Giáo trình được biên soạn và trình bày theo từng nhóm cây trồng bao gồm: thành phần loài côn trùng gây hại phổ biến trên từng cây trồng cụ thể, tình hình phân bố, đặc điểm hình thái, sinh học, triệu chứng gây hại và thiên địch của chúng. Riêng biện pháp phòng trừ trình bày chung theo từng nhóm cây trồng như: cây lương thực, cây ăn trái, cây rau màu, cây công nghiệp và cây hoa kiểng. Mời các bạn cùng tham khảo, nội dung phần 1 giáo trình!
Thành phần côn trùng hại quan trọng trên cây lúa
a) Rầy nâu Nilaparvata lugens St
Tên tiếng Anh: Rice brown planthopper
Họ: Rầy thân (Delphacidae) - Bộ: Cánh đều (Homoptera)
Rầy nâu xuất hiện ở tất cả các quốc gia trồng lúa, nhất là ở các nước đồng bằng nhiệt đới châu Á như Ấn Độ, Bangladesh, Đài Loan, Indonesia, Nhật Bản, Philippines, Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam Sự phân bố rộng của rầy nâu cho thấy đây là dịch hại phổ biến trên lúa nước và đòi hỏi các biện pháp quản lý dịch hại hiệu quả, phù hợp với từng vùng khí hậu và thói quen canh tác Việc theo dõi sự xuất hiện và diễn biến của rầy nâu, kết hợp với dự báo thời tiết và điều kiện ruộng, sẽ giúp tối ưu hóa các biện pháp phòng trừ và giảm thiểu thiệt hại cho vụ mùa.
* Ký chủ: cây lúa là ký chủ chính, ngoài ra rầy nâu có thể sống trên lúa hoang
* Đặc điểm hình thái và sinh học:
Cơ thể rầy nâu có màu vàng, đỉnh đầu nhô ra phía trước Phần gốc râu có hai đốt nở to, đốt roi râu dài và nhỏ Cánh trong suốt, giữa cạnh sau của mỗi cánh trước có một đốm đen; khi hai cánh xếp lại, hai đốm này chồng lên nhau tạo thành một đốm đen to trên lưng Ấu trùng rầy nâu gọi là rầy cám; khi mới nở rất nhỏ màu trắng sữa, càng lớn chuyển sang màu nâu nhạt Ấu trùng có 5 tuổi, phát triển trong thời gian từ 14 ngày.
Rầy đực có cơ thể dài khoảng 3,6–4,0 mm Rầy cái có màu nâu nhạt và kích thước lớn hơn rầy đực, với chiều dài cơ thể từ 4–5 mm Bụng cái to tròn và ở giữa mặt dưới bụng có bộ phận đẻ trứng bén nhọn màu đen.
Thành trùng rầy nâu có hai dạng cánh:
- Cánh dài che phủ cả thân và chủ yếu dùng để bay tìm thức ăn
- Cánh ngắn phủ đến đốt thứ sáu của thân; dạng cánh này chỉ phát sinh khi thức ăn đầy đủ, thời tiết thích hợp, và có khả năng đẻ trứng rất cao
Rầy nâu cánh dài thường có khả năng di chuyển nhanh và có xu tính ánh sáng mạnh hơn rầy cánh ngắn Rầy cánh dài đực vào đèn nhiều hơn rầy cánh dài cái Ấu trùng rầy nâu tuổi lớn rất giống thành trùng cánh ngắn nhưng cánh ngắn hơn và đục, trong khi cánh của thành trùng cánh ngắn thì trong suốt với các gân màu đậm
Hình 1.1: Hình thái rầy nâu qua các lần lột xác Đời sống trung bình của thành trùng khoảng 10 - 20 ngày Sau khi vũ hóa từ
Trong vòng 3–5 ngày sau khi trưởng thành, rầy cái bắt đầu đẻ trứng bằng cách rạch bẹ lá hoặc gân chính của phiến lá Rầy cái thường tập trung đẻ trứng ở gốc lúa, cách mặt nước từ 10–15 cm Khả năng đẻ trứng của rầy cái phụ thuộc vào dạng cánh: rầy cái cánh dài đẻ khoảng 100 trứng, rầy cái cánh ngắn đẻ khoảng 300–400 trứng; ở điều kiện thích hợp, mỗi con có thể đẻ cả ngàn trứng.
