng hình bầu dục, mới đẻ màu vàng nhạt, sau chuyển sang xanh đậm rồi đen dần Nhưng trong điều kiện nhiệt đới rầy chủ yếu đẻ ra con với kích cỡ và màu sắc như sau:
Tuổi 1: ấu trùng có màu xanh nhạt, sau chuyển sang màu vàng sáng rồi nâu nhạt Cơ thể chia đốt rõ ràng Râu đầu 5 đốt Mắt đen Chân sau có đốt bàn màu đen sậm, các đốt khác màu vàng sáng Thời gian sống của ấu trùng ở tuổi này từ 1- 2 ngày Đa số ấu trùng mới đẻ tập trung ở 2 bên mặt trái non; từ tuổi 2 trở đi rầy bắt đầu di chuyển tìm thức ăn mới Tuổi này rầy có tỉ lệ sống rất cao, khoảng 90% Tuổi 2: thân màu hơi xám nhạt, cạnh ngoài màu trắng nhạt Râu đầu 5 đốt Ống bụng màu đen nhạt Thời gian phát triển của ấu trùng ở tuổi này từ 1 - 2 ngày
và có tỉ lệ sống khoảng 87%
Tuổi 3: bắt đầu tuổi này đã phân biệt được 2 dạng ấu trùng không có cánh và
có cánh nhờ mầm cánh xuất hiện và số đốt râu đầu tăng lên 6 đốt thay vì 5 đốt Thân màu xám đậm Rầy phát triển từ 1 - 2 ngày ở giai đoạn này Tỉ lệ sống của
ấu trùng tuổi 3 khoảng 80%
Tuổi 4: mầm cánh rõ ràng, cả hai dạng ấu trùng có cánh và không có cánh
Trang 11đều có màu xám đậm Giai đoạn phát triển của ấu trùng tuổi 3 từ 2 - 3 ngày với tỉ
lệ sống khoảng 74%
Hình 3.4: Rầy mềm Aphis craccivora Koch
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Rầy thường tập trung trên phần non nhất của cây, nhất là trái non; trên đọt non chúng chích hút chất auxine làm chậm sự tăng trưởng của cây Trên mỗi loại cây rầy có cách gây hại khác nhau như sau:
- Đối với đậu xanh, nếu mật số cao, rầy bám dày đặc trên trái non thì trái chậm phát triển, lâu chín, vỏ trái có những vết thâm đen, khó tách hạt, hoặc số hạt trên trái bị giảm
- Trên đậu đũa, trái sẽ bị mất phẩm chất, sản phẩm không thu được do rầy tiết dịch mật tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển
- Đối với đậu phộng rầy tập trung trên lá non, ngọn, hoa hút dịch cây và thu hút nấm đen tới làm cho thân lá có màu đen
Rầy mềm còn là môi giới truyền bệnh khảm cho cây đậu
Phân rầy thải ra thu nấm bồ hóng tới làm ảnh hưởng đến quang hợp và thu hút kiến đến sống cộng sinh
Hình 3.5: Rầy mềm gây hại trên đậu
e) Sâu đục trái
Loài Etiella zinckenella Treitschke (Phycitidae, Lepidoptera)
* Phân bố và ký chủ
Trang 12Loài này xuất hiện ở hầu hết các vùng trồng đậu nành trên thế giới như châu
Á, châu Phi, châu Mỹ Ở Việt Nam, sâu gây hại ở các nơi và hầu hết các loại đậu
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Ngài có chiều dài thân từ 10 - 13 mm, sải cánh rộng từ 20 - 22 mm, toàn thân màu xám nâu Cánh trước màu xám tro, dài và hẹp, dọc theo cạnh ngoài cánh có
1 đường viền màu trắng, khoảng 1/3 cánh kể từ chân cánh có 1 vệt màu vàng nằm ngang cánh, kế đó là 1 đường màu nâu đậm Cạnh ngoài cánh có 1 đường màu trắng xám dọc theo bìa cánh Cánh sau màu trắng vàng, dọc cạnh ngoài có đường viền màu đen Thời gian sống của ngài khoảng 7 ngày và một ngài cái đẻ khoảng
từ 100 - 200 trứng
Trứng hình bầu dục, dài từ 0,40 - 0,50 mm, ngang từ 0,35 - 0,40 mm, màu trắng khi mới đẻ, sắp nở chuyển sang màu hồng Thời gian ủ trứng từ 4 - 7 ngày Sâu có từ 4 - 5 tuổi, phát triển trong thời gian từ 9 - 15 ngày Sâu có 4 cặp chân giả Tuổi 1 sâu có đầu đen, thân màu vàng, dài khoảng 1,4 mm Tuổi 2 thân trắng hơi ngả vàng, dài từ 2,5 - 3 mm Ở tuổi 3 sâu có màu xanh nhạt với 5 sọc đỏ trên lưng, cơ thể dài từ 5 - 6 mm Tuổi 4 - 5 trên lưng sâu không còn các sọc đỏ
mà toàn thân thành màu hồng, dài từ 10 - 15 mm
Nhộng màu nâu, phát triển từ 5 - 7 ngày
Hình 3.6: Thành trùng và sâu non Etiella zinckenella Treitschke
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Ngài hoạt động về ban đêm, bắt cặp ngay sau khi vũ hóa và sau đó bắt đầu
đẻ trứng Trứng được đẻ rời rạc trên mầm non, cuống trái khi cây chưa có trái, trên hoa hay trên trái non Trên trái, trứng thường được đẻ gần cuống vì có nhiều lông mịn Thời gian đẻ trứng kéo dài từ 3 - 8 ngày
Sâu thường nở vào buổi sáng, sau khi nở sâu bò lên cây tìm trái để đục vào
Trang 13bên trong hay ngay trên trái được đẻ trứng hoặc nhả tơ chuyển sang cây khác Trước khi đục vào trái, sâu nhả tơ dệt 1 túi nhỏ màu trắng, mỏng, dài độ 1 mm và
ẩn trong đó để ăn dần vỏ trái Khi miệng đủ cứng, sâu chui vào bên trong trái bằng
1 lổ rất nhỏ và để lại túi tơ bên ngoài vỏ trái Sâu thường ăn 2 bên mép vỏ trái, và
ăn dọc theo lớp vỏ hạt xong mới đục vào hạt Khi lớn, sâu ăn khuyết từng góc hạt hay đục vào hạt, ăn dọc theo rãnh của 2 lá mầm Khi ăn hết hạt trong trái, sâu chui
