1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên: Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong Luật Hình sự Việt

61 32 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 545,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 2. Tình hình nghiên cứu đề tài (13)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (15)
  • 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (15)
  • 5. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài (15)
  • 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài (16)
  • 7. Kết cấu của đề tài nghiên cứu khoa học (16)
  • CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 6 1.1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo Luật Hình sự Việt Nam (17)
    • 1.1.1. Khái niệm Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (17)
    • 1.1.2. Dấu hiệu pháp lý của Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (18)
    • 1.1.3. Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội và hậu quả pháp lý của của Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử nhằm thực hiện chiếm đoạt tài sản (22)
    • 1.1.4. Hình phạt của Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong luật Hình sự Việt nam (27)
    • 1.1.5 Phân biệt Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (27)
    • 1.2. Lịch sử lập pháp hình sự về Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong luật Hình sự Việt (31)
      • 1.2.1. Giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2009 (31)
      • 1.2.2. Giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2017 (33)
      • 1.2.3. Giai đoạn từ năm 2017 đến nay (34)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÉT XỬ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI PHẠM SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TỪ NĂM 2017 ĐẾN NĂM 2020 TẠI VIỆT (38)
    • 2.1. Tình hình tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (38)
      • 2.1.1. Thực trạng tình hình tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2020 (38)
      • 2.1.2. Các phương thức thủ đoạn phạm tội (40)
    • 2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt (43)
      • 2.2.1. Những kết quả đạt được (43)
      • 2.2.2. Những khó khăn, vướng mắc (46)
      • 2.2.3. Nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót (52)
    • 2.3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự về tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để thực hiện hành (52)
      • 2.3.1. Một số giải pháp nhằm nâng cao quy định pháp luật (52)
      • 2.3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật (54)
  • KẾT LUẬN (37)

Nội dung

Đề tài Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong Luật Hình sự Việt Nam góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong công tác phòng, chống tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Đồng thời, nâng cao ý thức phòng tránh của người dân, giảm thiểu thiệt hại.

Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong thời gian qua, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản, được phân tích ở nhiều góc độ khác nhau như động cơ phạm tội, phương thức thực hiện, mức độ thiệt hại và hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa Những nghiên cứu này nhằm làm rõ bản chất của loại tội phạm này, nhận diện các yếu tố nguy cơ và đề xuất giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro cho cá nhân và tổ chức.

Bài viết của Hà Lập Ninh (2018) phân tích tình hình tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet và thiết bị số để chiếm đoạt tài sản trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất các biện pháp phòng ngừa dựa trên cơ sở pháp lý và thực tiễn Những yếu tố tạo nguy cơ gồm sự gia tăng giao dịch số, lỗ hổng bảo mật trong hệ thống thông tin, nhận thức người dùng và doanh nghiệp còn hạn chế, cũng như sự phối hợp chưa đồng bộ giữa các cơ quan chức năng trong xử lý tội phạm mạng Các giải pháp được nhấn mạnh ở ba cấp độ: pháp lý, kỹ thuật và nhận thức cộng đồng, như hoàn thiện khung pháp lý về tội phạm mạng và các biện pháp ngăn chặn, tăng cường năng lực điều tra, truy tố và xử lý hành vi phạm tội, bảo đảm an toàn thông tin cho cơ quan nhà nước và doanh nghiệp, và thúc đẩy sự hợp tác giữa nhà nước, doanh nghiệp công nghệ và người dân Bài viết kết luận rằng phòng ngừa hiệu quả tội phạm chiếm đoạt tài sản qua mạng đòi hỏi chiến lược liên ngành, sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng quản lý và an ninh mạng, cùng với việc ứng dụng công nghệ như phân tích dữ liệu và giáo dục an toàn mạng nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng và thói quen bảo vệ thông tin cá nhân.

Trong bài viết Học Xã Hội, tác giả đánh giá thực trạng phòng ngừa tình hình tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet và thiết bị số để chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa Bài phân tích làm rõ cách thức, quy trình và hệ quả của các hành vi chiếm đoạt tài sản qua công nghệ số, đồng thời nhấn mạnh vai trò của quản lý nhà nước, cơ quan công an và cộng đồng trong việc ngăn chặn tội phạm Các giải pháp được đề xuất tập trung vào tăng cường bảo mật mạng, nâng cao nhận thức của người dùng, cải thiện giám sát và phối hợp giữa các cơ quan chức năng, ngân hàng và doanh nghiệp công nghệ Việc kết nối dữ liệu, ứng dụng công nghệ thông tin và tăng cường đào tạo nhân lực được xem là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet và thiết bị số nhằm chiếm đoạt tài sản tại TP.HCM.

Vũ Thu Trang (2016) trình bày trong luận văn Thạc sĩ Luật học tại Đại học Quốc gia Hà Nội với đề tài "Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet, thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong luật Hình sự Việt Nam", nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến loại tội phạm này Tác giả đồng thời kiến nghị đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet, thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.

Nguyễn Hoàng Nam (2017) trong luận văn Thạc sĩ luật học tại Đại học Quốc gia Hà Nội đã phân tích quy định của Luật Hình sự Việt Nam về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản, đồng thời khảo sát thực tiễn áp dụng ở địa bàn tỉnh Phú Thọ; bài viết làm rõ hành vi, dấu hiệu cấu thành tội phạm và cách áp dụng các quy định hình sự vào các vụ việc thực tế, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với tội danh này, bao gồm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, củng cố năng lực điều tra - truy tố và tăng cường công tác phòng ngừa, nhằm giảm thiểu tội phạm công nghệ và bảo vệ tài sản cho người dân.

Bài viết trên Báo Dân Trí ngày 20/02/2020 cho biết Nguyễn Dương và đồng phạm, trong đó có Nguyễn Hữu Tiến, đã sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản; thủ đoạn của vụ án được mô tả chi tiết, nhấn mạnh vai trò của từng đồng phạm và tính chất công nghệ cao của hành vi phạm pháp Đề tài truy cập tại: https://dantri.com.vn/phap-luat/bo-cong-an-thong-tin-tiep-vu-lua-dao-hon-10000-nguoi-bang-hinh-thuc-da-cap-20200220171217679.htm vào lúc 13 giờ ngày 10/10/2020.

Tin từ NDĐT cho biết, ngày 1/5, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh đã chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để đề nghị truy tố năm đối tượng, trong đó có ba người Trung Quốc, về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, thiết bị điện tử để chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 4, điều 290 Bộ luật hình sự.