Trứng được đẻ thành từng hàng bên trong bẹ cây lúa, mỗi hàng có từ 8 - 30 cái Trứng giống hình quả chuối, dài từ 0,3 - 0,4mm, mới đẻ màu trắng trong, sắp nở màu vàng, phía trên đầu trứng có bộ phận che lại gọi là nắp trứng Thời gian ủ trứng từ 5 - 14 ngày
Hình 1.2: Trứng và vị trí đẻ trứng của rầy nâu
*Tập quán sinh sống và cách gây hại:
Rầy nâu và ấu trùng của chúng không thích ánh sáng trực xạ và thích sống dưới gốc cây lúa, quanh thân hoặc nhảy xuống nước hoặc lên tán lá để lẩn tránh khi bị khuấy động Chúng dùng vòi để chích hút nhựa của cây lúa; trong quá trình chích hút, nước bọt của rầy phân hủy mô cây, hình thành một lớp bao quanh vòi chích hút, cản trở sự di chuyển của nhựa và nước lên phần trên của cây lúa, làm cây bị khô héo và gây nên hiện tượng cháy rầy.
Rầy nâu thích tấn công cây lúa còn nhỏ, nhưng nếu mật số cao có thể gây hại mọi giai đoạn tăng trưởng của cây lúa:
- Lúa đẻ nhánh: rầy chích hút bẹ lúa tạo thành những sọc màu nâu đậm dọc theo thân
- Lúa từ làm đòng đến trổ: rầy thường tập trung chích hút ở cuống đòng non
- Lúa chín: rầy tập trung lên thân ở phần non mềm
Ngoài gây hại trực tiếp, rầy nâu còn gây hại gián tiếp như:
- Mô cây tại các vết chích hút và đẻ trứng của rầy trên thân cây lúa bị hư do sự xâm nhập của một số loài nấm, vi khuẩn
Hình 1.3: Gốc lúa bị bội nhiễm do vết chích hút của rầy nâu
Phân rầy tiết ra chất đường (dịch rầy) thu hút nấm bồ hóng tập trung quanh gốc lúa, hình thành lớp bám trên rễ và cổ thân Lớp nấm này cản trở quang hợp, khiến cây lúa kém hấp thụ ánh sáng và phát triển chậm, từ đó ảnh hưởng tới năng suất.
Hình 1.4: Rầy nâu tiết dịch ngọt thu hút nấm bồ hóng
- Là môi giới truyền bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá trên lúa
Hình 1.5: Triệu chứng bệnh vàng lùn-lùn xoắn lá
Cây lúa bị bệnh vàng lùn
* Các yếu tố ảnh hưởng mật số:
Thức ăn đóng vai trò quan trọng, quyết định mật số rầy nâu trên đồng ruộng và ảnh hưởng đến xu hướng tăng hoặc giảm của loài gây hại này Các giống lúa ngắn ngày, trồng liên tục nhiều vụ trong năm và bón nhiều đạm tạo điều kiện thuận lợi cho rầy nâu tới sinh sống và phát triển mật số trên ruộng.
- Nhiệt độ: thích hợp là từ 25 - 30 0 C
Độ ẩm tối ưu cho sự phát triển của rầy là 80–86% Mưa lớn và kéo dài nhiều ngày sẽ khiến rầy trưởng thành suy yếu, rầy cám bị rửa trôi và dễ bị tấn công bởi nấm bệnh Ngược lại, mưa nhỏ hoặc mưa nắng xen kẽ, trời âm u là điều kiện thuận lợi để rầy phát triển mật số và tăng nhanh.