ra ngoài tìm sang trái khác Một trái đậu có thể có từ 2 - 3 sâu sống bên trong Sâu vừa ăn vừa thải phân trong trái Trong suốt giai đoạn phát triển, một sâu có thể gây hại từ 3 - 5 hột đậu và có thể di chuyển gây hại từ 1 - 2 lần Sâu có thể hoá nhộng bên trong trái, nhưng thường sâu chui xuống đất làm nhộng, cách mặt đất
độ 3 cm, gần gốc cây đậu, chung quanh nhộng có một kén bằng tơ rất dai
Trên cây đậu nành sâu bắt đầu xuất hiện từ khi trổ hoa đến thu hoạch Mùa nắng sâu gây hại nhiều hơn mùa mưa Trong 1 vụ đậu nành thường có 2 lứa sâu:
- Lứa 1: sâu tấn công lúc trái đậu còn non, hạt vừa phát triển, chủ yếu ăn hạt, lứa này gây hại nhất cho cây đậu và hầu như toàn trái bị hư
- Lứa 2: sâu đục vào trái đậu khoảng từ 2 - 3 tuần trước khi thu hoạch và chỉ làm hư những hạt nào bị ăn phá, sâu còn sống trong trái đến khi thu hoạch
+ Loài Maruca testulalis Geyer (Pyralidae, Lepidoptera)
Loài này gây hại quan trọng ở vùng nhiệt đới Ký chủ là các loại đậu xanh, đậu trắng, đậu đũa, đậu đen
* Đặc điểm hình thái và sinh học:
Ngài có thân màu đậm, cánh trước màu nâu đen, có một vệt trắng lớn ngay giữa cánh và một số đốm trắng nhỏ ở chung quanh Cánh sau màu trắng bóng, bìa cánh màu nâu Cơ thể có chiều dài từ 10 - 13 mm, cuối bụng ngài cái có chùm lông Thời gian sống của ngài khoảng 7 ngày và một ngài cái đẻ khoảng 200 trứng Trứng hình bầu dục, dài từ 0,5 - 0,7 mm, mới đẻ màu trắng xám, sắp nở màu vàng hơi xanh Thời gian ủ trứng từ 2 - 5 ngày
Sâu màu trắng hơi ngả nâu, mặt lưng mỗi đốt bụng có 6 đốm màu nâu đậm hình bầu dục Ở tuổi cuối các đốm này to dần ra, nhìn toàn thân sâu như có màu nâu đậm Sâu trãi qua 5 tuổi trong thời gian từ 7 - 10 ngày Lớn đủ sức sâu có chiều dài từ 14 - 16 mm và chiều ngang từ 3,2 - 3,6 mm
Nhộng màu xanh hơi nâu, thời gian nhộng từ 6 - 8 ngày
Trang 14Hình 3.7: Thành trùng và sâu non Maruca testulalis Geyer
* Tập quán sinh hoạt và cách gây hại
Trứng được đẻ thành từng nhóm từ 2 - 10 cái trên hoa, tràng hoa, đài hoa hay trái non Sâu nở ra nhả tơ cuốn các nụ hoa hay trái non và ở bên trong ăn hoa, trái làm hoa rụng Nếu cây có trái non sâu ăn phần cuống hoặc đục vào trái và ở luôn bên trong trái, sâu ăn bên trong trái và thải phân ra ngoài, trái bị dơ bẩn, dễ nhiễm nấm bệnh, mau thối và rụng Khi lớn đủ sức, sâu bò xuống gốc làm nhộng trong các lá khô Sâu xuất hiện nhiều vào đầu mùa mưa
Hình 3.8: Triệu chứng gây hại của sâu đục trái Maruca testulalis Geyer
1.2 Thành phần côn trùng hại quan trọng trên cây họ thập tự
a) Sâu tơ Plutella xylostella Curtis
Còn có tên là Plutella maculipennis Curtis
Họ Yponomeutidae - Bộ Cánh vảy (Lepidoptera)
* Phân bố và ký chủ
Sâu tơ đầu tiên được ghi nhận là có nguồn gốc từ Thổ Nhĩ Kỳ; sau đó phát triển ở hầu hết các quốc gia trồng rau cải trên thế giới cùng với sự phát triển của cây rau họ hoa thập tự cũng như khả năng di chuyển rất xa của ngài, có thể trên
cả ngàn cây số Sâu tơ có thể sống được ở hầu hết các quốc gia trồng rau cải, ôn đới lẫn nhiệt đới và là mối lo ngại lớn nhất cho các nhà trồng rau cải hiện nay Sâu ghi nhận là phá hại trên rất nhiều loại rau cải khác nhau như cải bắp, cải
Trang 15bẹ xanh, cải bẹ trắng, cải ngọt, cải bông, cải rổ; nhưng trầm trọng nhất là trên cải bắp, cải bông Ngoài ra, sâu tơ còn gây hại trên một số loại cây họ cà như khoai tây, cà chua
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Ngài dài từ 6 - 10 mm Sải cánh rộng từ 10 - 15 mm Cánh trước màu nâu xám, trên có nhiều chấm nhỏ màu nâu; từ chân cánh ra đến cạnh ngoài của cánh trước có một dãi hình răng cưa màu trắng trên ngài đực và màu vàng trên ngài cái, dãi này gợn sóng, nhìn có cảm giác óng ánh và lấp lánh Hai cạnh của cánh sau
có rìa lông rất dài Khi đậu cánh xếp xuôi theo thân và dựng đứng phía trên thân mình, đuôi cánh hơi nhô lên cao Râu dầu dài từ 3 - 3,5 mm và luôn đưa tới trước rất linh hoạt Thời gian sống của ngài từ 4 đến khoảng 17 ngày tùy giống cái hay đực và tùy điều kiện sống Một ngài cái có thể đẻ đến 200 trứng, trung bình 90 trứng và đẻ cao điểm vào đêm thứ nhất và thứ hai
Tuổi 1: thân màu trắng đục, dài khoảng 0,8 mm Đến cuối tuổi này cơ thể sâu dài từ 1,2 - 1,5 mm Tuổi 1 phát triển từ 2 - 4 ngày
Tuổi 2: mình sâu bắt đầu chuyển sang màu hơi xanh nhưng vẫn còn đục Sâu dài từ 1,5 - 3,5 mm Ở tuổi 2 sâu phát triển trong thời gian từ 1 - 3 ngày Tuổi 3: mình sâu màu xanh lục tươi, dài từ 3,5 - 5,5 mm và phát triển từ 1 - 3 ngày
Tuổi 4: sâu có màu xanh lục sậm hơn, kích thước cơ thể từ 5,5 - 9 mm, phát
Trang 16triển từ 1- 4 ngày Ấu trùng tuổi 4 sau khi đạt kích thước tối đa, bắt đầu nhả tơ làm nhộng Đầu tiên, sâu quay đầu về phía sau đuôi nhả tơ bao phủ phần đuôi trước, dần dần tới phía trên đầu Sau khi nhả tơ xong sâu lột xác lần cuối cùng để thành nhộng