02/5/2020 Đề tài truy cập tại: https://nhandan.com.vn/thoi-su-phap-luat/triet-pha-duong-day- su-dung-cong-nghe-cao-chiem-doat-tai-san-

457070/?fbclid=IwAR2MMj_9uG1egclif0E2d1exHiC0grtlKCWP6_Rc3mW- ehef7ZCtOBWpu_4.ht vào lúc 13 giờ ngày 10/10/2020

Ở Thanh Hóa, cơ quan công an vừa khởi tố lãnh đạo Công ty cổ phần Tập đoàn Thời gian vàng (Gold Time Group) về tội danh sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản Bài viết trên Tạp chí Tài Chính ngày 31/8/2020 ghi nhận vụ việc và tham khảo nguồn từ tapchitaichinh.vn, truy cập lúc 13 giờ ngày 10/10/2020.

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trước đây đã đề cập đến một số khía cạnh của Tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông và phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản, tuy nhiên phạm vi khảo sát vẫn bị giới hạn ở một địa bàn nhất định Trước tình hình đó, nhóm tác giả nhận thấy còn tồn tại nhiều vấn đề cần đi sâu hơn nhằm hoàn thiện đề tài nghiên cứu về Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản một cách toàn diện hơn bằng cách mở rộng phạm vi nghiên cứu trên toàn quốc.

Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Cơ sở lý luận của bài nghiên cứu được xây dựng trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, đồng thời thừa hưởng các quan điểm của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực liên quan Nghiên cứu đặc biệt xem xét tội danh sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, làm rõ khung pháp lý và các yếu tố cấu thành của hành vi này Bài viết kết nối lý thuyết với thực tiễn bằng cách phân tích cơ sở pháp lý, định nghĩa tội phạm và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và các biện pháp phòng ngừa phù hợp với chuẩn mực xã hội và an ninh mạng.

- Phương pháp nghiên cứu: Bài nghiên cứu khoa học sử dụng phương pháp nghiên cứu biện chứng duy vật, lịch sử với các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp và các phương pháp khác để làm rõ khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản tại Điều 290 Bộ luật Hình sự

Việc sửa đổi năm 2015 và bổ sung năm 2017 đã làm rõ thực tiễn áp dụng điều luật này trong xét xử và chỉ ra những hạn chế của pháp luật hình sự đối với tội phạm này Từ thực tiễn đó, nhóm tác giả đề xuất hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật để tăng tính khả thi, công bằng và hiệu quả của hệ thống tư pháp hình sự.

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu này góp phần làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản, đồng thời làm rõ vai trò của việc hoàn thiện quy định của pháp luật về tội phạm này Kết quả có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập tại các cơ sở đào tạo ngành luật, từ đó nâng cao nhận thức và năng lực pháp lý của người học và người làm công tác pháp lý Bài viết cũng đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực thi hành pháp luật, cải thiện khung pháp lý và các biện pháp phòng ngừa, xử lý tội phạm liên quan đến hoạt động trên mạng Những nội dung này hướng tới đóng góp cho tiến bộ lý thuyết và ứng dụng thực tiễn, đồng thời hỗ trợ xây dựng và hoàn thiện chính sách an ninh mạng và an toàn thông tin.

Kết cấu của đề tài nghiên cứu khoa học

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, đề tài nghiên cứu được kết cấu làm 2 chương như sau:

Chương 1 trình bày tổng quan về các vấn đề lý luận và pháp lý liên quan đến tội danh sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản trong Luật Hình sự Việt Nam Nội dung tập trung vào khung lý thuyết về hành vi phạm tội, các yếu tố cấu thành tội phạm và phạm vi trách nhiệm hình sự, đồng thời phân tích căn cứ pháp lý và cơ chế điều chỉnh của hệ thống pháp luật hiện hành đối với tội phạm công nghệ cao Bài viết làm rõ đặc điểm, dấu hiệu và mức độ nguy hiểm của hành vi chiếm đoạt tài sản bằng công nghệ, các biện pháp ngăn chặn và xử lý hình sự, cũng như những khoảng trống và bất cập cần được hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và phương tiện điện tử ở Việt Nam.

Chương 2 tổng hợp thực trạng xét xử các vụ án Tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản từ năm 2017 đến nay và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự về nhóm tội danh này Bài viết làm sáng rõ những khó khăn trong áp dụng các quy định hiện hành, từ khía cạnh chứng cứ điện tử đến trình tự tố tụng, đồng thời phân tích nguyên nhân dẫn đến các vụ án bị xử lý chưa triệt để Trên cơ sở đó, các đề xuất tập trung vào chỉnh sửa, bổ sung các điều khoản liên quan, tăng cường vai trò và năng lực của đội ngũ tố tụng, cũng như nâng cao hiệu quả đấu tranh, ngăn ngừa và xử lý nghiêm các hành vi chiếm đoạt tài sản bằng công nghệ số và nâng cao sự bảo vệ quyền lợi của người bị hại Mục tiêu là hoàn thiện khung pháp lý, cải thiện hệ thống chứng cứ điện tử và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tòa án nhằm nâng cao tính răn đe và hiệu quả xử lý trong thực tiễn xét xử.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 6 1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo Luật Hình sự Việt Nam

Khái niệm Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật hình sự phải bị xử lý hình sự.

Mạng máy tính là một mạng viễn thông kỹ thuật số cho phép các nút mạng chia sẻ tài nguyên và dữ liệu với nhau Trong hệ thống này, các thiết bị máy tính trao đổi thông tin thông qua các kết nối giữa các nút, được hỗ trợ bởi các giao thức mạng và phương tiện truyền thông, nhằm tối ưu hóa truyền tải và quản lý tài nguyên mạng.

Mạng viễn thông là hệ thống gồm các thiết bị viễn thông được liên kết với nhau bằng đường truyền dẫn để cung cấp các dịch vụ viễn thông và dịch vụ ứng dụng viễn thông cho người dùng Hệ thống này bao gồm hạ tầng phần cứng, các tuyến truyền dẫn và mạng lưới kết nối cho truyền dữ liệu, thoại và các dịch vụ đa phương tiện, đồng thời cho phép tích hợp các ứng dụng viễn thông phục vụ cho giao tiếp, kinh doanh và tiện ích hàng ngày Để đảm bảo hiệu suất, độ tin cậy và trải nghiệm người dùng, việc quản lý lưu lượng, bảo mật và tối ưu hóa băng thông là rất quan trọng.