- Gió: rầy nâu có thể di chuyển nhờ gió với khoảng cách rất xa, có thể đến hàng chục ngàn km
Yếu tố thức ăn và thời tiết có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành số lượng rầy cái hoặc đực cũng như dạng cánh ngắn hay cánh dài:
+ Tỉ lệ rầy cái/rầy đực:
Ở thời kỳ đẻ nhánh đến trổ, nếu giống lúa thích hợp, thức ăn non mềm, tỉ lệ rầy cái/rầy đực là 4/1
Ở thời kỳ lúa chín, tỉ lệ là 1/1
+ Tỉ lệ rầy cánh ngắn/cánh dài:
Nhiệt độ, ẩm độ thích hợp, thức ăn phong phú, loại hình cánh ngắn xuất hiện nhiều, tỉ lệ rầy cái cao
Nhiệt độ cao, khô hạn, thức ăn không đầy đủ hay không thích hợp thì loại hình cánh dài xuất hiện nhiều
Cuối giai đoạn đâm chồi đến ngậm sữa nếu gặp điều kiện thời tiết thích hợp loại hình cánh ngắn có thể là 100%
Nhóm bắt mồi: bọ rùa đỏ Micraspis sp., bọ ba khoang, bọ xít nước, các loài nhện… tấn công rầy cám và rầy trưởng thành; bọ xít mù xanh Cyrtorhinus lividipennis ăn trứng rầy nâu
Nhóm ký sinh: có nhiều loài ong ký sinh trên trứng, ấu trùng và thành trùng rầy nâu Nấm ký sinh thường gặp trên đồng ruộng là Metarhizium sp., Hirsutella sp., Beauveria bassiana b) Sâu cuốn lá nhỏ Cnaphalocrosis medinalis Gueneé
Họ Ngài sáng (Pyralidae) - Bộ cánh vảy (Lepidoptera)
Loài này có nguồn gốc từ Nhật Bản và phân bố theo hướng Đông Nam Á xuống tới châu Úc, gây hại nghiêm trọng cho nông nghiệp và hệ sinh thái ở nhiều nước, bao gồm Ấn Độ, Bangladesh, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Philippines, Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam.
* Ký chủ: ngoài lúa, sâu còn phá hại trên bắp, mía, lúa hoang, lúa mì, các loại cỏ như Brachiaria (cỏ lông tây), Echinochloa (cỏ gạo), Eleusine (cỏ mần trầu), Imperata (cỏ tranh), Leersia (cỏ Bắc), Panicum (cỏ sả lá lớn), Paspalum(cỏ Pas), Pennisetum (cỏ voi)
* Đặc điểm hình thái và sinh học:
Thành trùng là một loài ngài có chiều dài thân từ 8 - 12mm, sải cánh rộng 19
Thành phần côn trùng hại quan trọng trên cây bắp
a) Dòi đục thân Atherigona oryzae Malloch
Họ Ruồi (Muscidae) - Bộ hai cánh (Diptera)
* Phân bố: Australia, Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Nhật, Malaysia, Myanmar, Nepal, Pakistan, Philippines, Samoa, Sri Lanka, Thailand
* Ký chủ: lúa, bắp, lúa miến, mía, cỏ Panicum repens, Cynodon dactylon
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Thành trùng màu xám đen, trên ngực có 3 sọc mờ Trên 3 đốt bụng cuối có
3 đôi đốm đen Ruồi có chiều dài cơ thể từ 0,4 - 0,5 mm và chiều ngang rộng khoảng 0,3 mm
Trứng rất nhỏ, hình thoi, màu trắng khi mới đẻ và đậm dần khi sắp nở; thời gian ủ trứng từ 2–3 ngày Ấu trùng mới nở màu trắng sữa, ở tuổi cuối có màu vàng sậm, cơ thể thon dài, đầu có móc nhọn, dài từ 1,5–2,5 mm Ấu trùng trải qua 3 kỳ phát triển và quá trình này kéo dài từ 8–10 ngày.
Nhộng màu nâu đỏ đến nâu đậm Thời gian nhộng từ 7đến 8 ngày
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Thành trùng cái có thể sống trong vòng 3 đến 7 ngày, đẻ khoảng 100 trứng, ở cả hai mặt lá non, gần gân lá, thành từng cái riêng lẻ Dòi nở ra bò dần xuống và chui vào đọt non xong di chuyển dần xuống ăn phá nơi chồi ngọn của cây làm đọt bị héo, cây không tăng trưởng được và sinh ra nhiều chồi phụ Dòi thường làm nhộng trong đất nhưng đôi khi ngay trong đọt cây Cây bị hại thường phát triển chậm, vàng và mô cây tại nơi ruồi gây hại bị thối, gây ra chết đọt như triệu chứng của sâu đục thân lúa nếu bị tấn công nặng từ 3-5 ấu trùng trở lên b) Bọ trĩ Franklinella williamsi Hood
Họ Thripidae - Bộ cánh tơ (Thysanoptera)
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Thành trùng thường có màu nâu nhạt, cơ thể dài từ 1,40 - 1,78 mm, và ngang từ 0,35 - 0,40 mm
Trứng rất nhỏ, có dạng hình hạt đậu, màu trắng trong; thời gian ủ trứng từ 3 đến 5 ngày Ấu trùng lớn, khỏe mạnh, màu trắng trong, thân hình nhỏ, không có mầm cánh, và phát triển trong khoảng 5 đến 8 ngày.
