ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM BÀI TẬP LỚN GIẢI PHÁP SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ HỖ TRỢ TRUY CẬP TÀI LIỆU HỌC TẬP CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA GVHD Đào Thị Bích Hồng Lớp DT01 Nhóm 3 1 Lê Nguyễn Mỹ Duyên 1810086 2 Đỗ Viết Dũng 1410659 3 Nguyễn Thanh Duy 1811738 4 Phạm Đình Duy 1811728 5 Phan Nhật Duy 1710805 6 Lý Minh Doanh 1811685 TPHCM, ngày 29 tháng 11 năm 2020 MỤC LỤC 1 Quan điểm, chủ trưởng của Đảng về công nghiệ.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
BÀI TẬP LỚN
GIẢI PHÁP SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ HỖ TRỢ TRUY CẬP
TÀI LIỆU HỌC TẬP CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
GVHD: Đào Thị Bích Hồng Lớp: DT01
Trang 2MỤC LỤC
1 Quan điểm, chủ trưởng của Đảng về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ………4
1.1 Công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá và công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức ………4
1.2 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế ………8
1.3 Lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững ………15
1.4 Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ……… 19
1.5 Phát triển nhanh và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ……….26
2 Giải pháp sử dụng công nghệ hỗ trợ truy cập tài liệu học tập cho sinh viên Trường Đại học Bách Khoa ………31
2.1 Thực trạng việc truy cập tài liệu của sinh viên Trường Đại học Bách Khoa 2.1.1 Trường Đại học Bách Khoa đã có những biện pháp cho sinh viên truy cập tài liệu ……… ………31
2.1.2 Kết quả: ưu điểm và hạn chế ……… 31
2.2 Giải pháp ……….32
2.3 Đánh giá giải pháp ……… 33
Tài liệu tham khảo……… 35
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, Việt Nam đang phát triển trên con đường công nghiệp hoá, hiệnđại hoá Sau hơn 30 năm đổi mới (1986-2019), nước ta đã trải qua nhiều chặngđường với rất nhiều thử thách và gian nan Nhờ vào sự lãnh đạo của Đảng mànước ta từng bước phát triển, hoàn thành từng chặn đường và chiến thắng trêncác từng chiến lược, chính sách, chủ trương
Để phát triển đất nước một cách bền vững theo hướng công nghiệp hoá,hiện đại hoá, Đảng khẳng định phải phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ.Chú trọng khoa học công nghệ trong mọi lĩnh vực Kinh tế phát triển khi khoahọc công nghệ phát triển
Thấy rõ tầm quan trọng của khoa học và công nghệ, nhà nước ta đã cónhững đường lối, chính sách, chủ trương về khoa học công nghệ nhằm pháttriển khoa học công nghệ toàn diện và mạnh mẽ Bên cạnh đó, nhà nước cònđổi mới thường xuyên các quan điểm, chủ trương để phù hợp với thực trạngViệt Nam theo từng giai đoạn
Với những chính sách, chủ trương đúng đắn và phù hợp của Đảng về khoahọc, công nghệ đã giúp cho nền khoa học, công nghệ nước ta đạt được nhiềuthành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thúc đẩy nền kinh tếphát triển Bên cạnh đó, cũng sẽ có những mặt hạn chế nhất định tồn tại songsong với các ưu điểm
Thông qua bài tiểu luận về Giải pháp ứng dụng công nghệ hỗ trợ truy cập tài liệu học tập cho sinh viên trường Đại học Bách Khoa, nhóm đã được tìm
hiểu về công nghiệp hoá - hiện đại hoá, ứng dụng công nghệ sách điện tử nhưmột công cụ hỗ trợ cho quá trình học tập Sinh viên, những người chủ tương laicủa đất nước, cần phải tìm hiểu, nghiên cứu về khoa học, công nghệ, thành tựuKH-CN trên thế giới để biết ứng dụng vào thực tiễn đời sống xã hội ở nước ta
Để sinh viên của trường Đại học Bách khoa, trường hàng đầu về đạo tạo kỹthuật trên cả nước, có thê tiếp cận một cách dể dàng, thuận tiện, nhanh chóng,
nhóm đã đưa ra giải pháp “Tìm kiếm nhanh, mở khoa học, dẫn công nghệ”
Trang 41 Quan điểm, chủ trưởng của Đảng về công nghiệp hoá, hiện đại hoá 1.1.Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa, và công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường
*Quá trình đổi mới tư duy về công nghiệp hóa:
- Đại hội VI của Đảng phê phán sai lầm trong nhận thức và chủ trương công nghiệp hóa thời kỳ 1960-1986:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986) với tinh thần
“nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” đã nghiêm khắc chỉ
ra những sai lầm trong nhận thức và chủ trương công nghiệp hóa thời kỳ