Chiếm đoạt tài sản là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của người khác vào phạm vi sở hữu của chính mình Hành vi này xâm phạm quyền sở hữu và quyền quản lý tài sản của chủ thể hợp pháp, đồng thời vi phạm các quy định của pháp luật về tài sản.

Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản là một dạng tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, còn được gọi là tội phạm công nghệ cao Do lợi dụng các tính năng đặc thù của công nghệ, thủ đoạn của đối tượng phạm tội có thể triển khai chiếm đoạt tài sản bằng nhiều cách khác nhau, từ xâm nhập hệ thống và lừa đảo qua mạng cho đến đánh cắp thông tin và tài sản số.

Dựa vào khái niệm tội phạm được quy định trong Luật hình sự Việt Nam, tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi thực hiện, có lỗi cố ý, sử dụng các công cụ công nghệ này làm phương tiện phạm tội nhằm xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và công dân được pháp luật hình sự bảo vệ Khái niệm này nhấn mạnh các yếu tố chủ thể (người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi), khách thể (quyền sở hữu tài sản được bảo vệ), và khách quan (hành vi chiếm đoạt bằng công nghệ số và sự nguy hiểm của hành vi đối với xã hội).

Trên cơ sở khái niệm có thể thấy tội phạm này có một số đặc điểm như sau:

Phương tiện phạm tội được đặc trưng bởi việc người phạm tội sử dụng các thiết bị công nghệ thông tin hiện đại như mạng máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản; đặc điểm này là nền tảng, tạo sự khác biệt rõ rệt giữa tội phạm này với tội phạm truyền thống và cho thấy vai trò của công nghệ thông tin trong phạm tội.

Về mục đích phạm tội, mọi hành vi của người phạm tội và việc sử dụng công cụ phạm tội đều nhằm chiếm đoạt tài sản Mặc dù các thiết bị công nghệ thông tin có thể được dùng cho nhiều mục đích khác nhau, đối với tội phạm được nghiên cứu trong đề tài này, hành vi được thực hiện nhằm chiếm đoạt tài sản mới là hành vi thuộc tội phạm này.

Trong ba đặc điểm về chủ thể thực hiện tội phạm, người phạm tội thường có nền tảng am hiểu công nghệ thông tin và tận dụng các kiến thức CNTT để phục vụ cho hành vi phạm pháp của mình.

Phần thứ tư giải thích rằng tài sản chiếm đoạt trong tội danh này có thể là tài sản thông thường như vật, tiền và giấy tờ có giá trị, đồng thời cũng bao gồm tài sản ảo Tài sản ảo được coi có giá trị tương ứng với tài sản thông thường khi được đem ra thanh toán, giao dịch, mua bán hoặc quy đổi sang giá trị thực tế.

Thứ năm tập trung vào tính chất của hành vi phạm tội trong lĩnh vực công nghệ thông tin Các hành vi này thường rất tinh vi và xảo quyệt, khó nhận diện và khó ngăn ngừa vì tính phức tạp của hệ thống CNTT Người phạm tội có thể thực hiện hành vi trong thời gian rất ngắn, chỉ bằng vài phút, và có thể diễn ra ở bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi đâu nhờ sự phổ biến của mạng internet và các thiết bị số.

Ngoài các đặc điểm đã được đề cập, tội phạm lợi dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số để chiếm đoạt tài sản còn có những đặc điểm khác nổi bật như tính không biên giới của loại tội phạm này, sự gia tăng về quy mô và tần suất vụ việc, cũng như hậu quả nghiêm trọng đối với cá nhân, tổ chức và nền kinh tế, đòi hỏi nâng cao nhận thức, củng cố an ninh mạng và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng với doanh nghiệp để ngăn chặn và xử lý kịp thời.

Dấu hiệu pháp lý của Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

1.1.2.1 Khách thể của tội phạm

Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản được quy định tại Chương XXI - Các tội phạm xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng của Bộ luật hình sự Việt Nam, cho thấy khách thể của tội phạm này thuộc nhóm an toàn công cộng, trật tự công cộng Khách thể trực tiếp của tội phạm là sự an toàn trong lĩnh vực công nghệ thông tin và hoạt động bình thường của hệ thống mạng máy tính, mạng viễn thông và phương tiện điện tử, đồng thời ảnh hưởng đến môi trường giao dịch điện tử và các hoạt động liên quan như thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu qua mạng.

Thực tế cho thấy các cơ quan, tổ chức và cá nhân sử dụng hệ thống mạng và các phương tiện điện tử dù đã được thiết lập biện pháp bảo mật riêng vẫn có nguy cơ bị tội phạm lợi dụng để thực hiện hành vi xâm phạm an toàn và phá hoại hoạt động của hệ thống CNTT bằng nhiều công cụ và phương tiện khác nhau, do mạng có tính chất công khai và mang tính toàn cầu Việc tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản là hành vi được quy định tại Chương XXI—Các tội xâm phạm trật tự an toàn công cộng; đối tượng tác động là tài sản và kẻ phạm tội lợi dụng hoạt động bình thường của hệ thống CNTT để xâm nhập, bẻ khóa bảo mật và chiếm đoạt tài sản, gây thiệt hại cho chủ sở hữu là cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân trong nước và nước ngoài, đồng thời ảnh hưởng đến an toàn công cộng Theo Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015, tài sản được định nghĩa là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.

Hiện nay có một loại tài sản được gọi là “tài sản ảo” được tạo dựng và mua bán trên mạng giữa những người tham gia trò chơi trực tuyến, gồm cả tài khoản và vật phẩm trong game online; trên thực tế, nhiều tài sản ảo đã được định giá và giao dịch với giá trị lớn Pháp luật Việt Nam hiện chưa có quy định công nhận tài sản ảo là tài sản, dẫn tới thiếu căn cứ pháp lý để xác lập quyền sở hữu và giải quyết các tranh chấp liên quan đến loại tài sản này Tuy nhiên, do đã xuất hiện các hành vi chiếm đoạt liên quan đến tài sản ảo, theo nhóm tác giả của bài nghiên cứu khoa học, cần xem xét xây dựng khuôn khổ pháp lý phù hợp để xác lập quyền sở hữu và giải quyết tranh chấp phát sinh từ tài sản ảo.

Trong lĩnh vực an ninh mạng, tài sản ảo được xem là đối tượng tác động của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Việc nhận diện và xử lý các hành vi liên quan đến tài sản ảo đòi hỏi khung pháp lý phù hợp và sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng để đảm bảo chứng cứ và nâng cao hiệu quả xử lý.