Tiền nhộng màu trắng ngả vàng, râu đầu trắng trong, mầm cánh xuất hiện
Cơ thể có chiều dài từ 1,30 - 1,60 mm, giai đoạn tiền nhộng kéo dài từ 2 - 3 ngày
Nhộng màu sậm hơn ở giai đoạn tiền nhộng và cơ thể ngắn hơn, mầm cánh màu trắng trong
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Thành trùng đẻ trứng thành từng cái trong mô của mặt trên lá Cả ấu trùng và thành trùng đều chích hút nhựa lá non, gây ra những đốm mất màu xanh trên lá Nếu mật số cao, bù lạch có thể làm cây con chậm tăng trưởng c) Rầy mềm Rhopalosiphum maidis (Fitch).
Còn có tên là Aphis maidis Fitch
Họ rầy mềm (Aphididae) - Bộ cánh đều (Homoptera)
* Phân bố và ký chủ
Loài rầy mềm có phân bố rộng ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Tại Việt Nam, rầy mềm xuất hiện ở hầu hết vùng trồng bắp và gây hại trên nhiều loại cây trồng khác Ngoài bắp, rầy mềm còn tấn công trên cây lúa, lúa miến, mía, cũng như một số loài cỏ dùng làm thức ăn cho gia súc.
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Thành trùng thân to, có hai dạng: dạng không cánh và dạng có cánh:
Dạng không cánh màu vàng xanh hơi xám có kích thước nhỏ, dài từ 1,46 đến 1,8 mm và chiều ngang cơ thể từ 0,5 đến 0,8 mm Đầu có hai sọc dọc màu đậm và nhiều lông, mỗi bên hông bụng có hai đốm đen dễ nhận biết Ấu trùng ở tuổi non có màu xanh lá cây nhạt, dần chuyển sang xanh đậm và tím khi thành trùng Phần cuối cơ thể nổi bật với hai ống sáp màu đậm, là đặc điểm nhận diện quan trọng của loài.
- Dạng có cánh thân màu xanh lục, đầu, ngực và ống bụng màu đậm Cơ thể dài từ 1,30 - 1,50 mm và rộng từ 0,48 - 0,70 mm
Hình 1.22: Rầy mềm không cánh và rầy mềm có cánh
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Rầy sống thành quần thể trên các bộ phận non của cây như bẹ, lá non và bao cờ, xuất hiện rải rác từ 5–7 con và có thể thành từng đám dày đặc Chúng thích bắp ở giai đoạn trổ cờ vì có nhiều chất dinh dưỡng Cây non bị rầy tấn công sẽ còi cọc, phát triển kém và đôi khi không cho trái Nếu cây cho trái được thì trái sẽ nhỏ và chất lượng kém.
Hình 1.22: Rầy mềm gây hại trên lá và trái bắp
Ngoài cách gây hại trực tiếp như đã nêu, rầy mềm còn là môi giới truyền bệnh khảm cho cây ngô, làm lá bị quăn queo, cây không phát triển bình thường và chết Sâu đục thân Pyrausta nubilalis Hubner là một tác nhân gây hại quan trọng khác cho ngô, đục thân và làm giảm năng suất Do đó, việc kiểm soát rầy mềm và sâu đục thân là cần thiết để bảo vệ mùa màng ngô.