Khi mới hình thành nhộng có màu xanh nhạt, khoảng 2 ngày sau thành màu vàng nhạt, chiều dài nhộng từ 5 - 7 mm, chung quanh nhộng có kén bằng tơ bao phủ Thời gian nhộng từ 4 - 7 ngày
Hình 3.10: Ấu trùng và nhộng sâu tơ
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Ngài thuộc loại ngài đêm nhưng ít bị quyến rũ bởi ánh sáng đèn Ban ngày, ngài thường ẩn ở mặt dưới lá rau cải, khi bị động mới bay lên một quãng ngắn Chiều tối bay ra bắt cặp và đẻ trứng Ngài hoạt động nhiều nhất khi trời bắt đầu tối đến nửa đêm Ngài có thể giao phối ngay sau khi vũ hóa và một đến hai ngày sau thì đẻ trứng Trứng được đẻ phân tán hay thành từng khóm từ 3 - 5 cái ở mặt dưới lá, gần gân hay chỗ lõm trên lá
Sâu tuổi 1 đục một lổ nhỏ ở mặt dưới lá, xong chui đầu vào ăn nhu mô lá, chỉ chừa lại biểu bì Sâu tuổi 2 gặm ăn mặt dưới lá để lại lớp biểu bì mặt trên lá tạo thành những đốm trong mờ Cuối tuổi 2 trở đi sâu gặm lủng lá Trên một cây cải bắp bị hại nặng có thể có từ 100 - 300 sâu Khi bị động đến sâu thường nhả tơ buông mình xuống đất nên loài sâu này còn có tên gọi là " Sâu dù"
Trang 17Hình 3.11: Triệu chứng gây hại của sâu tơ
* Yếu tố ảnh hưởng đến mật số
Sâu tơ chịu đựng sự giao động nhiệt độ khá cao, từ 10oC - 40oC, thích hợp nhất là từ 20 - 30o C, nếu ở hai đầu biên độ thì sâu phát triển kém, khả năng sinh sản của ngài bị giảm Ở nhiệt độ từ 20 - 30oC, sâu tơ có vòng đời từ 20 - 30 ngày Nhưng nếu nhiệt độ biến động từ 15 - 20oC thì vòng đời sâu có thể trên 40 ngày
Ẩm độ cũng có ảnh hưởng đến khả năng đẻ trứng của ngài Nếu ẩm độ nhỏ hơn 70% và nhiệt độ khoảng 10oC thì ngài không đẻ trứng Ẩm độ cao, mưa dầm nhiều ngày sâu hay bị ký sinh
Sâu tơ thường bị các loài ong, ruồi, nấm, virus ký sinh gây chết nhiều
b) Bọ nhảy Phyllotreta strolata Fabricius
Họ Ánh kim (Chrysomelidae) - Bộ Cánh cứng (Coleoptera)
* Phân bố và ký chủ: đây là loài côn trùng gây hại chủ yếu trên rau cải họ
thập tự ở nước ta và nhiều nước trên thế giới
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Thành trùng có chiều dài thân từ 1,8 - 2,4 mm, hình bầu dục, toàn thân màu đen bóng Trên cánh trước có 8 hàng chấm đen lõm dọc cánh và hai vân sọc cong
có hình dáng tương tự vỏ đậu phộng màu vàng nhạt Đốt đùi chân sau to khoẻ giúp thành trùng nhảy xa Một thành trùng cái đẻ từ 25 - 200 trứng Đời sống của thành trùng rất dài, có thể đến 1 năm
Trang 18Hình 3.12: Thành trùng bọ nhảy
Trứng màu trắng sữa, hình bầu dục, dài khoảng 3 mm
Ấu trùng lớn đủ sức dài khoảng 4 mm, hình ống tròn, mìmh màu vàng nhạt,
3 đôi chân ngực rất phát triển Mỗi đốt của cơ thể sâu đều có các u lồi Ấu trùng
có 3 tuổi và phát triển từ 3 - 4 tuần
Nhộng hình bầu dục, màu vàng nhạt, dài khoảng 2 mm, mầm cánh và mầm chân sau rất dài; đốt cuối cùng có 2 gai lồi Nhộng phát triển từ 7 - 10 ngày
Hình 3.13: Ấu trùng nhộng bọ nhảy
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Thành trùng thường ẩn vào nơi râm mát, mặt dưới các lá gần mặt đất khi trời nắng, có khả năng nhảy xa và bay rất nhanh, thường bò lên mặt lá ăn phá vào lúc sáng sớm và chiều tối, cắn lủng lá cải thành những lổ đều đặn trên khắp mặt lá rất
dễ nhận diện, làm lá có thể bị vàng và rụng Thành trùng đẻ trứng chủ yếu trong đất, cách rễ chính khoảng 3 cm, đôi khi đẻ trứng ngay trên thân cây, gần sát mặt đất Ấu trùng ăn rễ cây làm cây bị còi cọc, đôi khi héo hoặc thối Khi lớn đủ sức
ấu trùng làm nhộng ngay trong đất, ở độ sâu từ 3 - 7 cm
Trang 19Hình 3.14: Triệu chứng gây hại của bọ nhảy
c) Rầy mềm Aphididae
Họ Rầy mềm (Aphididae) - Bộ Cánh đều (Homoptera)
Có 3 loài gây hại phổ biến
- Myzus persicae Sulzer
- Rhopalosiphum pseudobrassicae Davis
- Brevicoryne brassicae Linnaeus
* Phân bố và ký chủ
Các loài rầy mềm hại rau cải phân bố ở nhiều vùng trên thế giới như châu
Âu, châu Phi, châu Đại Dương, châu Mỹ, châu Á và có thể gây hại trên nhiều loại
cây khác, nhưng ký chủ chính của chúng vẫn là rau cải Riêng loài Myzus persicae
Sulzer ngoài rau họ thập tự, còn gây hại trên khoai tây, mè, mận, một số cây công nghiệp
* Đặc điểm hình thái và sinh học
+ Myzus persicae Sulzer
- Loại hình không cánh có cơ thể dạng hình trứng, màu xanh hoặc đỏ hoặc vàng nhạt, dài từ 1,3 - 1,9 mm Vòi chích hút màu đen, kéo dài tới đốt chậu chân sau Râu đầu 6 đốt, màu đen Ống bụng màu đen, trên lưng, khoảng giữa 2 ống bụng có một mảnh màu đen hơi nổi to
- Loại hình có cánh có chiều dài thân từ 1,6 - 2 mm Đầu và ngực màu nâu đen, bụng màu vàng hoặc xanh, đôi khi đỏ; giữa mặt lưng của bụng có một đốm
to màu nâu đen Râu đầu 6 đốt màu đen Vòi chích hút kéo dài đến đốt chậu chân giữa Ống bụng màu đen