1.1.2.2 Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản được thể hiện qua ba yếu tố chính: hành vi khách quan của tội phạm (các hành động đã thực hiện để chiếm đoạt tài sản), phương tiện phạm tội (máy tính, mạng viễn thông và các thiết bị điện tử được dùng để thực hiện hành vi) và hậu quả của tội phạm (mất tài sản, thiệt hại cho nạn nhân và các hệ quả pháp lý phát sinh).

Thứ nhất, hành vi khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản là các hành vi do người phạm tội thực hiện thông qua việc khai thác các mạng và công nghệ này; theo Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, các hành vi này đã được làm rõ và bổ sung nhằm nêu cụ thể hơn các yếu tố cấu thành và phạm vi chiếm đoạt tài sản khi thực hiện qua mạng máy tính, mạng viễn thông và phương tiện điện tử.

Đầu tiên, hành vi lợi dụng thông tin về tài khoản ngân hàng và thẻ của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản hoặc chủ thẻ, hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ một cách trái phép Đây là một hình thức gian lận tài chính nhằm trục lợi từ dữ liệu tài chính cá nhân, gây thiệt hại cho nạn nhân và làm giảm niềm tin vào các giao dịch ngân hàng và thanh toán điện tử.

Hai hành vi liên quan đến thẻ ngân hàng giả được coi là vi phạm pháp luật: làm thẻ giả và các hành vi tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản hoặc chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ.

Ba là, truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản;

Trong lĩnh vực thương mại điện tử và thanh toán điện tử, hành vi lừa đảo có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức, bao gồm lừa đảo trong giao dịch tiền tệ, huy động vốn trái phép, kinh doanh đa cấp và giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản của người tham gia Những thủ đoạn này thường dựa vào giả mạo thông tin, dụ dỗ bằng lợi nhuận ảo và thiết lập hệ thống thanh toán thiếu an toàn để đánh lừa người dùng Để phòng ngừa, người tiêu dùng và doanh nghiệp nên nhận diện các dấu hiệu rủi ro như yêu cầu thanh toán ngoài nền tảng, cam kết lợi nhuận quá cao hoặc thiếu thông tin minh bạch về bên phát hành và quản lý Các cơ quan chức năng cần có biện pháp kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm minh các hành vi lừa đảo trên môi trường số nhằm bảo vệ tài sản và duy trì niềm tin cho thị trường.

Năm là, thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, Internet nhằm chiếm đoạt tài sản

Địa điểm và thời điểm phạm tội dường như không còn mang nhiều ý nghĩa đối với loại tội phạm này, khác với các tội phạm truyền thống Người phạm có thể thực hiện hành vi phạm tội từ bất kỳ nơi nào trên thế giới và vào bất cứ lúc nào Loại tội phạm này được coi là hoàn thành ngay tại thời điểm người thực hiện xong một trong các hành vi nêu trên, trong khi hậu quả không phải là yếu tố bắt buộc để cấu thành tội phạm.

Thứ hai, phương tiện phạm tội

Phương tiện phạm tội là những vật, công cụ hoặc phương tiện do chủ thể của tội phạm sử dụng để thực hiện hành vi phạm pháp của mình Những đối tượng này đóng vai trò trực tiếp trong quá trình thực hiện hành vi vi phạm và có thể là vật chất, thiết bị kỹ thuật hoặc bất kỳ đồ vật nào hỗ trợ hành vi phạm tội Đối với tội phạm được quy định tại Điều 290 của Bộ luật hình sự năm , phương tiện phạm tội được xem là một yếu tố cấu thành quan trọng giúp xác định mức độ nguy hiểm và trách nhiệm hình sự của hành vi Việc nhận diện và đánh giá phương tiện phạm tội là căn cứ để áp dụng hình phạt, biện pháp ngăn ngừa và xử lý tội phạm một cách phù hợp Trong quá trình phân tích, nhân tố điều tra về phương tiện phạm tội cần làm rõ tính chất, cách thức sử dụng và phạm vi ảnh hưởng của nó để đảm bảo tính chính xác của các quyết định trong hệ thống tư pháp.

Điều chỉnh sửa đổi năm 2015, bổ sung năm 2017 xác định phạm vi phạm tội là mạng máy tính, mạng viễn thông và phương tiện điện tử Mạng máy tính được hiểu là tập hợp nhiều máy tính kết nối với nhau, có thể chia sẻ dữ liệu Mạng viễn thông là tập hợp các thiết bị viễn thông được liên kết với nhau bằng đường truyền để cung cấp dịch vụ viễn thông, dịch vụ ứng dụng viễn thông Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dữ liệu dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn hóa Hệ thống này bao gồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơn của các doanh nghiệp, của các Viện nghiên cứu và các trường đại học, của người dùng cá nhân và các Chính phủ trên toàn cầu Ngoài ra, đó còn là những phương tiện điện tử dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện tử hoặc công nghệ tương tự như điện thoại di động, máy tính, máy Fax; máy rút tiền tự động, thiết bị kỹ thuật viễn thông, máy đọc thẻ ATM.

1.1.2.3 Mặt chủ quan của tội phạm

Thứ nhất là về lỗi của người phạm tội

Trong tội phạm được quy định tại Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, đây được xác định là lỗi cố ý trực tiếp Khi người phạm dùng mạng máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản, họ nhận thức rõ tính nguy hiểm của hành vi xâm phạm lợi ích vật chất của người khác và mong muốn hậu quả ấy xảy ra Về mặt lý trí, họ nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi sử dụng công nghệ thông tin để chiếm đoạt tài sản và thấy trước hậu quả; về mặt ý chí, họ có sự mong muốn và nỗ lực cho hậu quả đó phát sinh Đối với tội danh này, để chiếm đoạt tài sản thì người phạm phải xâm phạm an toàn trong lĩnh vực công nghệ thông tin và mong muốn điều đó xảy ra nhằm đạt được mục đích phạm tội; tuy nhiên, tùy từng cách thức và hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và phương tiện điện tử mà chủ thể có những đặc điểm về lý trí và ý chí khác nhau.

Một hình thức phạm tội liên quan đến công nghệ thông tin là tìm kiếm và thu thập thông tin riêng về số tài khoản, số thẻ nhằm chiếm đoạt tài sản Đối với loại hình này, người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình và nhìn thấy trước hậu quả do hành vi gây ra Chính việc khai thác những thông tin thu thập được cho phép họ chiếm đoạt tài sản và gây tổn thất cho người bị hại.