Còn có tên là Ostrinia furnacalis (Guenée)
Họ ngài sáng (Pyralidae) - Bộ cánh vảy (Lepidoptera)
* Phân bố: loài sâu này xuất hiện nhiều ở các quốc gia trồng bắp trên thế giới như Ấn Độ, Canada, Hungary, Indonesia, Italy, Nga, Mỹ, Nhật Bản, Pakistan, Triều Tiên, Trung Quốc, Việt Nam
* Ký chủ: ở nước ta sâu gây hại chủ yếu trên cây bắp; ngoài ra, sâu còn xuất hiện trên các loại cây như đay, cà, lúa miến và một số loài cỏ thuộc họ hòa bản dùng làm thức ăn cho gia súc
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Loài này hoạt động chủ yếu vào ban đêm Đực có thân dài 12–14 mm, sải cánh 22–28 mm; cánh trước màu vàng tươi đến vàng nhạt, có hai sọc gãy màu nâu đậm chạy ngang cạnh ngoài, tiếp theo về phía ngực là các sọc gãy khác màu nhạt hơn; cạnh trước và cạnh ngoài cánh đậm hơn ở giữa cánh và cạnh sau Cánh sau sáng hơn và các đường vân mờ hơn cánh trước Cái có chiều dài thân 13–16 mm, sải cánh 25–30 mm, cấu trúc vân trên cánh cái giống ngài đực nhưng màu nhạt hơn Thời gian sống của ngài cái khoảng 10 ngày Một ngài cái có thể đẻ từ 10 -
Trứng có hình bầu dục dẹp, màu trắng sữa khi mới đẻ và mặt trên trơn bóng; sau vài ngày sẽ xuất hiện một chấm đen rõ dần Thời gian ủ trứng từ 4–7 ngày Ấu trùng nở màu hồng, đầu đen; khi lớn lên, càng đổi dần thành màu trắng sữa Mỗi đốt bụng có sáu đốm đen tròn, giữa đốm có một sợi lông mọc dài Sâu có thể dài từ 15–22 mm, màu nâu vàng và có các sọc nâu mờ chạy dọc từ đầu đến cuối thân Ấu trùng có 6 giai đoạn (6 instars) và phát triển từ 18–41 ngày.
Nhộng màu nâu nhạt, dài khoảng 15 - 19 mm Giai đoạn nhộng phát triển từ
5 đến 12 ngày, trung bình từ 7- 12 ngày
Hình 1.23: Thành trùng và ấu trùng sâu đục thân bắp
* Tập quán sinh sống và cách phá hại
Ngài thích ánh sáng đèn và hoạt động nhiều từ lúc chiều tối đến sáng; ban ngày, ngài thường trốn trong bẹ lá hoặc đọt cây bắp và các bờ cỏ dại Hai đến ba ngày sau khi vũ hóa, ngài bắt đầu đẻ trứng Ngài cái có tính chọn lọc nơi đẻ trứng, chỉ thích đẻ trứng ở những ruộng bắp xanh tốt và cây đang ở giai đoạn sinh trưởng thích hợp, như cây có chiều cao trên 50 cm, nhưng thích nhất là những ruộng bắp sắp trổ cờ.
Trứng được đẻ thành ổ xếp chồng lên nhau như vảy cá, ít khi đẻ thành từng cái riêng lẻ, ngài đẻ nhiều ổ trứng trong nhiều đêm, mỗi đêm một ổ Số trứng trên mỗi ổ thay đổi tùy nơi đẻ thích hợp hay không, thường từ 100 - 300 cái, trung bình từ 20 - 30 cái Ổ trứng thường được đẻ ở mặt dưới lá, nhưng đôi khi cũng tìm thấy ở mặt trên và được gắn chặt vào mặt lá, trứng láng bóng, rất dễ nhận diện
Sau khi nở, sâu ăn hết vỏ trứng và chất keo phủ ổ trứng, xong bò quanh ổ trứng một thời gian ngắn, sau đó phân tán nhả tơ nhờ gió đưa từ lá này sang lá khác hay từ cây này sang cây khác Sâu gây hại mọi bộ phận của cây bắp tùy giai đoạn tăng trưởng của cây Sâu tuổi nhỏ thích các lá chưa mở ra, bẹ lá hay vỏ trái bắp hay râu bắp hoặc hoa đực (cờ bắp) vì ở tuổi 1 và 2 sâu chưa có khả năng đục vào thân
Tùy giai đoạn tăng trưởng của cây bắp mà sâu có cách gây hại khác nhau như sau:
- Nếu bắp chưa có lóng, sâu chui vào loa kèn, ăn các lá còn cuốn lại
Thành phần côn trùng hại quan trọng trên khoai lang
Loài 1: Herse convolvuli (Lin.), còn có tên là Agrius convolvuli (Lin.) Loài 2: Acherontia lachesis (Fabricius)
Cả 2 loài thuộc họ ngài nhộng vòi (Sphingidae), bộ cánh vảy (Lepidoptera)
* Ký chủ: sâu có phổ ký chủ rất rộng Ngoài khoai lang, sâu còn gây hại các loại đậu, cà chua, thuốc lá, đậu bắp, mè
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Thành trùng có bụng rất to, nhiều lông, mỗi đốt có một hàng lông màu xám đen xen hồng Cuối bụng nhọn Chiều ngang cả hai cánh đều rất hẹp so với chiều dài thân mình Cánh trước căng dài từ 8 - 11 cm, màu xám, trên có nhiều vân và sọc màu đậm
Trứng tròn, màu xanh khi mới đẻ, được đẻ rời rạc ở mặt dưới lá Thời gian ủ trứng từ 5 - 7 ngày
Sâu Sừng là loài sâu có hai hình thái màu sắc ở giai đoạn mới nở: màu xanh với các vằn xiên hai bên hông hoặc thân màu đen với các vằn vàng nâu hai bên hông; đốt cuối cùng có một gai nhọn nhô lên giống như cái sừng nên được gọi là Sâu Sừng Quá trình phát triển của Sâu Sừng kéo dài khoảng 3 tuần và khi trưởng thành có thể dài từ 8–12 cm.