1960-1985, mà trực tiếp là mười năm từ 1975 đến 1985:
Chúng ta đã phạm sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế…Do tư tưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vội, muốn bỏ qua những bước đi cần thiết nên chúng
ta đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa( CNH) trong khi chưa có đủ các tiền
đề cần thiết, mặt khác chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
Trong việc bố trí cơ cấu kinh tế, trước hết là cơ cấu sản xuất và đầu tư, thường chỉ xuất phát từ lòng mong muốn đi nhanh, không kết hợp chặt chẽ ngay từđầu công nghiệp với nông nghiệp thành một cơ cấu hợp lý, thiên về xây dựng côngnghiệp nặng và những công trình quy mô lớn , không tập trung sức giải quyết về căn bản vấn đề lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Kết quả
là đầu tư nhiều nhưng hiệu quả thấp
Không thực hiện nghiêm chỉnh nghị quyết của Đại hội lần thứ V như: Nông nghiệp vẫn chưa thật sự coi là mặt trận hàng đầu, công nghiệp nặng không phục vụ kịp thời nông nghiệp và công nghiệp nhẹ
- Quá trình đổi mới tư duy về công nghiệp hóa từ Đại hội VI đến Đại hội X:
Từ việc chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm, Đại hội VI đã cụ thể hóa nội dung chính của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên là thực hiện cho bằng được 3 chương trình lương thực, thực phẩm; hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá
độ Ba chương trình này liên quan chặt chẽ với nhau Phát triển lương thực thực
Trang 5phẩm và hàng tiêu dung là nhằm bảo đảm nhu cầu thiết yếu cho đời sống nhân dânsau mấy chục năm chiến tranh ác liệt và trong bối cảnh của nền kinh tế còn đang trong tình trạng thiếu hụt hàng hóa nghiêm trọng, góp phần ổn định kinh tế - xã hội; phát triển hàng xuất khẩu là yếu tố quyết định để khuyến khích sản xuất và đầu tư trong nước, tạo nguồn thu ngoại tệ để nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụ sản xuất Xác định thứ tự ưu tiên đó đã cho phép phát huy sức mạnh nội lực và tranh thủ sức mạnh từ bên ngoài để phát triển kinh tế xã hội.
=> Thực chất, đây là sự thay đổi trong lựa chọn mô hình chiến lược CNH, chuyển từ mô hình hướng nội (thay thế nhập khẩu) trước đây bằng mô hình hỗn hợp (hướng về xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu) đang được áp dụng phổ biến và khá thành công tại các nước Châu Á lúc bấy giờ
Như vậy, chính sách CNH của Đại hội VI đã:
- Đưa ra một thứ tự ưu tiên mới: nông nghiệp – công nghiệp hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu – công nghiệp nặng
- Tạo một sự chuyển biến quan trọng cả về quan điểm nhận thức cũng như tổ chức chỉ đạo thực hiện công nghiệp hóa đất nước Đó là sự chuyển biến hướng chiến lược CNH từ:
+ Cơ chế KHHTT sang cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước.+ Cơ chế khép kín sang cơ chế mở cửa kinh tế
+ Từ xây dựng ngay từ đầu một cơ cấu kinh tế đầy đủ, tự cấp tự túc sang cơ cấu bổsung kinh tế và hội nhập
+ Mục tiêu “ ưu tiên phát triển công nghiêp nặng” đã chuyển sang “ lấy nông nghiệp và công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu làm trọng tâm” Từ đó dẫn đến sự đổi mới trong cơ cấu đầu tư: “Đầu tư có trọng điểm và tập trung vào những mục tiêu và các ngành quan trọng, trước hết đầu tư cho sản xuất nông nghiệp, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, cho chế biến nông sản và một số ngành công nghiệp nặng trực tiếp phục vụ 3 chương trình kinh tế lớn”
+ Phát huy nguồn lực của nhiều thành phần kinh tế
Trang 6Tiếp theo, Đại hội VII (năm 1991) Đảng ta tiếp tục có những nhận thức mới, ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn về công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa Đại hội đã xác định rõ vai trò “mặt trận hàng đầu” của nông nghiệp, và trên thực tếđầu tư cho nông nghiệp từ ngân sách đã tăng lên Đại hội đề cập đến lĩnh vực Dịch
vụ kinh tế - kỹ thuật trong việc đáp ứng yêu cầu sản xuất, đời sống và hợp tác quốctế; đưa ra chiến lược phát triển kinh tế vùng phù hợp với chiến lược chung cả nước Thực hiện đường lối công nghiệp hóa của Đại hội VII, nền kinh tế đã có những bước phát triển cao hơn, có chất lượng hơn, đi vào thực chất hơn so với nhiều năm trước:
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 1991: 5,8% 1995: 9,5%