Những thiết bị công nghệ thông tin có khả năng kết nối qua mạng trở thành phương tiện để người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội, cho phép họ xâm nhập hệ thống mạng của ngân hàng hoặc cá nhân để phá hoại, thay đổi thông tin và đạt được mục đích cuối cùng Tuy nhiên, hành vi xâm nhập có thể dẫn đến hậu quả khác như thay đổi kết cấu mạng, làm hỏng hệ thống và gây ra các lỗi nghiêm trọng mà người phạm tội có thể không lường trước được và không mong muốn trong thực tế Như vậy, trường hợp này là ví dụ của các hậu quả phát sinh ngoài ý chí của người phạm tội Mặc dù vậy, người phạm tội nhận thức được sự nguy hiểm của hành vi và mong muốn hành vi được thực hiện cùng với hậu quả của nó, thể hiện lỗi cố ý trực tiếp; không thể có lỗi vô ý đối với tội phạm này.

Thứ hai là về mục đích và động cơ phạm tội

Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội và hậu quả pháp lý của của Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử nhằm thực hiện chiếm đoạt tài sản

1 Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 a Nguyên nhân khách quan

Về yếu tố kinh tế - xã hội, Việt Nam đang là một nước đang phát triển và chịu sự tác động sâu của cuộc cách mạng công nghệ 4.0, khiến nền kinh tế tăng trưởng và đời sống người dân được nâng lên Nhu cầu sử dụng các thiết bị thông minh như máy tính và điện thoại thông minh ngày càng cao, phục vụ cho công việc lẫn đời sống hàng ngày Thực tiễn cho thấy các đối tượng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong những năm gần đây tập trung vào các lĩnh vực tài chính ngân hàng, đầu tư, chứng khoán, và ngày càng áp dụng các thủ đoạn tinh vi như lừa đảo thông qua thẻ tín dụng, qua hợp đồng trên mạng Internet, hay khai thác công nghệ cao Song tình trạng nhập cư gia tăng làm tăng số lượng người ở độ tuổi lao động không có việc làm hoặc có việc làm nhưng thu nhập không ổn định; sự phân hóa giàu nghèo cũng là một yếu tố kích thích ý thức tiêu cực và hình thành tâm lý bất mãn Dưới tác động của nền kinh tế thị trường có mặt trái, khi điều kiện sống không được đảm bảo tối thiểu, người nghèo dễ bị tác động và liều lĩnh, sẵn sàng bất chấp mọi thủ đoạn để tồn tại.

Yếu tố văn hóa và giáo dục đóng vai trò hạn chế và tác động đến quá trình quản lý, triển khai các chính sách và chương trình về văn hóa, giáo dục, từ đó ảnh hưởng đến sự hình thành tội phạm và nhân cách của mỗi người Gia đình và nhà trường là hai trụ cột quan trọng cho sự hình thành nhân cách; gia đình được xem như tế bào của xã hội và giáo dục gia đình có vai trò đặc biệt trong việc hình thành nhân cách cho con cái Nghiên cứu các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên toàn quốc cho thấy giáo dục nhân cách từ gia đình còn tiềm ẩn nhiều mối lo, khi dưới tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường nhiều gia đình có nhận thức lệch về giá trị vật chất dẫn tới hành vi lệch chuẩn và giáo dục sai lệch Việc cha mẹ ly hôn cũng làm cho con cái thiếu tình thương, khiến con đường phạm tội trở nên rất gần Lâu nay chúng ta coi trọng việc dạy chữ mà quên mất bồi dưỡng nhân cách và đạo đức nghề nghiệp; môi trường giáo dục tốt sẽ cung cấp tri thức, rèn luyện tính tích cực và nuôi dưỡng ước mơ Ngược lại, môi trường giáo dục nhiều nhược điểm sẽ tác động tiêu cực đến sự hình thành và phát triển nhân cách, và sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường chưa chặt chẽ có thể dẫn tới dễ sa chân vào môi trường lao động đầy cám dỗ.

Vấn đề tuyên truyền pháp luật và công tác quản lý nhà nước trong tuyên truyền còn chưa sâu rộng, dẫn đến người dân chưa hiểu biết pháp luật, nhất là ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa trước các thủ đoạn lừa đảo trên mạng xã hội; nguyên nhân chủ yếu là thiếu sót và bất cập trong hoạt động của các cơ quan chức năng có thẩm quyền quản lý, buông lỏng quản lý, đùn đẩy trách nhiệm và thiếu sự hợp tác giữa các cấp chính quyền địa phương Công tác tuyên truyền pháp luật về phòng ngừa tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và phương tiện điện tử chưa được thực hiện thường xuyên với chất lượng còn thấp, chú trọng nhiều về hình thức và số lượng hơn là đi vào chiều sâu, nên hiệu quả chưa cao và chưa phù hợp với từng địa phương, giới tính, độ tuổi, trình độ Các biện pháp tuyên truyền còn hạn chế ở vai trò cảnh báo, nâng cao ý thức phòng ngừa cho người dân nói chung và tội phạm công nghệ nói riêng, khiến nhiều trường hợp lặp lại các thủ đoạn lừa đảo và nạn nhân vẫn sập bẫy Nguyên nhân cuối cùng là điều kiện giáo dục và tuyên truyền pháp luật còn bất cập thể hiện trong các chính sách, pháp luật của Nhà nước về các lĩnh vực kinh tế, đất đai, tạo điều kiện thuận lợi cho hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng dễ dàng.

Thứ tư nói về công tác quản lý Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, nơi sự năng động và phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng phát triển, diễn ra nhanh chóng nhưng cơ chế, chính sách và khung pháp lý chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ; quản lý hoạt động ngân hàng còn nhiều thiếu sót và hành lang pháp lý chưa được đảm bảo, khiến một số ngân hàng cạnh tranh theo thị phần bằng cách buông lỏng quản lý Từ sự thiếu chặt chẽ trong quản lý đã nảy sinh kẽ hở cho tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản, do đó cần hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường giám sát và siết chặt quản lý ngân hàng để bảo đảm an toàn tài sản và ổn định hệ thống.

Thứ năm đề cập đến Cơ quan Tư pháp chịu áp lực công việc khiến trọng tâm được đẩy mạnh vào nâng cao hiệu quả điều tra, truy tố và xét xử các vụ phạm tội nói chung, đặc biệt là các hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản; tuy nhiên sự tập trung này lại làm cho các biện pháp phòng ngừa tội phạm bị xem nhẹ Nhiều cơ quan, đoàn thể và cá nhân chưa nhận thức đầy đủ rằng công tác phòng ngừa tội phạm là trách nhiệm của các cơ quan bảo vệ pháp luật; do đó, công tác phòng ngừa tội phạm nói chung và phòng ngừa tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử chiếm đoạt tài sản nói riêng chưa trở thành phong trào rộng khắp ở các tỉnh.

