Quan hệ thương mại việt nam singapore thực trạng và giải pháp thúc đẩy
Trang 1Nhóm 4:
Dương Huyền Anh CQ520032
Nguyễn Thị Thu Dung CQ520560
Trần Văn Dương CQ527075
Lê Thanh Huyền CQ527174
Nguyễn Đăng Nguyên CQ527279
Nguyễn Minh Tâm CQ527336
MỤC LỤC
Lời mở đầu ……… 3
Chương I: Cơ sở của mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Singapore 1.1.Cơ sở về điều kiện tự nhiên ……… 5
1.1.2 Vị trí địa lý, địa hình ……… 5
1.1.3 Khí hậu, đất đai ……….……… 6
1.2 Cơ sở về điều kiện văn hóa - xã hội ……… ……… 6
1.2.1 Dân cư, dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ ……… 6
1.2.2 Xu thế hội nhập ……… 7
1.3 Cơ sở về điều kiện kinh tế ……… 7
1.3.1.Kinh tế Singapore ……… 7
1.3.2 Kinh tế Việt Nam ……… 9
1.3.3 Kết luận ……… 10
Chương II: Thực trạng mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Singapore
Trang 22.1 Lịch sử phát triển mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Singapore ….112.1.1 Lịch sử phát triển mối quan hệ ……… 112.1.2 Chính sách thương mại giữa hai nước ……… 122.2 Thực trạng mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Singapore …… 14 2.2.1 Thực trạng xuất khẩu của Việt Nanm sang Singapore ………….… 14 2.2.1 Thực trạng nhập khẩu của Việt Nanm từ Singapore……… 202.3 Đánh giá quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Singapore……… 25
Chương III: Triển vọng và giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế
Việt Nam - Singapore
3.1 Triển vọng quan hệ thương mại Việt Nam- Singapore……… 29 3.1.1 Nhận định chung……… 29 3.1.2 Những khó khăn của mối quan hệ thương mại Việt Nam - Singapore… 30 3.1.3 Những khó khăn của mối quan hệ thương mại Việt Nam – Singapore… 313.2 Giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Singapore………… 32 3.2.1 Về phía nhà nước……… 32 3.2.2 Về phía doanh nghiệp……… 35
Kết luận ……… 38
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam – Singapore đã phát triển nhanh chóng,đáng khích lệ trên nhiều lĩnh vực trong 4 thập kỉ qua, kể từ khi hai nước thiết lậpquan hệ ngoại giao vào ngày 1/8/1973 Đặc biệt sự hợp tác thương mại giữa hainước đã có bước phát triển lớn, mang lại lợi ích cho cả hai dân tộc Hiện nay,Singapore đã trở thành một trong những bạn hàng lớn nhất của Việt Nam
Singapore là một nước trong khu vực Đông Nam Á, rất gần ta về mặt đại lý,cùng là thành viên của ASEAN và có nhiều mặt giống nước ta như về văn hóa,lịch sử; đặc biệt là cơ cấu kinh tế của hai nước có thế bổ sung cho nhau khi tiếnhành công cuộc xây dựng đất nước Hai nước chung xuất phát điểm nhưngSingapore là nước phát triển trước Việt Nam về kinh tế Năm 1959, Singaporecũng có nền kinh tế yếu kém thiếu vốn như tình trạng của Việt Nam hiện nay, vàSingopre đã trở thành nước công nghiệp mới phát triển có công nghệ tiên tiến, cótiềm năng về tài chính, có nhiều kinh nghiệm trong quản lý và kinh doanh Với
Trang 4chính sánh kinh tế đối ngoại theo hướng toàn cầu hóa, đa dạng hóa, đa phương hóa
và hợp tác khu vực, rất tương đồng với chính sách ngoại giao rộng mở, đa dạnghóa và đa phương hóa của Việt Nam; chính vì thế quan hệ thương mại giữa hainước không ngừng phát triển tốt đẹp
Singapore là một đối tác lớn của Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, do vậy việcnghiên cứu mối quan hệ thương mại giữa hai nước có ý nghĩa lớn về thực tiễn Quanghiên cứu có thể thấy diễn biến phát triển mối quan hệ Việt Nam – Singapore,thông qua đó chúng ta có thể học hỏi được nhiều kinh nghiệm phát triển kinh tếcủa nước bạn
Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài là phân tích và đánh giá thực trạng quan hệ hợptác kinh tế Việt Nam- Singapore, đặc biệt trên lĩnh vực thương mại Qua đó đề xuấtmột số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình phát triển quan hệ thương mạigiữa hai nước; nghiên cứu quan hệ thương mại ( cụ thể tập trung trong lĩnh vựcxuất nhập khẩu) giữa hai nước Việt Nam – Singapore từ 2009 đến nay
Phương pháp nghiên cứu
Những phương pháp nghiên cứu như phương pháp duy vật biện chứng,phương pháp logic phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp và phương pháp
so sánh được sử dụng xuyên suốt trong tiến trình làm bài thảo luận phân tích thựctrạng quan hệ kinh tế giữa hai nước
Trang 5CHƯƠNG I: CƠ SỞ CỦA MỐI QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ SINGAPORE
1.1.Cơ sở về điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình
Về
v ị trí đị a lý c ủ a Singapore : Singapore là một quần đảo nằm ở cực nam
bán đảo Malacca, là điểm án ngữ quan trọng trên con đường buôn bán bằng đườngbiển từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương, từ Đông Nam Á hải đảo sang ĐôngNam Á lục địa
Về vị trí địa lý của Việt Nam: Lãnh thổ Việt Nam nằm trong khu vực có nền
kinh tế phát triển năng động nhất, có vị trí địa lý đặc biệt ở Đông Nam Á ViệtNam có đường bờ biển dài 3.260 km, phía đông và nam giáp với biển Đông và biểnThái Bình Dương, án ngữ trên các tuyến hàng hải huyết mạch thông thương như Ấn
Trang 6Độ và Thái Bình Dương, Châu Âu - trung cận đông với Trung Quốc…
Như vậy cả Việt Nam và Singapore đều có vị trí địa lý hết sức thuận lợitrong phát triển giao thông đường biển, đồng thời lại gần nhau (vì cùng trong khuvực Châu Á) Đây là một cơ sở thuận lợi cho sự phát triển mối quan hệ kinh tếthương mại giữa hai nước, cho dù vị trí địa lý không có tính chất quyết định nhưng
nó lại có khả năng tạo ra những thuận lợi cho việc trao đổi, tiếp cận, giao thoacùng phát triển giữa các quốc gia với nhau Đặc biệt là trong xu thế hội nhập củanền kinh tế khu vực và thế giới như hiện nay thì vị trí địa lý sẽ trở thành một nguồnlực, định ra hướng phát triển có lợi nhất trong phân công lao động toàn thế giới vàxác định các mối quan hệ song phương và đa phương của một quốc gia Do vậyđây là yếu tố thuận lợi xét trong mối quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam vàSingapore
1.1.3 Khí hậu, đất đai
Singapore và Việt Nam đều nằm trong vòng đai nhiệt đới của nửa bán cầubắc, khí hậu nóng ẩm với lượng mưa trung bình khá lớn, vì vậy có sự tương đồngtrong lương thực thực phẩm Tuy vậy về đất đai, phần lớn diện tích đất Singapore
đã bị đô thị hoá, do vậy đất dành cho nông nghiệp chỉ còn khoảng 1%, đất rừngcòn khoảng 5% Trong khi đó, Việt Nam có diện tích đất đai dành cho nông nghiệpkhá nhiều Điều này tạo điều kiện cho Việt Nam có thể đa dạng hoá các loại câytrồng, phát triển hệ thống rừng rậm tiêu biểu cho rừng nhiệt đới, thêm vào đó lànguồn tài nguyên thuỷ hải sản phong phú (cá, tôm, trai, ốc, mực….) có giá trị dinhdưỡng cao, có tiềm năng xuất khẩu lớn Do vậy điều kiện khí hậu và đất đai là điềukiện thứ hai thúc đẩy việc trao đổi hàng hoá giữa hai quốc gia Singapore có thểnhập từ Việt Nam các mặt hàng nông, thuỷ sản bù đắp cho sự thiếu hụt trong nước
do điều kiện tự nhiên không cho phép và Việt Nam có thể nhập từ Singapore sảnphẩm của ngành công nghệ cao, máy móc sản xuất tiên tiến…
Trang 71.2 Cơ sở về điều kiện Văn hóa - Xã hội
1.2.1 Dân cư, dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ
**Dân c ư, dâ n t ộ c :
Singapore là một quốc gia trẻ với nhiều dân tộc và đa sắc thái văn hoá Dân