+ Tương ứng công nghiệp tăng: 1991: 5,3 % 1995: 15,5%
+ Nông nghiệp tăng 1991: 2,2% 1995: 4,8%
+ Xuất khẩu tăng 1991: -13,2% 1995: 34,4%
+ Tốc độ tăng trưởng công nghiệp 1996: 14,5% 2000: 10,1 %
+ Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp 1996: 4,4% 2000: 4%
Trang 7+ Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu 1996: 33,2% 2000: 24%
+ Cơ cấu kinh tế 1996: 27,8 – 29,7 – 42,5 (%)
2000: 24,3 – 36,6 – 39,1 (%)
Đại hội IX (năm 2001) và Đại hội X (năm 2006) Đảng ta tiếp tục bổ sung
và nhấn mạnh một số điểm mới trong tư duy về công nghiệp hóa:
- Con đường công nghiệp hóa ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước Đây là yêu cầu cấp thiết của nước ta nhằm sớm thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Một nước đi sau có điều kiện tận dụng những kinh nghiệm kỹ thuật, công nghệ và thành quả của các nước đi trước, tận dụng xu thế của thời đại qua hội nhậpquốc tế để rút ngăn thời gian
- Tuy nhiên, tiến hành công nghiệp hóa theo lối rút ngắn so với các nước đi trước, chúng ta cần thực hiện các yêu cầu như: Phát triển kinh tế và công nghệ phảivừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt; phát huy những lợi thế của đất nước, gắn công nghiệp hóa với hiện đại hóa, từng bước phát triển kinh tế tri thức; phát huy nguồn lực trí tuệ và tinh thần của con người Việt Nam, đặc biệt coi trọng phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, xem đây là nền tảng và động lực cho CNH, HDH
- Hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là phải phát triển nhanh
và có hiệu quả các sản phẩm, các ngành, các lĩnh vực có lợi thế, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải bảo đảm xây dựng nền kinh
tế độc lập tự chủ, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tức là phải tiến hành công nghiệp hóa trong một nền kinh tế mở, hướng ngoại
- Đẩy nhanh CNH, HDH nông nghiệp nông thôn với việc nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp
- Đẩy mạnh CNH, HDH phải tính toán đến yêu cầu phát triển bền vững trong tương lai
Trang 81.2.Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Trong thời kì đổi mới, công nghiệp hoá- hiện đại hoá( CNH-HĐH) được tiến hành trong nền KTTT định hướng XHCN, nhiều thành phần Do đó, CNH-HĐH không phải chỉ là việc của nhà nước mà là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế Nhiệm vụ trung tâm của cách mạng nước ta trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, không qua chế độ tư bản chủ nghĩa là phải xây dựng
cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, trong đó có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, văn hoá và khoa học tiên tiến Muốn thực hiện thành công nhiệm
vụ quan trọng đó, nhất thiết phải tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tức là chuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành nền kinh tế công nghiệp văn minh
Có thể khẳng định rằng, chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức mà Đảng ta đưa ra tại Đại hội X không
chỉ là sự tiếp nối đường lối và chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), mà còn là bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng ta về đường lối tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhìn lại tiến trình hình thành và phát triển đường lối tiến hành côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng,
chúng ta thấy, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định: "phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp
hoá đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàndiện là nhiệm vụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật củachủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đờisống nhân dân"1
Theo quan điểm của Đảng, trong thời đại ngày nay, những tiến bộ về kinh
tế, xã hội cùng với sự mở rộng và tăng cường hợp tác phát triển với các nước và các tổ chức quốc tế là cơ sở để chúng ta đẩy tới một bước công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhằm tạo thêm nhiều công ăn việc làm, đẩy nhanh tốc
độ tăng trưởng kinh tế, cải thiện hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần của nhân
1 Đảng Cộng sản Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.9.