Phía người phạm tội cho thấy, qua nghiên cứu các đối tượng sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, họ có lối sống thực dụng, thiếu lao động và nghề nghiệp không ổn định Tuy nhiên, trình độ học vấn của các đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản lại khá cao, có trình độ phổ thông cao, am hiểu công nghệ thông tin và đã lợi dụng các khe hở công nghệ để thực hiện hành vi lừa đảo Mặt khác, ở độ tuổi chưa thành niên của tội phạm cho thấy tâm lý chưa ổn định và chưa nhận thức đầy đủ mức độ nguy hiểm cũng như hậu quả có thể xảy ra.

Phía người bị hại là những nhóm dễ trở thành mục tiêu của tội phạm trên phạm vi rộng, như học sinh, sinh viên, phụ nữ nội trợ và cả nhân viên văn phòng Sự sơ hở khi tiết lộ thông tin cá nhân—như số căn cước công dân, mã PIN hoặc thẻ ngân hàng—khi người bị hại tin tưởng và bị giả danh người có thẩm quyền có thể tạo điều kiện cho tội phạm thực hiện hành vi phạm pháp nhanh chóng Với thủ đoạn tinh vi, tội phạm có thể khai thác sự thiếu hiểu biết về pháp luật và thiếu nhận thức về cách bảo vệ thông tin cá nhân để lừa đảo và chiếm đoạt tài sản Do đó, nạn nhân dễ bị lợi dụng trong nhiều tình huống khác nhau khi chưa nhận diện được giả danh và chưa biết cách bảo vệ thông tin cá nhân.

1.1.3.2 Hậu quả pháp lý a.Về mặt pháp luật:

Hậu quả pháp lý là hệ quả tất yếu mà cá nhân và tổ chức phải gánh chịu khi vi phạm pháp luật Tùy tính chất và mức độ của hành vi vi phạm, các chủ thể vi phạm có thể phải chịu nhiều loại trách nhiệm pháp lý khác nhau như trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính và trách nhiệm bồi thường dân sự Cụ thể ở tội danh này, người phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự.

Người sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để thực hiện một trong các hành vi quy định trong Bộ luật này, nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 173 và Điều 174, sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

Một hình thức lừa đảo phổ biến là lợi dụng thông tin về tài khoản ngân hàng và thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản hoặc chủ thẻ, hoặc dùng thông tin đó để thanh toán trái phép cho hàng hóa, dịch vụ.

Việc làm thẻ ngân hàng giả, tàng trữ, mua bán, sử dụng và lưu hành thẻ giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản hoặc chủ thẻ và thanh toán hàng hóa, dịch vụ là hành vi phạm pháp nghiêm trọng, bị xử lý hình sự và trừng phạt theo quy định của pháp luật.

Ba là, truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản;

Những hình thức lừa đảo trực tuyến phổ biến nhất gồm lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản.

Năm là, thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản

Thứ hai, phạt tù từ 02 năm đến 07 năm, cụ thể:

Một là, có tổ chức;

Hai là, phạm tội 02 lần trở lên;

Ba là, có tính chất chuyên nghiệp;

Bốn là, số lượng thẻ giả từ 50 thẻ đến dưới 200 thẻ;

Năm là, chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; Sáu là, gây thiệt hại từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;

Bảy là, tái phạm nguy hiểm

Thứ ba, phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

Một là, chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; Hai là, gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

Ba là, số lượng thẻ giả từ 200 thẻ đến dưới 500 thẻ

Thứ tư, phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

Một là, chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

Hai là, gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên;

Ba là, số lượng thẻ giả 500 thẻ trở lên

Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm, hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản; đồng thời, hậu quả về mặt đạo đức được xem xét như một phần của quá trình xử lý vụ án.

Chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi gian dối, dựa trên nhiều thủ đoạn và lợi dụng lòng tin nhằm chiếm đoạt tài sản, xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, gây hoang mang trong quần chúng Những kẻ phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử để thực hiện hành vi này sẽ phải gánh chịu hậu quả về đạo đức được Nhà nước và toàn xã hội bảo vệ Hậu quả về đạo đức gồm việc đánh mất niềm tin công chúng, làm suy giảm uy tín cá nhân và có thể đi kèm với các hình thức xử lý pháp lý phù hợp Vì vậy, hành vi chiếm đoạt tài sản bằng công nghệ số được xem là vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc đạo đức và pháp lý, đòi hỏi người phạm tội phải đối diện với trách nhiệm trước cộng đồng và bảo vệ quyền lợi của nạn nhân.

Người phạm tội luôn sống trong lo sợ và tâm lý bất an, đồng thời phải chịu sự xa lánh và kỳ thị từ những người xung quanh Nỗi sợ và áp lực tâm lý này ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần và khiến họ dễ cảm thấy cô lập trong xã hội Việc bị cộng đồng từ chối khiến họ gặp khó khăn trong quá trình tái hòa nhập và tìm kiếm sự ổn định trong cuộc sống hàng ngày.

Hai là, mất đi sự tin tưởng của người thân, gia đình, bạn bè và của xã hội

Thứ ba, đạo đức dần đi vào thoái hóa lâu ngày hình thành thói quen chuyên đi lợi dụng niềm tin của người khác để chiếm đoạt tài sản.

Hình phạt của Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong luật Hình sự Việt nam

Thứ nhất, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;

Thứ hai, phạt từ từ 02 năm đến 07 năm;

Thứ ba, phạt tù từ 07 năm đến 15 năm;

Điều 4 quy định mức phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, đồng thời có thể áp dụng các biện pháp xử phạt bổ sung như cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm một công việc nhất định trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm; hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Phân biệt Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Trong Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 290, Mục 2, Chương XXI, là một tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng trong lĩnh vực công nghệ thông tin và mạng viễn thông Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174, Chương XVI của Bộ luật Hình sự cùng với các quy định về hành vi lừa đảo và chiếm đoạt tài sản khác Hai tội này có cấu thành và mức độ xử lý riêng biệt nhưng đều bị xử lý nghiêm theo luật hiện hành.