Ấu trùng lớn đủ sức dài từ 10 - 20 mm, thân màu trắng hoặc vàng nhạt, ngực tương đối lớn, đầu màu nâu Mảnh lưng ngực trước và chân ngực màu đen
+ Rhopalosiphum pseudobrassicae Davis
Thành trùng có cánh, chiều dài thân từ 1,6 - 2,2 mm Đầu và ngực màu đen,
Trang 20bụng màu vàng hay xanh lục Mắt kép màu nâu đỏ Râu đầu ngắn hơn cơ thể Mặt lưng ở mỗi bên có 5 chấm đen nhỏ và ở phần sau ống bụng có 2 vệt đen ngang; đôi lúc trên thân phủ một lớp tương tự như phấn trắng
Thành trùng cái không cánh cơ thể dài khoảng 1,8 mm Toàn thân màu xanh vàng, trên lưng có các vân ngang không liền nhau
+ Brevicoryne brassicae Linnaeus
Thành trùng cái có cánh cơ thể dài từ 1,4 - 1,5 mm Ngực và đầu màu đen, bụng màu xanh lục hay vàng lục đậm hay xanh xám Hai bên thân có 5 điểm đen Toàn thân phủ một lớp phấn trắng Ống bụng rất ngắn
Thành trùng cái không cánh cơ thể dài từ 17 - 2,2mm Toàn thân màu xanh lục nâu, toàn thân cũng phủ đầy phấn trắng
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Cả thành trùng và ấu trùng các loài rầy mềm đều thích tập trung chích hút trên phần non của cây làm cây bị quăn queo, chậm tăng trưởng Trong quá trình phát triển rầy mềm có đặc điểm là khi điều kiện thức ăn kém như lượng nước trong cây giảm hay nhiệt độ thấp hoặc trời khô hạn, sẽ hình thành dạng thành trùng có cánh
Đối với loài Myzus persicae Sulzer, mặc dù sức sinh sản của loài này rất lớn,
nhưng rầy ít khi hình thành quần thể với mật số cao trên nhóm cây họ thập tự, có
lẽ vì đây là loài đa ký chủ, có thể sống được trên nhiều loại cây nên dễ dàng phân tán đi và gây hại trên những cây khác
Một số kết quả nghiên cứu cho thấy có nhiều loài ký sinh rầy mềm trên đồng
ruộng, trong đó các loài thuộc họ Syrphidae có khả năng ký sinh khá cao
d) Sâu ăn đọt cải
Họ Ngài sáng (Pyralidae) - Bộ Cánh vảy (Lepidoptera)
+ Loài Hellula undalis Fabricius
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Ngài nhỏ, màu nâu xám đậm, trên cánh có nhiều sọc ngang gãy khúc màu xám nhạt Rải rác trên cánh có những đốm hình dạng không đồng nhất màu đậm, cuối bìa cánh có một hàng điểm đen Một ngài cái đẻ từ 160 -180 trứng, trung bình 25 - 30 trứng trong một ngày, đẻ cao điểm vào ngày thứ hai sau khi vũ hoá Trứng được đẻ thành từng cái hay 2 - 3 cái trên lá non, cuống lá hay đọt non Đời sống của ngài khoảng 5 - 10 ngày
Trứng hình bầu dục, màu trắng ngà Thời gian ủ trứng từ 4 - 7 ngày
Trang 21Ấu trùng màu hồng, đầu đen và có những sọc đen chạy dọc thân mình Ấu trùng có 4 tuổi, phát triển trong thời gian khoảng 10 ngày
Nhộng màu đỏ nâu, phát triển từ 6 - 8 ngày
Hình 3.15: Thành trùng và ấu trùng Hellula undalis Fabricius
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Sâu hoạt động chậm chạp, ăn lá cải và thường sinh sống trong đọt non làm
hư khối sơ khởi của cây cải và chui xuống đất làm nhộng bên gốc cây cải Sâu tấn công cây cải bắp suốt giai đoạn tăng trưởng của cây và gây hại cao điểm vào khoảng 40 ngày sau khi trồng
Hình 3.16: Sự gây hại của Hellula undalis Fabricius
+ Loài Crocidolomia binotalis Zeller
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Ngài màu xám nâu, có đốm nhỏ màu nâu đậm trên cánh và dọc cạnh sau của cánh trước Ngài có chiều dài thân từ 10 - 14 mm, sải cánh rộng từ 18 - 20 mm Trứng dẹp, hơi tròn và có đường kính từ 1 - 2 mm, được đẻ thành từng khối
Trang 22ở kẽ lá của đọt non Thời gian ủ trứng từ 3 - 5 ngày Khi mới đẻ khối trứng màu xanh, sau khoảng 2 ngày có màu xanh vàng và trước khi nở màu đen xám
Ấu trùng khi mới nở màu xanh vàng, đầu nâu, dần dần cơ thể chuyển thành màu đậm và đến tuổi cuối có màu nâu đậm với 3 sọc trắng trên lưng và mỗi bên hông có 3 đốm tròn nhỏ ở mỗi đốt Toàn thân có nhiều lông dài trong suốt Lớn
đủ sức ấu trùng dài từ 14 - 17 mm Ấu trùng có 5 tuổi phát triển trong thời gian từ
12 - 15 ngày
Nhộng màu nâu đỏ, dài từ 10 - 15 mm Sâu làm nhộng trong đất, thời gian nhộng từ 7 - 10 ngày
Hình 3.17: Thành trùng, ấu trùng và nhộng Crocidolomia binotalis Zeller
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Sâu nhả tơ phủ bên ngoài đọt non rồi sống tập trung tại nơi đó ăn phá Sâu
có thể ăn trụi lá hay đứt ngọn Khi cây cải có hoa thì sâu nhả tơ cuốn các cánh
hoa, ăn đứt hoa, trái và cả hột
1.3 Thành phần côn trùng hại quan trọng trên cây họ bầu bí dưa
a) Bọ rùa nâu Epilachna vigintioctopuntata Fabricius
Họ Bọ rùa (Coccinellidae) - Bộ Cánh cứng (Coleoptera)
* Ký chủ: ngoài bầu, bí, dưa, loài bọ rùa này còn tấn công cả cà chua, đậu
bắp, ớt, các loại đậu
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Thành trùng có cánh màu đỏ cam, có 28 chấm đen trên cánh Cơ thể có chiều dài từ 5 - 7 mm và rộng từ 4 - 6 mm Thành trùng cái sống khoảng 51 ngày và thành trùng đực sống từ 40 - 45 ngày