Trang 9dân Xác định công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là nhiệm vụ trung tâm, có tầm quan trọng hàng đầu, là con đường duy nhất giúp chúng ta không chỉ thoát khỏi nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn so với các nước trong khu vực Đông – Nam Á và trên thế giới, mà còn giữ được ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ được độc lập, chủ quyền quốc gia và định hướng phát triển xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế thị trường( KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa( XHCN) thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế-xã hội vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên những nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa
xã hội
Nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta được hình thành và phát triển trên cơ sở phát huy vai trò làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng lãnh đạo Nhà nước ngày càng tăng dần vai trò chủ thể quản lý và thu hẹp dần vai trò chủ thể về kinh tế Theo đó, Nhà nước thực hiện quản lý nền kinh tế, định hướng, điều tiết, thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất, bảo đảm cho thị trường phát triển, tuân thủ các quy luật của KTTT, tương thích với thông lệ của các nước; kiến tạo được môi trường vĩ mô; xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở và bảo đảm an sinh xã hội; ban hành cơ chế chính sách về phân bổ nguồn lực, phân phối và phân phối lại theo hướng bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội; bảo vệ môi trường Đồng thời, Nhà nước phải bảo đảm được vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, hoàn thiện các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô, tăng cường kỷ luật kỷ cương trong việc chấp hành các chính sách chế độ, sử dụng các chương trình đầu
tư tín dụng để tạo điều kiện và hướng dẫn sự phát triển của các ngành, các địa phương và các thành phần kinh tế
Quản lý nhà nước đúng đắn không phải là bất chấp cơ chế thị trường, mà
sử dụng cơ chế thị trường để điều tiết sự vận động của hàng, tiền, của các yếu tố thị trường, phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực Các chủ trương, chính sáchkinh tế và tổ chức thực hiện chính sách của Nhà nước phải phù hợp với cơ chế thị trường, mang lại lợi ích và công bằng xã hội, ổn định và tăng trưởng kinh tế một cách hợp lý, ngăn ngừa tình trạng độc quyền, lạm dụng và nhân danh KTTT hay bàn tay nhà nước để can thiệp làm méo mó thị trường, lệch lạc các nguồn lực và
Trang 10tổn hại lợi ích cộng đồng, hạn chế các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh, mà những bất cập trong quản lý đầu tư công và cả những dự án BOT giao thông đang minh chứng cho những điều đó…
Tuy nhiên, do phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một sự nghiệp, một quá trình chưa có tiền lệ nên có những vấn đề đặt ra trong điềukiện hiện nay cần phải được tiếp tục xem xét, hoàn thiện:
+ Thứ nhất, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng
ta đang xây dựng là một nền kinh tế mang tính đặc thù, phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa của đất nước và những giá trị XHCN mà chúng ta đang phấn đấu Thế nhưng, vấn đề cần xem xét là liệu chúng ta có thể nghiên cứu để áp dụng nhiều hơn, đầy đủ hơn những quy luật, những giá trị chung của thể chế kinh
tế thị trường-một thành tựu của nhân loại vào nền kinh tế của chúng ta, nhằm tạo thuận lợi sự phát triển vừa nhanh hơn, vừa bền vững hơn hay không? Nếu thế thì cần phải có những điều kiện nào kèm theo?
+ Thứ hai, định hướng của Đảng và Nhà nước và thực tiễn vừa qua đã chứng minh rằng, để phát triển nền kinh tế Việt Nam không thể chỉ dựa vào một thành phần kinh tế nào, mà cần phải khơi dậy được mọi tiềm năng, mọi nguồn lực của đất nước, với một khát vọng chung là xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường Để hiện thực hóa điều đó, cả nước đang phát động một tinh thần khởi nghiệp với mục tiêu là tới năm 2020, Việt Nam sẽ có khoảng 1 triệu doanh nghiệp.Như vậy, nòng cốt để phát triển kinh tế Việt Nam, là chỗ dựa bền vững cho kinh tếđất nước, phải chăng là mọi thành phần kinh tế trong nước, bao gồm cả: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân? Như vậy, về định hướng vĩ mô, liệu chúng ta cần có sự thay đổi nào không để khơi dậy được mọi tiềm lực kinh tế của đất nước, tạo ra một sân chơi thực sự công bằng, bình đẳng, trong thụ hưởng chínhsách, được tiếp cận các nguồn lực và việc tuân thủ luật pháp?