2 Điều 290 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

B ả ng 1: Phân bi ệ t T ộ i s ử d ụ ng m ạ ng máy tính, m ạ ng vi ễn thông, phương tiện điệ n t ử th ự c hi ệ n hành vi chi ếm đoạ t tài s ả n v ớ i T ộ i l ừa đả o chi ếm đoạ t tài s ả n

Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản là hành động xâm phạm đến tài sản của người khác và đồng thời xâm phạm chế độ quản lý an ninh mạng Những hành vi này làm tổn hại quyền sở hữu, ảnh hưởng đến an toàn thông tin và yêu cầu xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật hình sự và các quy định quản lý an ninh mạng nhằm bảo đảm trật tự, an toàn mạng lưới và nền kinh tế số.

Xâm phạm các quan hệ sở hữu do pháp luật bảo vệ

Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:

Đầu tiên, lợi dụng thông tin về tài khoản và thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân để chiếm đoạt hoặc làm giả thẻ nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ là hành vi phạm pháp nghiêm trọng.

Thứ hai, truy cập bất hợp pháp vào tài khoản cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản;

Thứ ba nêu rõ các hình thức lừa đảo trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, cũng như mua bán và thanh toán cổ phiếu qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức và cá nhân.

Thứ nhất, hành vi phạm tội được xem xét gồm hai loại khác nhau là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản; hai hành vi này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, vì lừa dối có thể mở đường cho việc chiếm đoạt tài sản hoặc diễn ra đồng thời để đạt được mục đích chiếm đoạt.

Hành vi lừa dối là việc đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm khiến người khác tin đó là sự thật Trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi lừa dối được sử dụng nhằm thực hiện việc chiếm đoạt tài sản của người bị hại.

Hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội danh này được thực hiện dưới hai hình thức Cụ thể, nếu tài sản đang trong sự chiếm hữu của chủ sở hữu thì hành vi chiếm đoạt là nhận tài sản từ chủ sở hữu dựa trên thông tin do người phạm tội nắm được; hình thức kia xảy ra khi tài sản đã ở trong sự chiếm hữu của người phạm tội hoặc bị chiếm đoạt bằng các thủ đoạn nhằm chiếm đoạt tài sản mà không đơn thuần là nhận từ chủ sở hữu.

Thứ tư, hành vi khác nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được xem là hoàn thành tội phạm tại thời điểm người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản Trong trường hợp tài sản bị chiếm đoạt đang nằm trong sự chiếm hữu của người phạm tội, hành vi chiếm đoạt thể hiện ở việc giữ lại tài sản đáng lẽ phải được giao cho người bị lừa dối do họ tin tưởng thông tin của người phạm tội; vì vậy người bị lừa dối có thể nhận nhầm tài sản, nhận thiếu tài sản hoặc không nhận được tài sản Như vậy, tội phạm được coi là hoàn thành khi hành vi chiếm đoạt đã xảy ra.

Thứ hai: Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi thỏa mãn một trong các điều kiện sau:

Một là, tài sản có giá trị từ 02 triệu đồng trở lên

Đối với tài sản có giá trị dưới 2 triệu đồng, nếu từng bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt và vẫn tiếp tục vi phạm; hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt nhưng chưa được xóa án tích mà vẫn vi phạm; những hành vi này gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội Đồng thời, tài sản đó là phương tiện kiếm sống của người bị hại và gia đình họ.

Hình phạt Được quy định thành 05 khoản

 Phạt cải tạo không giam Được quy định thành 05 khoản

 Phạt cải tạo không giam giữ giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;

 Phạt từ từ 02 năm đến 07 năm;

 Phạt từ từ 07 năm đến 15 năm;

 Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm;

 Hình phạt bổ sung đến 03 năm hoặc phạt tù từ

 Phạt từ từ 02 năm đến 07 năm

 Phạt từ từ 07 năm đến 15 năm

 Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân

Lịch sử lập pháp hình sự về Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong luật Hình sự Việt

1.2.1 Giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2009

Bộ luật Hình sự năm 1999 được Quốc hội khóa X, kỳ họp VI thông qua ngày 21-12-1999 và có hiệu lực từ ngày 01-07-2000 Bộ luật Hình sự năm 1999 được xây dựng trên cơ sở kế thừa những nội dung hợp lý, tích cực của Bộ luật Hình sự năm 1985.

Bộ luật Hình sự năm 1985 và năm 1999 thể hiện sự thay đổi cơ bản mang tính tương đối toàn diện, cho thấy sự phát triển mới của Luật hình sự Việt Nam Từ khi ra đời, Bộ luật Hình sự là công cụ hữu hiệu của Nhà nước trong quản lý xã hội, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, đóng góp vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của các tổ chức và công dân, và góp phần vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội cũng như bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Trong giai đoạn này, phương tiện điện tử chưa phổ biến khiến việc sử dụng điện tử để chiếm đoạt tài sản chưa được quy định rõ bằng pháp luật; thay vào đó, các quy định tập trung vào tội danh sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính Cụ thể tại Điều 226 của Bộ luật Hình sự, các hành vi liên quan đến sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính được xem xét xử lý theo khung hình sự.

Người sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính, đồng thời đăng tải lên mạng những thông tin trái với quy định của pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử lý kỷ luật và xử phạt hành chính nhưng vẫn vi phạm, sẽ bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm: a) Có tổ chức; b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng

3 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm” 3

Giai đoạn từ năm 1999 đến 2009 chứng kiến sự gia tăng rõ rệt của tội phạm trong lĩnh vực sử dụng thông tin trái phép trên mạng và máy tính Sự tăng trưởng này cho thấy mức độ đe dọa đối với an ninh thông tin và đòi hỏi các biện pháp quản lý, ngăn chặn hiệu quả hơn Vì vậy, tại kỳ họp, các đại biểu đã xem xét nguyên nhân và đề xuất các biện pháp tăng cường năng lực cho lực lượng chức năng, hoàn thiện khung pháp lý và đẩy mạnh hợp tác giữa nhà nước, các cơ quan chức năng và doanh nghiệp công nghệ nhằm bảo vệ người dùng và doanh nghiệp trên môi trường mạng.

3 Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 1999

Quốc hội khóa XII đã thông qua ngày 19/6/2009 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự nhằm phù hợp với những thay đổi lớn của đời sống xã hội, sự phát triển kinh tế trong thời kỳ hội nhập và nhận thức pháp luật ngày càng nâng cao; sự tinh vi của thủ đoạn phạm tội và sự xuất hiện của nhiều loại tội phạm mới đòi hỏi sự điều chỉnh và bổ sung hệ thống pháp luật hình sự để đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm Trong nội dung sửa đổi năm 2009, tội danh liên quan đến thông tin trên mạng và trong máy tính được đổi tên thành Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông và mạng internet, và được quy định như sau.