số của Singapore là gần 5,2 triệu người (tính đến năm 2011) Và Việt Nam cũng làmột quốc gia đa dân tộc (54 dân tộc anh em) với hơn 8 triệu người Đây là mộtcon số không nhỏ so với dân số Singapore Cũng vì thế Việt Nam được coi là nơicung cấp lực lượng lao động dồi dào rất hấp dẫn các nhà đầu tư Singapore
**Về tôn giáo :
Về tôn giáo, Việt Nam và Singapore tìm thấy điểm chung ở văn hoá phậtgiáo, thờ cúng tổ tiên nên sinh hoạt và ứng xử trong gia đình cũng có nhiều néttương đồng Từ đó dẫn đến một nền văn hoá khá giống nhau nên thiết lập quan hệtương đối dễ dàng
**V
ề ngôn n g ữ :
Ở Singapore nhà nước công nhận cả 4 thứ tiếng gồm tiếng Mã Lai, tiếngHoa phổ thông, tiếng Tamin và tiếng Anh là những ngôn ngữ chính, trong đó tiếnganh là ngôn ngữ chính trong thương mại, hành chính và giáo dục Còn ở Việt Namtrong những năm qua do xu thế mở cửa hội nhập thế giới nên mặc dù tiếng anh làtiếng ngoại ngữ song cũng rất phổ biến ở Việt Nam Do vậy xét riêng trong quan
hệ buôn bán thì đây cũng là một thuận lợi cho 2 phía bởi vì cả hai nước đều có thể
sử dụng tiếng Anh làm công cụ giao tiếp trong trao đổi buôn bán
1.2.2 Xu thế hội nhập
Như chúng ta đã biết, Việt Nam và Singapore là hai quốc gia thànhviên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á(ASEAN) Singapore là mộttrong năm nước đầu tiên sáng lập ASEAN năm 1967 còn Việt Nam là thànhviên thứ 7 của Hiệp hội này vào năm 1995 Các chương trình và ba cộng
Trang 8đồng trụ cột của ASEAN đã là cầu nối cho hai nước tăng cường hợp tác vềnhiều mặt chính trị, an ninh, văn hóa… cũng như kinh tế ngày càng thắtchặt và mở rộng, nhất là lĩnh vực thương mại Mặt khác, Singapore cũng làquốc gia gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO khá sớm ( năm 1995)
và Việt Nam cũng đã gia nhập WTO vào năm 2007 Sự kiện này càng đưamối quan hệ kinh tế của hai nước lên tầm cao mới, chặt chẽ hơn trong vấn
đề trao đổi thương mại Các tổ chức này đã càng tạo thêm tiền đề, động lựccho hai nước tiến hành và thúc đẩy nhiều hơn nữa các hoạt động thươngmại quốc tế cũng như tình hữu nghị giữa hai nước
1.3 Cơ sở về điều kiện kinh tế
1.3.1 Kinh tế Singapore
Kinh tế Singapore là nền kinh tế phát triển, theo đường lối kinh tế tư bản.Singgapore có môi trường kinh doanh mở, tham nhũng thấp, minh bạch tài chínhcao, giá cả ổn định, và là một trong những nước có GDP bình quân đầu người caotrên thế giới Singapore là nước có được nguồn vốn tập trung lớn, nguồn vốn thu
về từ kinh tế hết sức dồi dào, tạo tiền đề để đầu tư ra nước ngoài và phát triển kinh
tế đất nước
Singapore hầu như không có nguồn tài nguyên thiên nhiên Các nguyên liệuphần lớn nhập từ nước ngoài Singapore chỉ có ít than, chì, nham thạch, đất sét;không có nước ngọt; đất canh tác hẹp, nông nghiệp không phát triển và tỷ trọngnông nghiệp là bằng không, hàng năm phải nhập lương thực, thực phẩm để đápứng nhu cầu ở trong nước
Xuất khẩu đặc biệt là các mặt hàng điện tử, hóa chất và dịch vụ là nguồncung cấp chính cho thu nhập kinh tế và mua được các nguồn tài nguyên thiên nhiên
và hàng chưa gia công mà trong nước không có Do vậy có thể nói Singapore dựahoàn toàn vào nền kinh tế mở bằng việc mua các hàng hóa chưa gia công và chế
Trang 9biến chúng để xuất khẩu Singapore có cơ sở hạ tầng và một số ngành công nghiệpphát triển cao hàng đầu châu Á và thế giới như: cảng biển, công nghiệp đóng vàsửa chữa tàu, công nghiệp lọc dầu, chế biến và lắp ráp máy móc Singapore là nướchàng đầu về sản xuất ổ đĩa máy tính điện tử và hàng bán dẫn Singapore còn làtrung tâm lọc dầu và vận chuyển quá cảnh hàng đầu ở châu Á.