Trứng hình thoi, màu vàng, thường được đẻ thành từng khóm từ 9 - 55 cái ở
Trang 23mặt dưới lá và được xếp thẳng đứng với mặt lá Trứng dài từ 1,2 - 1,5 mm Một thành trùng cái có thể đẻ từ 250 - 1000 trứng trong thời gian từ 3 - 5 ngày Thời gian một thành trùng cái đẻ 1 ổ trứng kéo dài 20 - 30 phút Khi sắp nở trứng có màu vàng sậm Trứng của loài này nở rất đồng loạt và có tỉ lệ nở từ 95 - 100%
Ấu trùng có 4 tuổi, phát triển trong thời gian từ 16 - 23 ngày Khi sắp nở, ấu trùng cắn đỉnh vỏ trứng rồi dùng cử động của chân để chui ra ngoài Thời gian chui ra của một ấu trùng mất trung bình 30 phút Sau khi nở, ấu trùng tập trung tại vỏ trứng từ 12 - 15 giờ và ăn hết vỏ trứng hay ăn các trứng chưa nở kịp hoặc không nở đến khi không còn trứng nào chúng mới phân tán tìm thức ăn Ấu trùng màu vàng khi mới nở, lớn đủ sức màu đậm Trên khắp mình có gai nhỏ màu nâu đậm mọc thẳng góc với da
- Tuổi 1: cơ thể có chiều dài từ 1 - 1,2 mm và chiều rộng từ 0,5 - 0,6 mm; toàn thân màu vàng, trên thân có 6 hàng gai, phát triển từ 2 - 3 ngày
- Tuổi 2: cơ thể có kích thước 2,1 x 0,9 mm; màu vàng, 6 hàng gai trên thân
đã hiện rõ, phát triển từ 2 - 4 ngày, trung bình 2,3 ngày
- Tuổi 3: cơ thể có kích thước 3,5 x 1,2 mm; màu vàng, các chi tiết khác giống như tuổi 2 và phát triển từ 2 - 4 ngày, trung bình 2,7 ngày
- Tuổi 4 kéo dài từ 4 - 5 ngày, trung bình 4,6 ngày Cơ thể có kích thước khoảng 5 x 2 mm
Nhộng màu vàng nhạt gần như trắng với nhiều đốm màu nâu đậm trên thân
và chuyển sang vàng khi sắp vũ hóa Nhộng có chiều dài từ 5 - 6 mm, rộng từ 3 đến 4 mm Nhộng phát triển trong thời gian từ 2 - 7 ngày và thường được hình thành ở mặt dưới lá Trước khi làm nhộng 1 ngày, ấu trùng nằm bất động, không
ăn phá và màu sắc có thay đổi chút ít, từ vàng chuyển sang vàng nhạt Ấu trùng gắn phần cuối bụng vào lá cây xong lột xác lần cuối để thành nhộng Trên mình nhộng có vài điểm đen, trong đó hai đốm đen ở đầu nhộng rất rõ, phần cuối nhộng
có phủ một lớp gai
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Cả ấu trùng và thành trùng đều sống ở mặt dưới lá, cạp biểu bì và nhu mô diệp lục của lá, chỉ còn lại biểu bì trên và gân Mật số cao bọ rùa có thể cạp ăn trụi
lá trên cây và sau đó có thể tấn công tiếp phần ngọn, trái non và cuống trái Ấu trùng có khả năng ăn mạnh hơn thành trùng, nhất là ấu trùng tuổi 4, ăn mạnh gấp
2 - 3 lần thành trùng
Trang 24Hình 3.18: Thành trùng, ấu trùng và sự gây hại của bọ rùa nâu
b) Ruồi đục lá Liriomyza trifolii Burgess
Họ Ruồi đục lá (Agromyzyiidae) - Bộ Hai cánh (Diptera)
* Ký chủ: Đây là loài côn trùng phá hại trên nhiều loại cây như bầu bí dưa
leo dưa gan, cà chua, ớt, đậu nành, đậu trắng v v
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Thành trùng rất nhỏ, dài từ từ 1,3 - 1,5 mm, màu đen bóng, nhưng một phần
cơ thể, gồm cả phiến mai trên ngực có màu vàng Mắt kép màu đen bóng Cánh trước có chiều dài khoảng 1,4 mm, rộng 0,60 mm Cánh sau thoái hóa còn rất nhỏ, màu vàng nhạt Bụng và chân có nhiều lông, chân màu vàng, đốt chày và đốt bàn màu đen, bàn chân 5 đốt, đốt cuối có 2 móng cong màu đen
Trứng rất nhỏ, màu trắng hồng, tròn, đường kính khoảng 0,2 mm
Ấu trùng có chiều dài khoảng 2 mm, màu vàng nhạt khi mới nở, sau chuyển thành màu vàng đậm Cơ thể có 10 đốt, miệng dạng móc câu màu đen Thời gian phát triển của ấu trùng từ 3 - 4 ngày
Nhộng có chiều dài khoảng 1,5 mm, rộng 0,7 mm Thời gian phát triển của nhộng từ 6 - 8 ngày
Hình 3.18: Thành trùng, ấu trùng và nhộng của ruồi đục lá
Trang 25* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Thành trùng hoạt động mạnh từ 7 - 9 giờ sáng và từ 4 - 5 giờ chiều Thành trùng cái dùng bộ phận đẻ trứng rạch mặt lá tạo nhiều lỗ Trong số đó có một số
lổ chứa trứng, chỉ khoảng 1%, phần lớn các lỗ còn lại dùng làm thức ăn cho thành trùng cái và đực do chất lỏng ứa ra từ vết chích Các lỗ đục thường xuất hiện ở chóp lá hay dọc theo 2 bìa lá
Ruồi gây hại cho cây bằng cách đục thành những đường ngoằn ngoèo ở mặt trên lá, lúc đầu đường đục nhỏ, càng lúc càng to dần cùng với sự phát triển của cơ thể ấu trùng Đường đục xuất hiện ở cả hai mặt lá nhưng thấy rõ nhất là ở mặt trên
lá Khi trưởng thành, dòi đục thủng biểu bì chui ra ngoài và làm nhộng trên mặt lá hay trên các bộ phận khác của cây hoặc buông mình xuống đất làm nhộng
Các vết đục khắp mặt lá làm cho lá bị khô, trái nhỏ, giảm phẩm chất của trái, nếu trầm trọng làm năng suất giảm
Hình 3.19: Triệu chứng gây hại của ruồi đục lá
c) Bù lạch Thrips palmi Karny
Họ Thripidae - Bộ Cánh tơ (Thysanoptera)
* Phân bố và ký chủ