Người thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân và trật tự, an toàn xã hội gây hậu quả nghiêm trọng sẽ bị xử phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm: a) đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet những thông tin trái với quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại Điều 88 và Điều 253 của Bộ luật này; b) mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hóa những thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó; c) hành vi khác sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet.

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: a) Có tổ chức; b) Lợi dụng quyền quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet; c) Thu lợi bất chính từ một trăm triệu đồng trở lên; d) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng

3 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm” 4

4 Điều 226B Luật hình Sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009

Có thể nhận thấy sự thay đổi về hình phạt trong Luật sửa đổi, bổ sung năm 2009 khi tăng thêm hai trường hợp xử phạt: lợi dụng quyền quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông và mạng Internet; và thu lợi bất chính từ một trăm triệu đồng trở lên Những quy định này đặt nền móng cho sự hình thành sau này của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.

1.2.2 Giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2017

Bộ luật Hình sự năm 1999 được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa

X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21/12/1999 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2000 Có quy định về các hành vi vi phạm pháp luật hình sự về máy tính ở hai điều “Điều 225 quy định về Tội vi phạm các quy định về vận hành, khai thác và sử dụng mạng máy tính điện tử và Điều 226 quy định về Tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính” nhưng không quy định về các hành vi trên là nhằm mục đích là chiếm đoạt tài sản cụ thể Tội sử dụng mạng máy tính để nhằm chiếm đoạt tài sản giai đoạn này không được quy định Tuy nhiên, với sự phát triển không ngừng của ngành công nghệ hiện đại của thế giới, nước ta đã học hỏi, tiếp thu và đưa công nghệ áp dụng vào đời sống ngày càng phát triển rộng khắp cả nước kéo theo nhiều tệ nạn xã hội trong đó có tội phạm về công nghệ bằng dưới mọi hình thức sử dụng công nghệ để lừa đảo người khác nhằm chiếm đoạt tài sản Chính vì vậy, ngày 19/06/2009 Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã thông qua Bộ Luật 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 có hiệu lực thi hành từ ngàu 01/01/2010 Theo đó, bổ sung thêm Điều 226b quy định “Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, qua quy định này ta thấy được sự tiến bộ, thay đổi lớn về quy định về tội danh này, với hình phạt cao nhất của tội danh này là tù chung thân Đồng thời ban hành thông tư liên tịch Số: 10/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BTTTT-VKSNDTC-TANDTC của BỘ CÔNG AN-BỘ QUỐC PHÒNG-BỘ TƯ PHÁP-BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG-VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO-TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO quy định hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về một số tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông và chính thức thông qua ngày 10/9/2012

Bộ luật Hình sự 1999 sau khi được sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã có nhiều tiến bộ so với các Bộ luật Hình sự trước đó, nhưng trước sự phát triển và thay đổi không ngừng của xã hội hiện nay, một số quy định vẫn chưa phù hợp với thực tế, trong khi tội phạm ngày càng tinh vi và ứng dụng công nghệ số ngày càng nhiều hình thức phạm tội; vì vậy Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10, đã thông qua Bộ luật Hình sự năm 2015 vào ngày 21/11/2015 và có hiệu lực thi hành.

01/01/2016 Được quy định tại Điều 290 “Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” Như vậy, so với Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 thì cụm từ “mạng internet hoặc thiết bị số” đã được thay thế bằng cụm từ “phương tiện điện tử” Với cụm từ phương tiện điện tử ta thấy được các nhà làm luật đã mở rộng hơn phạm vi tội phạm xâm phạm được quy định tại Điều 290 và căn cứ tại khoản 17 Điều 3 Luật kế toán 2015 cụ thể “Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự” Quy định về hình phạt của Bộ luật Hình sự

Vào năm 2015, Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2009 với một số điểm tiến bộ rõ rệt khi xóa bỏ hình phạt tù chung thân và áp dụng mức phạt tù cao nhất là 20 năm tù, tùy vào số tài sản chiếm đoạt được Đây là một trong những điểm mới đánh dấu sự điều chỉnh của pháp luật nước ta phù hợp với điều kiện lịch sử của dân tộc, vừa nghiêm khắc vừa tôn trọng quyền con người và đảm bảo quyền công dân Đồng thời, pháp luật nước ta luôn tạo điều kiện cải tạo tốt nhất cho người phạm tội, giúp họ nhận thức đầy đủ về hành vi của mình đối với nạn nhân, cộng đồng và xã hội để sớm hòa nhập với gia đình và xã hội.

THỰC TRẠNG XÉT XỬ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI PHẠM SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TỪ NĂM 2017 ĐẾN NĂM 2020 TẠI VIỆT

Ngày đăng: 24/07/2022, 14:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Bản án số: 49/2017/HS-ST Về “Tội sử dụng mạng internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” của Tòa án Nhân dân thành phố Châu Đốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản án số: 49/2017/HS-ST Về “Tội sử dụng mạng internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” của Tòa án Nhân dân thành phố Châu Đốc
Năm: 2017
16. Bản án số: 338/2017/HS-ST Về “Tội sử dụng mạng máy tính, mạng iễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” của Tòa án Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội sử dụng mạng máy tính, mạng iễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
17. Bản án số: 44/2018/ HS-PT Về “ Tội sử dụng mạng internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” của Tòa án Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội sử dụng mạng internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
18. Bản án số: 48/2018/HS-ST Về “ Tội sử dụng mạng máy tính, mạng iễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” của Tòa án Nhân dân huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội sử dụng mạng máy tính, mạng iễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
19. Bản án số: 108/2019/HS-ST Về “ Tội sử dụng mạng internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” của Tòa án Nhân dân Cấp cao Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản án số: 108/2019/HS-ST Về “ Tội sử dụng mạng internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” của Tòa án Nhân dân Cấp cao Đà Nẵng
Tác giả: Tòa án Nhân dân Cấp cao Đà Nẵng
Nhà XB: Tòa án Nhân dân Cấp cao Đà Nẵng
Năm: 2019
31/8/2020 Đề tài truy cập tại: http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-phap-luat/bat-nhao-kinh-doanh-da-cap-trai-phep-327288.html vào lúc 13 giờ ngày 10/10/2020 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w