Singapore cũng có một hải cảng chiến lược, có thể cạnh tranh với các nướcláng giềng để thực hiện các hoạt động buôn bán, xuất nhập khẩu Thành phố hảicảng của Singapore là một trong những nơi bận rộn nhất trên thế giới, vượt xaHồng Kông và Thượng Hải Thêm vào đó, thành phố hải cảng của Singapore có cơ
sở hạ tầng tốt và lực lượng lao động có tay nghề cao nhờ các chính sách giáo dụccủa đất nước trong việc đào tạo kỹ nghề cho công nhân, nó cũng là nền tảng choviệc phát triển kinh tế của đất nước
Nền kinh tế Singapore chủ yếu dựa vào thương mại và dịch vụ, đặc biệt làxuất nhập khẩu, du lịch và ngân hàng tài chính ( chiếm hơn 70%GDP) Singaporecũng được coi là nước đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức
1.3.2 Kinh tế Việt Nam
Việt Nam là nền kinh tế lớn thứ 6 ở Đông Nam Á, lớn thứ 57 trên thế giớixét theo quy mô tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa năm 2011 và đứng thứ 128 xéttheo tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa bình quân đầu người Đây là nền kinh tếhỗn hợp, phụ thuộc cao vào xuất khẩu thô và đầu tư trực tiếp nước ngoài Cácchính sách kinh tế mà chính phủ áp dụng dần cởi mở nhiều hơn theo hướng kinh tếthị trường trong nền kinh tế hội nhập toàn cầu
Việt Nam là nước giàu tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản như than, vàng,bạc, đồng, thiếc, sắt, chì, kẽm,….,tài nguyên rừng cũng vô cùng phong phú ViệtNam ta hiện nay chủ yếu xuất khẩu các loại khoáng sản này một cách trực tiếp mà
Trang 10chưa qua sơ chế Đất nông nghiệp rộng lớn kết hợp với thiên nhiên ưu đãi cũng làđiều kiện hết sức thuận lợi cho Việt Nam phát triển nông nghiệp, thích hợp pháttriển các loại cây lương thực, thực phẩm, các loại cây công nghiệp và cây ăn quả.
Bờ biển dài cùng hệ thống sông ngòi dày đặc tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôitrồng cũng như đánh bắt thủy hải sản Những mặt hàng nông sản cùng thủy hải sảnchiếm phần lớn các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta hiện nay Nằm ở mộttrong các trũng dầu lớn nhất thế giới, Việt Nam hàng năm đã thu về hàng trămtriệu đôla từ việc xuất khẩu dầu thô
Việt Nam cũng là một thị trường dồi dào nguồn nhân lực Năm 2012, dân sốcủa Việt Nam đã đạt 90 triệu người trong đó dân số trong độ tuổi lao động chiếmđến trên 50% trong tổng dân số Lao động dồi dào giúp cho Việt Nam xây dựngđược các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động đồng thời xuất khẩu lao độngcũng là nguồn thu lớn cho Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai
Việt Nam cũng có nhiều cảng biển như: cảng Hải phòng, cảng Sài Gòn,…và
là các thành phố kinh tế phồn thịnh, luôn hoạt động sôi nổi trong nền kinh tế thịtrường hiện nay Những cảng biển này là cầu nối kinh tế của Việt Nam với thịtrường quốc tế, mang lại cho Việt Nam nguồn thu lớn từ thương mại quốc tế
1.3.3 Kết luận
Cùng nằm trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam và Singapore đã có nhiềuthuận lợi để hợp tác kinh tế, lại cùng là thành viên của tổ chức ASEAN nên việchợp tác giữa hai nước có nhiều thuận lợi hơn do các chính sách ưu đãi về kinh tếcủa tổ chức, điển hình như chính sách thuế Trong tương lai, hàng rào phi thuếquan trong khu vực Đông Nam Á sẽ được xóa bỏ hoàn toàn
Trong khi nền kinh tế của Singapore tập trung chủ yếu vào các mặt hàngcông nghiệp hiện đại, mang hàm lượng công nghệ cao thì Việt Nam chỉ sản xuấtđược ở các mặt hàng công nghiệp thông thường, chưa sử dụng công nghệ cao vào