Loài bù lạch này có diện phân bố rất rộng và có thể tấn công trên nhiều loại cây trồng từ các loại rau cho đến các loại cây ăn trái Đặc biệt, gần đây chúng phát dịch và gây hại trầm trọng trên dưa hấu và dưa leo
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Bù lạch có cơ thể rất nhỏ, khoảng 1 mm, màu vàng hơi nâu, hai mắt đen Miệng phát triển cho việc chích hút, chân của bù lạch rất đặc biệt là đốt bàn không
Trang 26có móng mà tận cùng bằng một mảnh nhỏ, râu màu đen gồm sáu đốt Thành trùng
Hình 3.20: Thành trùng, ấu trùng bọ trĩ Thrips palmi Karny
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Bù lạch thường đẻ trứng trong mô lá Cả ấu trùng và thành trùng bù lạch thường sống ở mặt dưới lá và hay chui vào gần gân để trốn, do đó rất khó nhìn thấy, và thuốc trừ sâu cũng rất khó tiếp xúc được với chúng Bù lạch thường chích cho nhựa cây chảy ra để hút ăn, đôi khi còn cạp cả mô lá hoặc cây Lá cây bị bù lạch gây hại bị quăn queo, lá non biến dạng và cong xuống phía dưới Đọt non bị
bù lạch tấn công không phát triển dài ra được mà chùn lại và cất cao lên, được nên nông dân thường gọi là hiện tượng “đầu lân” hay “bắn máy bay” trên dưa hấu
Bù lạch còn tryền bệnh khảm do vi rút làm vàng và xoăn lá, cây không chết nhưng
ra hoa mà không cho trái
Trang 27Hình 3.21: Triệu chứng gây hại của bọ trĩ trên bầu bí dưa
d) Ruồi đục trái Dacus cucurbitae Coquillet
Họ Ruồi trái cây (Trypetidae) - Bộ Hai cánh (Diptera)
* Ký chủ: ruồi gây hại trên các loại cây thuộc họ Cucurbitaceae như dưa,
bầu bí, mướp, khổ qua Có phân bố giới hạn trong vùng nhệt đới
* Đặc tính sinh học
Ruồi có hình dáng tương tự ruồi đục trái cây Bactrocera dorsalis nhưng
khác nhau là ở phần ngực có thêm một vạch màu vàng ngay chính giữa, cánh trước có một vệt màu đậm dọc gân ngang ở gần cuối cánh
Hình 3.22: Thành trùng ruồi đục trái Dacus cucurbitae Coquillet
Trang 28Trứng hình bầu dục màu trắng bóng, đẻ thành chùm bên trong vỏ trái Thời gian ủ trứng từ 2 - 3 ngày
Dòi màu trắng ngà, đầu nhọn với mó của miệng màu đen Thời gian phát triển của dòi từ 7- 9 ngày
Nhộng hình trụ, màu vàng khi mới hình thành, nhưng khi sắp vũ hoá có màu nâu Thời gian nhộng từ 8 - 10 ngày
Chu kỳ sinh trưởng của ruồi từ 16 - 23 ngày
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Ruồi cái chọn các trái non và dùng bộ phận đẻ trứng để đục vỏ trái và đẻ trứng vào bên trong thành từng chùm 5-10 trứng Dòi nở ra đục thành đường hầm bên trong trái làm cho trái bị hư thối Khi sắp làm nhộng dòi đục vỏ trái, chui ra ngoài và búng mình cho rơi xuống đất để làm nhộng dưới mặt đất một lớp không sâu lắm, nhưng trong mùa mưa dòi làm nhộng ngay bên trong trái
Hình 3.23: Sự gây hại của ruồi đục trái Dacus cucurbitae Coquillet
2 Biện pháp quản lý côn trùng hại trên cây rau màu
b) Luân canh, xen canh
Trang 29Tùy từng mùa vụ, chọn loại rau trồng cho thích hợp Luân canh với cây khác
họ, tốt nhất là cây lúa nước
Có thể trồng xen canh với cây khác họ cũng có tác dụng làm gián đoạn nguồn thức ăn và xua đuổi sâu hại
Ví dụ trồng cà chua xen với cây rau thập tự như cải bắp, cải thảo, súp lơ…vv, mùi cây cà chua có tác dụng xua đuổi sâu tơ hại trên cây rau thập tự
c) Bón phân và tưới nước hợp lý Tùy thuộc loại cây và thời gian sinh trưởng
mà áp dụng các phương pháp tưới nước khác nhau: tưới phun lên cây, tưới rãnh, tưới nhỏ giọt, tưới đủ ẩm không đọng nước… giúp rau sinh trưởng phát triển
tốt và hạn chế được sâu bệnh hại trên rau
d) Trồng cây khỏe , không bị sâu bệnh hại, loại bỏ cây yếu, chết
2.2 Biện pháp vật lý
Thường xuyên vệ sinh đồng ruộng; ngắt những lá già, lá bị sâu bệnh, cây bị bệnh và các tàm dư thực vật, thu gom để vào một khu vực sau đó mang đi tiêu hủy Đối với đặc tính của một số sâu, như sâu tơ đẻ trứng và hại mặt dưới của lá, sâu xanh bướm trắng đẻ trứng và hại ở mặt trên của lá vv Các đối tượng sâu này, cần thường xuyên kiểm tra đồng ruộng để ngắt bỏ ổ trứng mới nở và giết nhộng của chúng, hạn chế việc sử dụng thuốc hoá học về sau
Ngoài ra, có thể sử dụng bẫy dính màu vàng hoặc màu xanh để bẫy một số con trưởng thành có cánh như rệp, ruồi đục lá, đục quả, bọ nhảy…hại nhiều loại cây trồng Những loại bẫy này chi phí thấp, có thể tận dụng các vật liệu tái chế sẵn có để làm bẫy Bẫy nên đặt ở độ cao 40 – 60 cm tính từ bệ cây là thích họp nhất
Sử dụng bẫy cây trồng để dẫn dụ sâu hại hoặc xua đuổi sâu hại
Ví dụ: trồng cây hoa hướng dương trên đầu các bờ ruộng rau, để thu hút sâu khoang đến đẻ trứng
Bên cạnh đó, có thể sử dụng bẫy pheromon treo trên ruộng rau để thu hút con trưởng thành cái đến các bẫy mà không giao phối được, không đẻ được trứng