+ Thứ ba, với những biểu hiện lợi ích nhóm, biểu hiện của chủ nghĩa tưbản thân hữu đang diễn ra trong nền kinh tế, cần phải có giải pháp gì để ngăn chặn,
để bảo đảm rằng những lợi ích từ phát triển kinh tế đất nước sẽ không bị một bộ phận thiểu số trong xã hội chiếm dụng, mà sẽ được chia sẻ công bằng; bảo đảm rằng sự phát triển của đất nước là sự phát triển có tính bao trùm chứ không quá thiên lệch, tạo ra sự phân biệt về giàu nghèo quá lớn giữa các vùng miền, giữa các
Trang 11thành phần, đối tượng trong xã hội.
+ Thứ tư, cần có chiến lược, cùng những giải pháp hữu hiệu như thế nào để việc phát triển kinh tế của đất nước bảo đảm hài hòa hai yếu tố đó là: Phát triển “nhanh” và “bền vững” Đây là hai yêu cầu song hành Bởi với một nền kinh
tế đang phát triển như Việt Nam nếu không có giải pháp để đạt một tốc độ phát triển ở mức cao thì rất dễ bị tụt hậu, rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” Thế nhưng,việc phát triển nhanh về kinh tế phải bảo đảm yếu tố bền vững, đó không phải là sựphát triển bằng mọi giá, đặc biệt không phải là việc hy sinh môi trường sống để phát triển kinh tế Phát triển kinh tế đất nước không ngoài mục đích nào khác là để bảo đảm cho mọi người dân có một cuộc sống sung túc, hạnh phúc
Không chỉ khẳng định sự cần thiết, tất yếu phải gắn việc đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá với phát triển kinh tế tri thức, lấy kinh tế tri thứclàm yếu tố cấu thành quan trọng của nền kinh tế, Đảng ta còn chỉ rõ nội dung chủyếu của quá trình này là:
+ Thứ nhất, phát triển với tốc độ nhanh và ngày càng mạnh các ngành,
các lĩnh vực và những sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào trithức; kết hợp có hiệu quả việc sử dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt Namvới những tri thức mới nhất của nhân loại
+ Thứ hai, không chỉ coi trọng số lượng, mà còn phải coi trọng cả chất
lượng tăng trưởng kinh tế trong mỗi bước phát triển của đất nước, ở từng vùng,từng địa phương và trong mỗi dự án phát triển kinh tế – xã hội
+ Thứ ba, xây dựng một cơ cấu kinh tế hiện đại và hợp lý theo ngành,
lĩnh vực và lãnh thổ
+ Thứ tư, giảm mạnh chi phí trung gian, nâng cao năng suất lao động
của tất cả các ngành, các lĩnh vực, nhất là các ngành, các lĩnh vực có sức cạnhtranh cao trên thị trường thế giới, khu vực và trong nước
Như vậy, ngay cả khi đã nhận thức rõ khoa học và công nghệ đóng vai trò là nền tảng, là động lực, là "quốc sách hàng đầu" của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng ta vẫn chưa nói đến vấn đề gắn kết công nghiệp hoá, hiện đại hoá với kinh tế tri thức Như chúng ta đã biết, vào những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, đặc biệt là những thành tựu trong bốn lĩnh vực: công nghệ sinh học,
Trang 12công nghệ vật liệu, công nghệ năng lượng và công nghệ thông tin, đã tạo nên những biến đổi to lớn trong đời sống kinh tế – xã hội của thế giới nói chung và củaViệt Nam nói riêng Sự phát triển vượt bậc của khoa học, công nghệ hiện đại đã dẫn đến sự ra đời của ngành kinh tế tri thức Điều đó có nghĩa là, sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta đang diễn ra trong điều kiện kinh tế tri thức đã trở thành một xu hướng phát triển mới của các nước trên thế giới Có thể nói, sự xuất hiện của kinh tế tri thức là vận hội chưa từng có để Việt Nam đi tắtđón đầu, từng bước đuổi kịp các nước tiên tiến trên thế giới Từ chỗ cho rằng,
"kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất", Đảng ta đã chủ động đưa ra quan điểm về sự gắn kết công nghiệp hoá,
hiện đại hoá với phát triển kinh tế tri thức Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX (tháng 4 năm 2001), với nhận định rằng, sự phát triển của kinh tế tri thức trong bối cảnh toàn cầu hoá đã đem lại lợi thế cho các nước đi sau, trong đó, trong đó có nước ta, giúp chúng ta có thể và cần thiết không phải trải qua các bước tuần tự từ kinh tế nông nghiệp lên kinh tế công nghiệp rồi mới phát triển kinh tế tri thức,
Đảng ta đã xác định "con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta cần và
có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới
về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam; coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hoá"1
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế, chúng ta phải xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ Nền kinh tế độc lập, tự chủ, trước hết là độc lập, tự chủ về đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, không lệ thuộc vào những điều kiện kinh tế- chính trị dongười khác áp đặt, đồng thời có tiềm lực kinh tế đủ mạnh; có mức tích luỹ ngày càng cao từ nội bộ nền kinh tế…có năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ; bảo đảm an ninh lương thực, an toàn năng lượng, tài chính, môi trường…Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và