Trang 11trong sản phẩm Mặt khác, Singapore có tỷ trọng nông nghiệp bằng 0 thì Việt Namlại có tỷ trọng nền nông nghiệp còn rất lớn, sản xuất chủ yếu là các mặt hàng nôngsản Singapore có thể xuất khẩu máy móc, hỗ trợ Việt Nam sản xuất các mặt hàngcông nghệ cao, các ngành sản xuất phải sử dụng nhiều vốn Việt Nam lại có lợi thếxuất khẩu mặt hàng nông- thủy hải sản nên Singapore có thể nhập khẩu để duy trìnguồn lương thực thực phẩm trong nước, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của ngườidân Nền kinh tế của hai nước mang nhiều yếu tố bổ sung, hỗ trợ cho nhau Do đó,hai nước có thể hợp tác để phát triển, cùng nhau vươn lên trở thành các nền kinh tếphát triển thịnh vượng và ổn định lâu dài.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ SINGAPORE
2.1 Lịch sử phát triển mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Singapore 2.1.1 Lịch sử phát triển mối quan hệ
Mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam - Singapore đã phát triển nhanh chóngđáng khích lệ trên nhiều lĩnh vực trong hơn 3 thập kỷ qua, kể từ khi hai nước thiếtlập quan hệ ngoại giao vào ngày 01/08/1973 Đặc biệt sự hợp tác thương mại giữahai nước đã có bước phát triển lớn, mang lại lợi ích cho cả hai dân tộc Hiện naySingapore đã trở thành một trong những bạn hàng lớn nhất của ta và là nước cóvốn đầu tư lớn nhất vào Việt Nam Hai nước có chung một xuất phát điểm nhưngSingapore là nước phát triển trước Việt Nam về kinh tế
Năm 1959, Singapore cũng có nền kinh tế yếu kém thiếu vốn như tình trạngcủa Việt Nam hiện nay Bắt đầu từ những năm 1970s, Singapore thực hiện chiếnlược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, tăng cường đầu tư ra nước ngoài Đây
Trang 12là một chiến lược đúng đắn giúp Singapore tận dụng được ưu thế về vị trí địa lýcủa mình, mở rộng quan hệ kinh tế thương mại với các nước khác để khắc phụcnhững nhược điểm của mình Hiện nay, Singapore là một trong năm nước sáng lậpASEAN và đã xây dựng hiệp hội thành một tập thể vững chắc cùng hợp tác pháttriển Singapore cũng tích cực nâng cao vai trò của nước sáng lập Á- Âu (ASEM)
và vai trò trong tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Singapore đang ngày mộtnâng cao hơn nữa vị trí của mình trên diễn đàn khu vực và quốc tế
Ở Việt Nam từ sau khi tiến hành công cuộc cải tổ đổi mới năm 1986, Đảng
và Nhà nước ta cũng dần dần thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, bắt tay vớicác nước trong khu vực và toàn thế giới trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền vàtoàn vẹn lãnh thổ Việt Nam cũng tham gia vào các tổ chức liên kết khu vực cũngnhư thế giới như ASEAN, APEC, ASEM, WTO…
Như vậy có thể nói Singapore và Việt Nam đã gặp nhau tại cùng một điểmtrong chiến lược phát triển kinh tế của mình và nó là một xu thế tất yếu của thời đạinền kinh tế hướng ngoại
Để tiến hành các hoạt động thương mại đầu tư được dễ dàng, hai nước đã kýkết với nhau các hiệp định Cộng hoà Singapore cũng có hàng loạt chuyến thămchính thức Việt Nam trong thời gian vừa qua Hơn nữa, trong các cuộc gặp vàonhững năm gần đây, thủ tướng hai nước đã thảo thuận các biện pháp nâng cao hợptác và hữu nghị giữa hai quốc gia trong những năm tới, hợp tác phát triển hơn nữatrong lĩnh vực khoa học, công nghệ, giáo dục, đào tạo phát triển nguồn nhân lực…Singapore hứa tiếp tục giúp Việt Nam trong các lĩnh vực này đặc biệt là công nghệthông tin Do vậy mối quan hệ thương mại giữa hai nước Việt Nam và Singaporetheo chiều hướng ngày càng tốt đẹp hơn Sau đây chúng ta sẽ xem xét thực trạngmối quan hệ ấy để minh chứng cho nỗ lực của hai chính phủ trong những năm qua
2.1.2 Chính sách thương mại giữa hai nước
Trang 13* Chính sách thương mại của Singapore đối với Việt Nam:
- Thương nhân Singapore nhập khẩu hàng Việt Nam không phải nộp thuế 0,5% giátrị hàng nhập khẩu nữa để khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng hoá sang Singapore Điều này chính thức được bãi bỏ sau khi hai nước ký hiệp định thương mại
- Tạo điều kiện cho các công ty xuất nhập khẩu Việt Nam thành lập văn phòng đại diện tại Singapore (Ngay sau đó, trong 6 tháng năm 1998 công ty xăng dầu Việt Nam Air Petrol Company thuộc tổng công ty hàng không Việt Nam thành lập đại diện tại Singapore.)