Nhộng màu nâu đỏ có đầu nhộng với một vòi cong xuống phía đuôi, còn được gọi là "Ngài nhộng vòi" Loài nhộng này hình thành dưới đất và phát triển từ 10 đến 12 ngày.
Hình 1.27: Ấu trùng, nhộng và thành trùng sâu sừng Agrius convolvuli
Ngài có thân chủ yếu màu nâu, ngực màu xám đậm Cánh sau màu vàng với những băng màu vàng ngang dọc
Trứng màu xanh lá cây được đẻ rải rác thành từng quả và sau đó chuyển sang màu vàng cam khi ủ Thời gian ủ trứng khoảng 5 ngày Ấu trùng màu xanh lá cây có sọc xiên màu vàng dọc hai bên thân Đốt cuối của bụng có một gai thịt nhô cao như cái đuôi nhưng cong, không thẳng như ở Herse (Agrius) Ấu trùng phát triển khoảng 3 tuần và có thể dài từ 10–12 cm.
Nhộng hình thành trong đất và kéo dài khoảng 18 ngày
Tập quán sống và cách gây hại: do cơ thể lớn nên hai loài sâu trên ăn phá rất nhiều, chúng ăn trụi cả lá và làm cây xơ xác; b) Các loài miểng kiếng là nhóm sâu hại khác, có tập quán sống riêng và gây hại theo cách riêng biệt lên cây trồng.
Trên khoai lang có nhiều loài miểng kiếng gây hại nhưng thường gặp nhất là hai loài sau: Cassida circumdata Herbst và Aspidomorpha miliaris (Fabricius)
Cả 2 loài trên đều thuộc họ Ánh Kim (Chrysomelidae), bộ Cánh Cứng (Coleoptera)
* Đặc điểm hình thái và sinh học
+ Miểng kiếng xanh Cassida circumdata Herbst
Loài côn trùng màu xanh có thân dài từ 5–6,5 mm và chiều ngang 4–5,6 mm Trên cánh có vệt vàng ánh; giữa cánh có ba sọc đen chạy dọc, hai sọc ở hai bên và một sọc ở giữa, hòa với hai bìa cánh khi cánh xếp lại.
Hình 1.28: Thành trùng miểng kiếng xanh
Trứng màu xanh nhạt được đẻ thành từng cái trên cả mặt trên và mặt dưới của lá, được phủ nước bọt như keo trắng Trứng có kích thước khoảng 1,2–1,5 mm và nở sau khoảng 4–7 ngày.
Hình 1.29: Trứng của miểng kiếng xanh Ấu trùng có thân mình dẹp, màu xanh và có nhiều gai màu nhạt chung quanh Kích thước cơ thể khi lớn đủ sức dài từ 4 - 5,6 mm, ngang từ 2,6 - 3,8 mm Ấu trùng có 5 tuổi, phát triển từ 12 - 24 ngày
Nhộng hình bầu dục, màu xanh nhạt, dài từ 4,6 - 6 mm, rộng từ 2,6 - 3,6 mm Nhộng được hình thành ở cả hai mặt lá Thời gian nhộng từ 3 - 7 ngày
Hình 1.30: Ấu trùng và nhộng của miểng kiếng xanh
+ Miểng kiếng vàng Aspidomorpha miliaris (Fabricius)
Thành trùng có hình dạng hơi tròn, ngực trước rất to che phủ đầu nằm phía dưới, cánh màu vàng nâu nhạt với nhiều đốm đen ở giữa và 4 đốm đen to ở 4 gốc ngoài của cánh Thành trùng trưởng thành sau khoảng 25 ngày và bắt đầu đẻ trứng Con cái có thể sống tối đa khoảng 300 ngày và đẻ khoảng 15 ổ trứng; mỗi ổ trứng được bao bọc trong một bao màu vàng xám nhạt, trung bình chứa khoảng 20 trứng trong mỗi ổ.