Trang 13khu vực, từ đó phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Trong suốt cả quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước tarất chú trọng ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, nhiều ngành kinh tế được đầu
tư, từng bước hiện đại Mặt khác, chúng ta cũng không coi nhẹ việc xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới phù hợp Thực tế những năm vừa qua, trong nôngnghiệp, nông thôn, sự thích ứng giữa trình độ phát triển của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất mới đã tạo ra những bước phát triển quan trọng trong khu vực kinh tế này
Phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn ngoại lực và chủ độnghội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững.Trong bối cảnh khu vực hoá và toàn cầu hoá kinh tế, Đảng ta chỉ rõ phải phát huy cao độ nội lực, coi nội lực là quyết định, nhưng không được coi nhẹ nguồnngoại lực, tranhthủ nguồn vốn, khoa học và công nghệ, kinh nghiệm quản lý…được xem là nguồn
bổ sung quan trọng cho sự phát triển của đất nước
Tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội,bảo
vệ và cải thiện môi trường Khái niệm phát triển ngày nay được nhìn nhận một cách đầy đủ, toàn diện hơn Ngoài chỉ số về tăng trưởng kinh tế (thu nhập bình quân đầu người), phát triển còn bao hàm nhiều chỉ số quan trọng khác về những giá trị văn hoá và nhân văn
Ngày nay, toàn cầu hoá kinh tế đã trở thành một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia Xét về mặt tác động tích cực, nó tạo điều kiện và thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất, đưa lại sự tăng trưởng cao cho nền kinh tế của các quốc gia dân tộc, cho cả nền kinh tế thế giới Không chỉ thế, toàn cầu hoá kinh tế còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu vàchuyển giao những thành tựu mới trong khoa học và công nghệ, trong tổ chức và quản lý sản xuất, kinh doanh; đưa tri thức và kinh nghiệm mới đến với các quốc gia dân tộc; tạo tiền đề và điều kiện cho các quốc gia dân tộc đi sau có thể "rút ngắn" lộ trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước bằng chiến lược phát triển
có khả năng "bắt kịp" và "thích nghi" với xu hướng phát triển hiện đại Có thể nói, đây là một cơ hội thuận lợi đối với mọi quốc gia dân tộc, nhất là với các nước đang
Trang 14phát triển Chính vì thế, Đảng ta đã khẳng định rằng, để đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, chúng ta cần "chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác"2.
Trong bối cảnh khu vực hoá và toàn cầu hoá kinh tế, Đảng ta chỉ rõ phải phát huy cao độ nội lực, coi nội lực là quyết định, nhưng không được coi nhẹ nguồn ngoại lực, tranh thủ nguồn vốn, khoa học và công nghệ, kinh nghiệm quản lý…được xem là nguồn bổ sung quan trọng cho sự phát triển của đất nước
Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế giúp chúng ta rút ngắn khoảng cách chênh lệch với các nước trong khu vực và trên thế giới, thuận lợi trong việc mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá trong nước (những mặt hàng có lợi thế) Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững, điều này cần phải được quán triệt trong tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế,
cả trước mắt cũng như lâu dài:
+ Thứ nhất, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa
+ Thứ hai, hội nhập kinh tế quốc tế phải gắn liền với việc giữ vững độc lậpdân tộc và chủ quyền đất nước
+ Thứ ba, chúng ta chủ động hội nhập, dựa vào nguồn lực trong nước là chính, đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài
+ Thứ tư, chúng ta nhanh chóng điều chỉnh cơ cấu thị trường, xây dựng đồng bộ thị trường trong nước
+ Thứ năm, song song với việc xây dựng, phát triển đồng bộ thị trường, chúng ta phải nhanh chóng xây dựng các doanh nghiệp vững mạnh
Bước vào thế kỷ XXI, các nước trong khu vực và trên thế giới đang nỗ lực theo đuổi những chiến lược phát triển của mình để vươn tới nền kinh tế tri thức
“Trung Quốc tiếp tục thúc đẩy chính sách chiêu đãi hiền tài; Ấn Độ tăng tốc với kếhoạch nghiên cứu và phát triển, Singapore đang đứng đầu châu Á về công nghệ sinh học Toàn cảnh một không khí hừng hực đầu tư cho nền kinh tế tri thức đang bùng nổ khắp châu Á” Việt Nam cũng đang tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, chủ động và tích cực tham gia hội nhập kinh tế quốc tế; đồng
2 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2006, tr.122.