- Đối với hàng nhập từ Việt Nam vào Singapore, Singapore cho các thương nhân Việt Nam hưởng ưu đãi về điều kiện thanh toán, ra vào cảng thuận tiện (vì cảng Singapore là cảng tự do) Hơn nữa hệ thống thuế nhập khẩu của Singapore rất thấp.Hầu hết các mặt hàng (98%) được miễn thuế hoàn toàn Chính sách ưu đãi này đã góp phần đẩy mạnh quan hệ thương mại giữa hai nước
- Thủ tục visa vào Singapore dễ dàng, thời gian làm thủ tục giảm từ 3 tuần xuống còn 1 tuần, trong đó quy định quá cảnh 36h không cần xin visa Vì vậy hàng hoá Việt Nam vào Singapore không gặp trở ngại vì phải chờ đợi lâu
- Để hỗ trợ các nhà đầu tư Singapore vào Việt Nam, tháng 12/1991 cơ quan quản
lý tiền tệ Singapore (MAS) tuyên bố bãi bỏ cấm vận đầu tư đối với Việt Nam Công ty Việt Nam hoặc công ty Singapore tại Việt Nam được vay vốn để kinh doanh Đồng thời các nhà đầu tư được quyền tự do đầu tư vốn của mình vào tất cả các hình thức cũng như lĩnh vực kinh doanh Mục tiêu là để tận dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực rẻ
* Chính sách thương mại của Việt Nam đối với Singapore:
- Dần dần cắt giảm thuế còn 0-5% đối với các hàng hoá buôn bán thuộc nghành chế tạo, tư liệu sản xuất, chế biến nông sản
- Để khuyến khích các nhà đầu tư Singapore đầu tư tại Việt Nam, chính phủ Việt Nam cho phép nhà đầu tư Singapore có thể đầu tư dưới mọi hình thức: xí nghiệp liên doanh, xí nghiệp 100%vốn nước ngoài, hợp đồng hợp tác kinh doanh…đối xử công bằng đối với doanh nghiệp Singapore cũng như doanh nghiệp trong nước
Trang 14Trong quá trình đầu tư, vốn và tài sản của họ sẽ không bị trưng thu, tịch thu Xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ không bị quốc hữu hoá Họ được chuyển lợi nhuận về nước, khi chuyển chỉ phải nộp một khoản thuế từ 5-10% số tiền chuyển
về nước đó Cơ quan nhà nước quản lý đầu tư nước ngoài có thể miễn hoặc giảm mức thuế này cho những trường hợp đặc biệt cần khuyến khích đầu tư
- Nhà đầu tư Singapore làm việc trong các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phép chuyển thu nhập về nước sau khi nộp thuế thu nhập theo luật định Các nhà đầu tư nước ngoài Singapore chỉ phải nộp thuế lợi tức từ 15-25% số lợi nhuận thu được Đây là con số nhỏ hơn nhiều so với các nước khác, ví dụ: trung quốc là 31%
Trong trường hợp tổ chức cá nhân Singapore dùng lợi nhuận thu được để tái đầu tưthì cơ quan thuế hoàn lại phần thuế lợi tức đã nộp cho số lợi nhuận tái đầu tư với các dự án thuộc diện khuyến khích đầu tư Mức hoàn thuế có thể là 50%, 70%, 100%
Đặc biệt nhà nước Việt Nam cho phép mọi thành phần kinh tế: bệnh viện, trường học, viện nghiên cứu… hợp tác đầu tư với Singapore
Để tiến hành các hoạt động thương mại đầu tư được dễ dàng, hai nước đã ký kết với nhau các hiệp định Đây cũng chính là cơ sỏ pháp lý cho các hoạt động thương mại đầu tư giữa 2 nước trong đó tiêu biểu là 7 hiệp định sau:
- Hiệp định hàng hải thương mại (16/4/1992): 2 nước giành cho nhau quy chế tối huệ quốc trong quan hệ hàng hải
- Hiệp định về vận chuyển hàng không (20/4/1992): nhằm thúc đẩy buôn bán, du lịch và đầu tư giữa hai nước Trước đó ngày 18/2/1992 hãng hàng không Việt Nam mở đường bay đi Singapore.Tiếp đó 28/2/1992 và 6/5/1992 hãng hàng không Singapore mở đường bay đi thành phố hồ chí minh và hà nội
- hiệp định thương mại 24/9/1992: ký kết trong chuyến thăm Singapore của bộ trưởng thương mại và du lịch Việt Nam Lê Văn Triết theo lời mời của bộ trưởng
bộ công nghiệp và thương mại Singapore
- Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư ký ngày 29/10/1992 sau khi
Singapore mở sứ quán tại Việt Nam ngày 1/10/1992
Trang 15- Hiệp định về hợp tác trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ môi trường (14/5/1993)
- Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (3/1994)
- Hiệp định hợp tác về du lịch (23/8-27/8/1994) ký kết nhân chuyến thăm của Đoànđại biểu tổng cục du lịch Việt Nam do tổng cục trưởng Đỗ Quang Trung dẫn đầu thăm Singapore theo lời mời của Cục xúc tiến du lịch Singapore (STPB)