Hình 1.31: Thành trùng miểng kiếng vàng
Trứng hình bầu dục, màu vàng nhạt, ủ từ 8–12 ngày Ấu trùng màu trắng có đốm màu đen xám trên thân và gai màu nâu Ấu trùng trải qua 5 tuổi (5 instars) và quá trình phát triển kéo dài từ 18–25 ngày.
Hình 1.32: Ấu trùng miểng kiếng vàng qua các tuổi
Nhộng màu trắng xám với những gai và đốm màu đen Nhộng phát triển từ
* Tập quán sinh sống và cách gây hại
Thành trùng của cả hai loài trên thường ở mặt dưới lá, cắn lá lủng thành những lỗ tròn nhỏ trên phiến lá hay cạp lớp nhu mô diệp lục, chừa lại lớp biểu bì phía trên Khi mới nở ấu trùng sống tập trung, sau đó phân tán ở cả hai mặt lá và cạp ăn lá nhưng không gây thiệt hại nhiều Càng lớn ấu trùng có tập quán ăn phá lá giống như thành trùng Cây ở mọi giai đoạn tăng trưởng đều bị hại nhưng cây con thì không bị thiệt hại nhiều vì có thể hồi phục được
Hình 1.33: Sự gây hại của miểng kiếng c) Sùng khoai lang Cylas formicarius Fabricius
Họ Vòi Voi (Curculionidae) - Bộ Cánh Cứng (Coleoptera)
* Phân bố và ký chủ
Sùng khoai lang có phân bố rất rộng, được ghi nhận tại nhiều nước Đông Nam Á và ở nhiều nước thuộc châu Phi, châu Mỹ và châu Âu Ở Việt Nam, đây là loài gây hại phổ biến trên khoai lang và xuất hiện ở hầu hết các vùng trồng khoai lang.
Ngoài khoai lang, loài này còn phá hại trên một số loại cây thuộc họ Bìm Bìm
* Đặc điểm hình thái và sinh học
Thành trùng dài từ 5-8 mm, thân thon, chân dài và trông tựa kiến Đầu đen, miệng dài, mắt kép hình bán cầu hơi lồi ra hai bên; râu đầu gồm 10 đốt Ngực, đốt cuối râu và mắt màu đỏ; bụng và cánh màu xanh đen bóng Đốt cuối râu của thành trùng đực hình ống dài, trong khi của thành trùng cái có hình trứng Ngực trước có chiều dài gấp đôi chiều rộng Đốt đùi nở to Thành trùng cái sống khoảng 100 ngày và đẻ khoảng 200 trứng.
Trứng hình bầu dục, dài từ 0,50 - 0,70 mm, lúc mới đẻ màu trắng sữa và sau đó chuyển sang màu vàng Thời gian ủ trứng từ 5 - 10 ngày Ấu trùng hình ống dài, hai đầu thon nhỏ, đầu nâu, thân trắng, không chân; bụng chia đốt rất rõ ràng, chiều dài cơ thể khoảng 5 - 8,5 mm Ấu trùng có 5 tuổi và phát triển từ 15 - 25 ngày.
Nhộng màu trắng, dài từ 4 - 8 mm Thời gian nhộng từ 4 - 10 ngày
Hình 1.34: Thành trùng và ấu trung sùng khoai lang
Thành trùng rất giống kiến vì chúng thường bò, ít khi bay và hoạt động mạnh vào ban đêm Lúc mới vũ hóa thành trùng màu trắng và ở trong củ khoai từ 2 đến
Thành phần côn trùng hại quan trọng trên khoai môn
Rầy thân hại khoai môn bằng cách chích hút dịch nhựa cây, tập trung gây hại chủ yếu mặt dưới của lá và cuống
Cây khoai môn khi bị xâm nhiễm với mật độ rầy cao có thể xảy ra hiện tượng héo lá hoặc bị ức chế sinh trưởng
Hình 1.39: Thành trùng và ấu trùng rầy thân hại khoai môn b) Rệp sáp Planococcus minor
Rệp sáp khoai môn thường nằm mặt dưới lá, giữa các gân lá, trên rễ và củ
Trên rễ, rệp sáp tập trung thành một khối màu trắng bông, bao gồm cả con đực và con cái nằm lẫn vào nhau rất khó phân biệt bằng mắt thường
Rệp sáp chích hút nhựa từ các bộ phận của cây và gây ra các triệu chứng khác nhau Các dấu hiệu phổ biến nhất bao gồm lá biến dạng và vàng, ức chế sinh trưởng và đôi khi dẫn tới hiện tượng héo rũ.