Trang 15thời, mở rộng quan hệ với các nước trên tinh thần hợp tác và phát triển (biểu hiện
rõ rệt nhất là đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới) Đó là
những cơ sở để chúng ta, một mặt, khẳng định tính đúng đắn và khoa học trong quan điểm của Đảng về đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức; mặt khác, hiện thực hoá đường lối phát triển đó trong thực
tiễn
=> Qua đó, chúng ta cũng đã đạt được một số thành tựu Đầu tiên, chuyển đổi thành công từ thể chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Kế đến, đường lối đổi mới của Đảng đã tạo hành lang pháp lý cho nền kinh tế thị trường hướng xã hội chủ nghĩa hình thành và phát triển Và các loại thị trường cơ bản đã ra đời và từng bước phát triển thống nhất trong cả nước, gắn với thị trường khu vực và thế giới Cuối cùng, cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã đi vào cuộc sống
1.3 Lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển
nhanh và bền vững
Bước sang thế kỷ XXI, giới khoa học cũng như giới chính trị , giới quản
lý kinh tế - xã hội chú trọng hơn nhiều về vấn đề văn hóa , con người, các vấn đề kinh tế xã hội, và các vấn đề này mang tính toàn cầu khác Theo đó, con người được xác định là trung tâm của sự phát triển Con người có vai trò quyết định sự phát triển của xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của chính
họ Trong mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi trình độ phát triển xã hội đòi hỏi một nguồn nhân lực phù hợp Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, để phát huy những thành tựu to lớn đã đạt được trong thời gian qua, trước xu thế hội nhập và nền kinh tế tri thức, nước ta cần có các nguồn lực Đó là nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn tài chính, nguồn lực khoa học - công nghệ và nguồn lực con người… Trong đó, nguồn lực con người được coi là nguồn lực quan trọng nhất, có tính chấtquyết định sự tăng trưởng và phát triển xã hội Một quốc gia cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
đó thì khó đạt được sự phát triển như mong muốn
Có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực Theo tổ chức lao động quốc tế thì: nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi
Trang 16có khả năng tham gia lao động Ngân hàng thế giới cho rằng "nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người, bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân" Như vậy, theo cách thứ nhất nhìn nhận về số lượng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sự phát triển xã hội, là tổng số những người trong độ tuổi lao động theo quy định của nhà nước và thời gian lao động họ có thể tham gia Cách thứ hai, nhìn nhận về chất lượng, nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực, trình độ chuyên môn, trình độ lành nghề của người lao động.
Với quan điểm như trên sẽ có nhiều cách hiểu khác nhau về nguồn nhân lực chất lượng cao Theo cách hiểu định lượng: nguồn nhân lực chất lượng cao là những người lao động đã qua đào tạo, có bằng cấp và trình độ chuyên môn kỹ thuật Như vậy, những người không qua trường lớp đào tạo nào, nhưng có khả năng đặc biệt, đáp ứng được những yêu cầu phức tạp của công việc lại không đượctính là lao động chất lượng cao( chẳng hạn như nghệ nhân) Trong khi đó, một số người đã qua đào tạo, nhưng không đáp ứng được yêu cầu của công việc tương ứng với trình độ đào tạo vẫn được xem là nhân lực có chất lượng cao Theo cách hiểu định tính: nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận của lực lượng lao động, có khả năng đáp ứng những yêu cầu phức tạp của công việc, tạo ra năng suất
và hiệu quả cao, có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển xã hội Tiếp cận theo góc độ này sẽ gặp khó khăn trong việc thống kê, quản lý và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Thời kỳ phát triền mới – đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải lấy việc phát huy nguồn lực con người Việt Nam hiện đại làm yếu tố cơ bản cho việc phát triển nhanh và bền vững,phải gắn tang trưởng kinh tế với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện, tiến bộ và công bằng xã hội Nếu công nghiệp hóa, hiện đại hóa là vì sự nghiệp phát triển con người, thì con người phải được coi là giá trị tối cao
Theo Lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh” Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích tăm năm trồng người” và “ muốn xây dựng chủ nghĩa” và chính 2 câu nói
ấy của bác đã khẳng định được tầm quan trọng của quan điểm Lấy phát huy nguồn
Trang 17lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững là quan trọng như thế nào.
Theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận ưu tú nhất của nguồn nhân lực đất nước, bao gồm những người tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống; có trình độ học vấn, chuyên môn cao; có sức khỏe tốt( theo độ tuổi); luôn đi đầu trong lao động, sáng tạo khoa học, đóng góp tích cực, hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đó là những “ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị
Quan điểm này từng được Đảng ta nhấn mạnh qua đại hội XI tổ chức tại Hà Nội vào năm 2011: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực
là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững đất nước”4
Phát triển bền vững : là một sự phát triển cân đối giữa 3 thái cực tang
trưởng kinh tế, xã hội, môi trường, không được xem nhẹ phần nào Ở nước ta, quan điểm phát triển nhanh và bền vững đã được nhận thức rất sớm và thể hiện trong nhiều chủ trương, nghị quyết của Đảng
Nguồn lực con người : Nguồn lực được hiểu là toàn bộ các yếu tố vật chất
và tinh thần đã, đang và sẽ tạo ra sức mạnh cho sự phát triển và trong điều kiện thích hợp sẽ thúc đẩy quá trình cảu biến xã hội của một quốc gia dân tộc
Nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện nền kinh tế từ dựa vào nông nghiệp và thủ công sang máy móc công nghiệp là chính Đây là quá trình sử dụng nguồn lao động được đào tạo, kết hợp với công nghệ, phương pháp tiên tiến nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), Đảng ta đã đưa ra quan điểm "Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết địnhthắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa"5 Điều đó cho thấy, Đảng
ta đã xác định vai trò quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với sự
3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2011, tr.130
4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2011, tr.41
5 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2006, tr.34
Trang 18thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển bềnvững Quan điểm này tiếp tục được thể hiện ở Đại hội Đảng lần thứ X và XI.
Yếu tố con người vốn dĩ luôn là yếu tố quan trọng nhất, cơ bản nhất trong các yếu tố (vốn, khoa học - công nghệ, con người, cơ cấu kinh tế, thể chế chính trị)tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì trong các yếu
tố trên thì chỉ có con người là có khả năng sáng tạo sử dụng và tạo ra các yếu tố khác:
- Vốn: mặc dù yếu tố này rất quan trọng tuy nhiên nó lại chỉ tồn tại ở dạng tiềm năng
- Khoa Học - Công Nghệ: là yếu tố được sáng tạo, phát triển và áp dụng bởi con người Sự phát triển của KH – CN tỷ lệ thuận với vai trò quan trọng của con người trong sự tiến bộ đó
- Thể chế chính trị và đường lối chính sách: đều xuất phát từ chính con người, do họ đề ra và cũng do họ thực hiện
Như vậy, muốn phát triển nguồn lực con người thì ta cần phải đặc biệt chú ýđến việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Đưa việc định hướng, phát triển nền giáo dục hiện nay trở thành ưu tiên hàng đầu và là những viên gạch đầu tiên đặt nền móng trên con đường phát triển, hội nhập ra khu vực và xa hơn là thế giới
Để thực hiện thắng lợi công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế, Đảng ta chủ trương phải đặc biệt coi trọng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006), Đảng ta đã đề ra chủ trương "Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao chấn hưng nền giáo dục Việt Nam"
Nhấn mạnh vai trò cực kì quan trọng của đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ và quản lý cùng với những công nhân có tay nghề cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tất cả phải đủ về lượng và chất để có thể sử dụng và sáng tạo những thành tựu khoa học tiên tiến
Để đạt được mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, cần làm tốt vấn đề tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là vấn đề lớn, hệ trọng, cơ bản, lâu dài, do đó, đòi hỏi phải phân tích, đánh giá đúng thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trên tất cả các mặt, từ kinh tế, chính trị, xã hội,