2.2 Thực trạng mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Singapore
2.2.1 Thực trạng xuất khẩu của Việt Nanm sang Singapore.
(Nguổn: tổng hợp số liệu từ Tổng cục Hải quan Việt Nam)
- Kim ngạch XK sang Singapore của VN khá ổn định và năm 2009 giảm 0,58 tỉUSD so với năm 2008 Nguyên nhân là do những tác động của cuộc khủng hoảngkinh tế Thế giới bắt nguồn từ Mỹ xảy ra vào những tháng cuối năm 2008 Điều này
đã đảo lộn và ảnh hưởng đến nhiều nước, rõ nhất vẫn là hệ thống tài chính, ngânhàng của mỗi nước Tại Việt nam, phần lớn hoạt động sản xuất phục vụ cho lĩnhvực xuất khẩu gặp rất nhiều khó khăn Trong đó các thị trường lớn như : Mỹ, EU,Nhật,Singapore là những thị trường truyền thống nhập khẩu hàng sản xuất từ Việtnam đang bị khủng hoảng, do mức sinh hoạt của người dân bị đảo lộn, đòi hỏi mọingười phải cắt giảm chi tiêu, mức độ mua hàng giảm, nhu cầu thanh toán yếu…Việt Nam là một trong những nước ảnh hưởng nặng trong hoạt động xuất khẩuhàng hóa, có thời điểm nông sản xuất khẩu giảm mạnh so với thời điểm giá cao
Trang 16nhất trong năm Đồng thời, tác động khủng hoảng Thế giới làm cho các doanhnghiệp vừa và nhỏ của Việt nam gặp rất nhiều khó khăn một phần bị từ chối hợpđồng, sản phẩm tiêu thụ chậm, hàng tồn kho ngày càng nhiều Phần thì chịu ảnhhưởng của chính sách thắt chặt tiền tệ, hạn chế tăng trưởng tín dụng ngân hàng làmlãi suất cho vay cao vượt xa khả năng kinh doanh của doanh nghiệp.
- Song, nhìn chung, từ năm 2009 đến năm 2012 KNXK sang Singapore liên tụctăng cùng với sự tăng lên KNXK của Việt Nam đối với thế giới từ 2,08 lên 2,37 tỉUSD (tăng 13,94%) Nhưng mặt khác, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu giữa ViệtNam- Singapore và Việt Nam- Thế giới lại có xu hướng giảm do sự gia tăngKNXK sang Singapore chậm hơn so với sự gia tăng KNXK ra thế giới KNXK củaViệt Nam ra thế giới tăng cao là nhờ sự đóng góp KNXK của các mặt hàng chủlực, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của mặt hàng nông sản Với nhóm hàngxuất khẩu chủ lực của Việt Nam là nông sản, mặc dù yếu tố giá xuất khẩu bị sụtgiảm; trong đó gạo giảm 11%, cao su giảm 29% nhưng sự tăng về lượng xuấtkhẩu, nhất là xuất khẩu gạo lần đầu tiên lập kỷ lục 8 triệu tấn đã góp phần bù đắprất lớn vào kim ngạch xuất khẩu
1.1.2 Cơ cấu xuất khẩu
** Năm 2008:
Dầu thô; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; cà phê; dây điện và cápđiện; hàng hải sản; hàng dệt may là những mặt hàng xuất khẩu chính của ViệtNam sang thị trường Singapore trong 5 tháng đầu năm Tính đến hết tháng12/2008, lượng dầu thô của Việt Nam chủ yếu xuất sang Singapore đạt 2,06 triệutấn, giảm 29,5% so với cùng kì năm ngoái Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linhkiện xuất khẩu sang cũng Singapore đạt 163 triệu USD
** Năm 2009:
Trang 17Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore giảm mạnh(giảm 22%) so với cùng kỳ năm 2008 do sự suy giảm một số mặt hàng Bên cạnh
đó dầu thô là mặt hàng xuất khẩu chủ lực, đạt 2.253 nghìn tấn với kim ngạch 992,7triệu USD, chiếm 47,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Namsang Singapore, tuy tăng 9,5% về lượng nhưng giảm 39,7% về trị giá so với năm
2008 nên ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu dầu thô