Dịch tiết từ rệp sáp gây hại không chỉ ảnh hưởng trực tiếp lên cây mà còn thu hút nấm bồ hóng phủ lên lá và có thể truyền virus gây bệnh cho khoai môn Rệp sáp sống cộng sinh với kiến, vì vậy sự xuất hiện của kiến trên rễ và lá là dấu hiệu rõ ràng cho thấy ruộng khoai môn đã bị nhiễm rệp sáp Nhận biết sớm các dấu hiệu này giúp người trồng khoai môn có biện pháp xử lý kịp thời để hạn chế thiệt hại.
Hình 1.40: Rệp sáp hại khoai môn c) Sâu ăn tạp Spodoptera litura
Triệu chứng gây hại bắt đầu khi ấu trùng mới nở tập trung tại một chỗ để ăn phần xanh của lá khoai môn Khi trưởng thành, chúng phân tán và có thể gặm cả lá Ban đầu chúng tấn công phần thịt lá và để lại các vết sọc trên lá; về sau chúng ăn cả gân lá và cuống lá khoai môn, gây tổn thất nghiêm trọng cho cây trồng.
Hình 1.41: Triệu chứng gây hại và ấu trùng sâu ăn tạp
Thiệt hại do côn trùng gây hại trong quá trình bảo quản ở việt nam 53 5 Thực hành
Nội dung bài viết tập trung vào tổng hợp thành phần sinh học và cấu tạo của một số loài sâu hại chủ yếu trên cây lúa, cây ngô (bắp) và khoai lang, đồng thời mô tả triệu chứng gây hại và đặc điểm hình thái giúp nhận diện chúng ở từng giai đoạn phát triển Bài viết trình bày rõ các triệu chứng hại điển hình như héo úa, biến màu lá, đốm và lỗ khoét trên lá, thân và củ, cũng như các đặc điểm hình thái của sâu và nhộng để phân biệt giữa các loài Các biện pháp phòng trừ được đề cập đầy đủ và thực tế, bao gồm quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), vệ sinh đồng ruộng, luân canh cây trồng, bảo vệ và nuôi dưỡng thiên địch, bẫy pheromone và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo đúng thời điểm và hướng dẫn an toàn, nhằm giảm thiểu thiệt hại và bảo vệ năng suất trên lúa, ngô và khoai lang.
+ Trình bày thành phần loài côn trùng gây hại quan trọng trên cây lương thực
+ Trình bày được đặc điểm hình thái và triệu chứng gây hại của các loài gây hại trên cây lúa, bắp, khoai
+ Trình bày các điều kiện ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển và tập tính gây hại trên các loại cây trồng như lúa, bắp, khoai
+ Nhận diện đặc điểm hình thái và cách gây hại của các loài côn trùng hại trên cây lúa, bắp, khoai
+ Điều tra mật số côn trùng hại ngoài đồng
+ Tổng hợp, phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp phù hợp để kiểm soát sự gây hại của côn trùng trên cây lúa, bắp, khoai
Năng lực tự chủ và trách nhiệm: có phương pháp làm việc khoa học, sáng tạo và luôn cập nhật thông tin
1 Đặc điểm hình thái và cách gây hại
1.1 Thành phần côn trùng hại quan trọng trên cây lúa a) Rầy nâu Nilaparvata lugens St
Tên tiếng Anh: Rice brown planthopper
Họ: Rầy thân (Delphacidae) - Bộ: Cánh đều (Homoptera)
Phân bố của rầy nâu cho thấy chúng xuất hiện ở tất cả các quốc gia trồng lúa, đặc biệt ở các vùng đồng bằng nhiệt đới châu Á Các nước điển hình có mật độ rầy nâu cao gồm Ấn Độ, Bangladesh, Đài Loan, Indonesia, Nhật Bản, Philippines, Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam Hiểu rõ phạm vi phân bố này là yếu tố quan trọng để xây dựng kế hoạch quản lý dịch hại hiệu quả trong sản xuất lúa nước.
* Ký chủ: cây lúa là ký chủ chính, ngoài ra rầy nâu có thể sống trên lúa hoang.