Trang 30Cách đặt bẫy pheromon: Sử dụng lọ nhựa hoặc bát nhựa đã dùng một lần, có
đường kính 18-22cm, buộc mồi vào dây thép theo kiểu quang treo, sau đó đổ nước 1/3 thể tích bát có pha thêm một ít xà phòng, xà phòng có tác dụng khi bướm bay vào bẫy, rơi xuống nước, sẽ bị bịt lỗ thở lại và chết rất nhanh
Tùy từng loại rau mà chúng ta treo bẫy khác nhau Đối với loại cây thấp như
su hào, bắp cải, hành … đặt bẫy ở vị trí cao hơn bề mặt tán cây trên ruộng chừng 20- 30cm Đối với cây trồng như đậu leo, cà chua, dưa chuột… thì treo bẫy ở vị trí sát mặt giàn cây để tạo thuận lợi cho pheromon lan tỏa rộng
Cách đặt bẫy pheromon cho các cây leo
Các loại mồi pheromon có hiệu quả hấp dẫn sâu hại trong thời gian ít nhất là 21-24 ngày, tùy theo điều kiện thời tiết và theo từng vùng thì thay bã, tốt nhất thay mồi pheromon mới theo định kỳ 20 ngày kể từ ngày sử dụng
Chú ý đặt bẫy liên tục từ khi trồng đến khi thu hoạch sản phẩm Cần thường xuyên kiểm tra các bẫy để vớt những con bướm đã chết và bổ sung thêm nước xà phòng khi cần thiết
Kính lúp cầm tay, kính lúp soi nổi
Giấy A4, viết chì, kẹp nhọn
3.3 Thực hành
Với sự hướng dẫn của giảng viên, mỗi sinh viên thực hành quan sát đặc điểm của các loại sâu hại
3.4 Phúc trình
Trang 31CHƯƠNG 4 CÔN TRÙNG HẠI KHO PHỔ BIẾN TRÊN THẾ GIỚI &
VIỆT NAM Giới thiệu:
Nội dung bài tập trung về thành phần, triệu chứng gây hại, đặc điểm hình thái và biện pháp phòng trừ một số loài sâu hại chủ yếu trên cây mía và cây dừa
Mục tiêu:
Kiến thức:
+ Trình bày thành phần loài côn trùng gây hại quan trọng trên cây mía, dừa + Trình bày đặc điểm hình thái và triệu chứng gây hại của các loài gây hại trên cây mía, dừa
+ Trình bày các điều kiện ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển và tập tính gây hại của các loài quan trọng trên cây công nghiệp
Kỹ năng:
+ Nhận diện được đặc điểm hình thái và triệu chứng gây hại của các loài côn trùng gây hại trên cây mía, dừa
+ Điều tra mật số côn trùng hại ngoài đồng
+ Tổng hợp, phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp phù hợp để kiểm soát
sự gây hại của côn trùng trên cây mía và cây dừa
Năng lực tự chủ và trách nhiệm: có tinh thần tự học, có phương pháp làm việc khoa học sáng tạo
1 Đặc điểm hình thái và cách gây hại
1.1 Thành phần côn trùng hại quan trọng trên cây mía
a) Sâu đục ngọn Scirpophaga nivella Fabricius
Họ Ngài sáng (Pyralidae) - Bộ Cánh vảy (Lepidoptera)
* Phân bố và ký chủ
Loài sâu này xuất hiện nhiều ở Ấn Độ, Đài Loan, Malaysia, Myanmar, Nhật, Pakistan, Philippines, Sri Lanka, Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam Ngoài mía sâu còn có thể sống trên cỏ lồng vực, lúa
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Ngài có chiều dài cơ thể từ 13 - 15 mm, sải cánh rộng từ 15 - 17 mm Ngài đực nhỏ hơn ngài cái Ngực trước ngài có màu đen Cánh màu trắng bạc Cuối bụng ngài cái có chùm lông để phủ ổ trứng Ngài sống từ 3 - 6 ngày Một ngài cái
Trang 32- Hàm lượng đạm ở lá cao được xem là yếu tố thu hút ngài tới đẻ trứng và ấu trùng tới tấn công
- Bóc lá giúp cây phát triển tốt, làm tăng lượng đường trong thân cây; đồng thời ruộng mía thông thoáng, không thu hút ngài tới đẻ trứng, giảm lượng sâu tấn công Giống mía có lá rập, thân uốn cong, cây có vỏ mềm, ít xơ thường bị sâu hại nặng hơn những giống có thân đứng, cứng cây
- Ngoài thiên nhiên loài sâu này thường bị các loài ong thuộc họ Trichogrammatidae tấn công; do đó, nếu trồng xen mía và cây phân xanh thuộc
họ Đậu có thể làm tăng mật số ong ký sinh
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Ngài hoạt động vào ban đêm, thường đẻ trứng ở mặt trong của lá ngọn và ở gần chóp lá Ngài thích đẻ trứng ở những vườn mía dưới 6 tháng tuổi Hầu hết trứng đều được đẻ từ lá thứ 2 đến lá thứ 5 kể từ ngọn Trong mỗi ổ, trứng được đẻ xếp thành 2 đến 4 hàng chồng lên nhau (trung bình 2 - 26 trứng trong 1 ổ) Ổ trứng được phủ bằng lông màu vàng từ bụng ngài cái Một ngài cái có thể đẻ đến 6 ổ trứng Trứng
nở đồng loạt vào buổi sáng và tỉ lệ nở rất cao, có thể từ 80 - 90%
Sâu mới nở rất nhanh nhẹn, bò khắp nơi, thường nhả tơ nhờ gió đưa sang các cây khác Sau đó sâu đục dần vào mặt dưới gân chính của lá non nhất mới vừa mở
ra và chui vào bên trong Từ 24 - 48 giờ sau sâu đục xuống được khoảng 18 - 24
cm đến chồi ngọn và ăn dần xuống đỉnh sinh trưởng, gây hiện tượng chết đọt từ 7
- 14 ngày sau đó Nếu chồi ngọn bị thiệt hại nhẹ thì khi lá trổ ra sẽ có những lổ đục màu hơi nâu xếp thành hàng ngang Đường đục trong thân thẳng và thường chỉ có một sâu trong một thân cây Sâu làm nhộng ngay bên trong thân cây; trước khi làm
Trang 33nhộng sâu khoét 1 lổ nhỏ để khi vũ hóa ngài dễ chui ra ngoài