Một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore có mức tăngtrưởng cao là: gạo đạt 133,6 triệu USD, tăng 231,7% so với cùng kỳ năm ngoái,chiếm 6,4% so với tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore năm2009; hàng dệt may đạt 45,5 triệu USD, tăng 63,7% so với cùng kỳ năm ngoái,chiếm 2,2%; hạt điều đạt 4,5 triệu USD, tăng 40,4% so với cùng kỳ năm ngoái,chiếm 0,2%, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 200 triệu USD, tăng22,6% so với cùng kỳ, chiếm 9,6%
Mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore năm 2009 có độ suy giảmmạnh là: cà phê đạt 19,8 triệu USD, giảm 57,6% so với cùng kỳ năm trước, chiếm0,95% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore; gỗ và sảnphẩm gỗ đạt 4,6 triệu USD, giảm 30,7% so với cùng kỳ, chiếm 2,2%
** Năm 2010:
Nếu không kể dầu thô, thì gạo, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện;máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng, xăng dầu các loại… là các mặt hàng chínhSingapore nhập khẩu từ thị trường Việt Nam trong năm 2010 Gạo là mặt hàng cókim ngạch lớn sau dầu thô với 227,7 triệu USD trong năm 2010, chiếm 10,7%trong tổng kim ngạch, tăng 70,51% so với năm 2009
Đáng chú ý, tháng 12/2010, Việt Nam xuất khẩu mặt hàng cà phê sangSingapore tăng trưởng đột biến, với 9,9 triệu USD, tăng 94% so với tháng liền kềtrước đó, nâng kim ngạch năm 2010 lên 23,4 triệu USD, chiếm 1,1% trong tổng
Trang 18kim ngạch, tăng 18,81% so với năm trước đó Những mặt hàng xuất khẩu có kimngạch giảm so với năm 2009 đó là: dầu thô, hàng dệt may, hạt tiêu, cao su vàquặng và khoáng sản giảm lần lượt là 41,19%; 34,12%, 42,49%; 57% và 15,89%.
Bảng 2: Thống kê mặt hàng xuất khẩu sang thị trường Singapore năm 2010
KXNK Năm 2010 (USD)
KNXK năm 2009 (USD)
Tăng giảm KN năm 2010 so năm 2009 (%)
Trang 19** Năm 2011:
Dầu thô dẫn đầu mặt hàng về kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Namsang Singapore 10 tháng đầu năm 2011 đạt 349,7 triệu USD, giảm 39,7% so vớicùng kỳ, chiếm 18,7% trong tổng kim ngạch.Phương tiện vận tải và phụ tùng đạt
169 triệu USD, tăng 768,9% so với cùng kỳ, chiếm 9% trong tổng kim ngạch; tiếptheo đó là hạt tiêu đạt 19 triệu USD, tăng 231,4% so với cùng kỳ, chiếm 1% trongtổng kim ngạch; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 18 triệu USD, tăng 106% so với cùng kỳ,chiếm 1% trong tổng kim ngạch; sau cùng là túi xách, ví, va li, mũ và ô dù đạt 4,7triệu USD, tăng 85,1% so với cùng kỳ, chiếm 0,3% trong tổng kim ngạch
Ngược lại, cao su đạt 684,6 nghìn USD, giảm 72,1% so với cùng kỳ, chiếm0,04% trong tổng kim ngạch; tiếp theo đó là dầu thô; gạo đạt 180 triệu USD, giảm13,1 % so với cùng kỳ, chiếm 9,6% trong tổng kim ngạch; sau cùng là sản phẩm từchất dẻo đạt 13,7 triệu USD, giảm 7,4% so với cùng kỳ, chiếm 0,7% trong tổngkim ngạch
Bảng 3: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Singapore
10 tháng đầu năm 2011.
XK 10T/2010 (USD)
Kim ngạch
XK 10T/2011 (USD)
% tăng, giảm
KN so với cùng kỳ
Trang 21Dây điện và dây cáp điện 18.321.298 23.419.499 + 27,8
Phương tiện vận tải và phụ tùng 19.466.785 169.144.381 + 768,9
2.2.1 Thực trạng nhập khẩu của Việt Nam từ Singapore.
2.2.1.2 Kim ngạch
Bảng 4: Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam sang Singapore
giai đoạn 2008-2012