Thường sâu đục ngọn mía chỉ phá hại ruộng mía từ 1 tháng tuổi trở đi, lúc mía đã đâm khá nhiều chồi con Dấu hiệu để nhận diện mía bị sâu đục là ngọn ngắn lại, lá ngắn và trên lá có nhiều lổ màu nâu xếp theo bề ngang, đọt mía ở giữa thối đen và đứt thành khúc ngắn; đôi khi không thấy ngọn Nếu sâu đã đục mất đỉnh sinh trưởng thì cây mía sẽ mọc các chồi trên thân, gần ngọn, nhưng ruộng mía bị mất nhiều cây, thời gian thu hoạch kéo dài Nghiêm trọng nhất là lúc cây mía đã cao trên 1 mét, có nhiều lóng bị đục ngọn, cây đâm chồi trên thân, dễ trở thành chồi vô hiệu Mía đang lớn mà bị hại thì những mầm ngủ được kích thích
sẽ phát triển thành những chồi ngang
b) Sâu đục thân Proceras venosatus Walker
Tên khác: Chilo sacchariphagus Boyer
Họ Ngài sáng (Pyralidae) - Bộ Cánh vảy (Lepidoptera)
* Phân bố và ký chủ
Sâu xuất hiện khắp các vùng trồng mía trên thế giới và nước ta Ngoài mía, chúng còn có thể tấn công bắp, lúa miến
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Ngài dài 13-16 mm, sải cánh rộng 30-40 mm Mắt kép màu nâu đen Đầu và ngực màu vàng xám Bụng màu trắng vàng Cánh trước màu vàng xám có nhiều sọc xám đen, gần đầu cánh có 1 chấm đen nhỏ Thời gian sống của ngài từ 3 đến
7 ngày Một ngài cái có thể đẻ từ 150-350 trứng
Trứng hình bầu dục dài, màu trắng sữa Trứng được đẻ ở mặt dưới lá thành
2 hàng, xếp như hình vảy cá Thời gian ủ trứng từ 5 - 7 ngày
Sâu lớn đủ sức dài từ 20 - 30 mm, màu vàng nhạt Đầu màu nâu đỏ, lưng có
4 sọc màu xám nâu chạy dọc cơ thể; mỗi đốt bụng có 6 đốm màu nâu, mỗi đốm
có 1 sợi lông mọc ra Sâu có 5 tuổi, phát triển từ 26 - 39 ngày
Nhộng dài từ 12 - 15 mm, màu nâu Thời gian nhộng từ 7 - 12 ngày
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Ngài thường vũ hoá từ 21 - 22 giờ đêm và hoạt động vào ban đêm, ban ngày ẩn dưới lá hay thân cây Phần lớn ngài đẻ trứng ở mặt dưới lá, gần gân chính
Trứng được đẻ thành từng ổ, một ổ trứng có khoảng 10 - 20 cái; trong mỗi
ổ, trứng được đẻ xếp thành hàng như vảy cá và được gắn chặt vào lá mía Trứng
nở vào buổi sáng, rộ nhất lúc gần trưa
Khi cây mía chưa có lóng, sâu non sau khi nở tập trung ăn phần mô mềm của
Trang 34lá mía, để lại lớp biểu bì mỏng Thời kỳ này của sâu khoảng 10 - 14 ngày Đến tuổi 3, sâu phân tán, chuyển xuống bẹ lá để đục vào nơi mềm gần đốt trên thân cây mía.Lúc mía còn nhỏ (giai đoạn đẻ nhánh), chưa có lóng, sâu đục vào bên trong, ăn từ dưới lên đến đỉnh sinh trưởng, gây ra hiện tượng chết đọt
Khi mía đã lớn, có lóng, sâu đục phá phần lóng, không xuyên qua mắt được;
do đó phải đục ra ngoài xong đục sang lóng khác Lổ đục hình tròn, xung quanh
có quầng màu vàng và trên một mắt mía có nhiều lỗ xếp thành hàng vòng theo thân cây mía Đường đục phía trong thân thường ngoằn ngoèo và có nhiều đường ngang
Sâu thường làm nhộng giữa bẹ và thân Sâu thích những vườn mía có lóng trên 3 tháng tuổi; có thể làm ngọn mía ngừng tăng trưởng hoặc chết, sẽ có nhiều chồi nách mọc ra ngay dưới nơi bị sâu đục Chồi phụ phát triển nhiều làm lượng đường saccharose phải phân hủy thành đường glucose và fructose nên mía bị chua, bên trong thân cây mía có màu đỏ và mía có mùi rượu Cây mía bị loài sâu này tấn công thường rỗng ruột, khi có gió mạnh cây dễ gãy Mùa mưa sâu gây hại
nhiều hơn mùa nắng
c) Sùng đục gốc mía Alissonotum impressicole Arrow
Họ Bọ hung (Scarabaeidae) - Bộ Cánh cứng (Coleoptera)
* Phân bố và ký chủ
Loài này xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trồng mía trên thế giới, nhất là các nước Ấn Độ, Myanmar, Trung Quốc, Philippines, Nam Phi
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Thành trùng khi mới vũ hóa có màu vàng nhạt, sau chuyển thành màu nâu
đỏ, cuối cùng thành màu nâu đen lấp lánh Mặt bụng và chân có màu nâu đen Cơ thể dài từ 15 - 17 mm Đầu nhỏ hình tam giác, đầu mút phía trước có hai cục lồi;
2 cục này tạo 2 u lồi trên đỉnh đầu thành hình thang ngược Gần phía trước mảnh lưng ngực trước không có u lồi rõ rệt Phía ngoài đốt chày chân trước có nhiều răng, răng thứ ba kể từ đỉnh nhỏ hơn răng thứ tư Đốt đùi chân giữa và chân sau
có 3 chùm lông nhỏ Trên cánh cứng có 8 tuyến rõ rệt, tuyến thứ nhất và thứ 7 có nhiều điểm đen không theo qui luật Riêng tuyến thứ 3 và 5 có những điểm xếp trật tự có qui luật hơn
Trứng hình bầu dục, màu trắng sữa, kích thước 2,3 x 1,5 mm Mặt trứng có những vân hình mạng lưới Trứng có dạng hình tròn, trước khi nở trứng có màu tro xám Thời gian ủ trứng từ 15 - 20 ngày
Ấu trùng màu trắng sữa, đầu và chân màu vàng nhạt Bụng cũng màu vàng nhạt, nhưng phía cuối có màu đen và nhiều lông gai, các lông hình móc câu, ở mặt