Ở trào lưu Hậu hiện đại, người nghệ sĩ, nhà văn sáng tác các tác phẩm của mình không theo khuôn mẫu nào mà chỉ nhằm tuân thủ quy tắc bất di bất dịch là phải thể hiện bằng được “những thứ
Trang 1VĂN HÓA QUẢN LÝ THỜI HẬU HIỆN ĐẠI
Nguyễn Ngọc Thơ*
T óm tắt: Hội nhập khu vực là xu hướng chính trị - ngoại giao quan trọng đang diễn ra trong thế giới
đương đại như là một hệ quả trực tiếp của quá trình toàn cầu hóa kinh tế Đi cùng với kinh tế là các mặt giáo dục và văn hoá, thậm chí hai lĩnh vực này phải giữ vai trò tiên phong do chúng gắn liền với nền tảng
tư tưởng xã hội Hội nhập đòi hỏi các bình diện văn hóa - tư tưởng phải tái nhìn nhận, đánh giá cấu trúc, tính chất và hiệu quả để đảm bảo lợi ích của tiến trình hội nhập Trong quá trình ấy, việc tiếp nhận, thâu nạp và tái tạo một số hệ thống các giá trị, các quan niệm mới là điều cần thiết và có ý nghĩa Hậu hiện đại
là một trào lưu tư tưởng - văn hóa như vậy
Bài viết này áp dụng các phương pháp sử dụng các tài liệu thành văn, phân tích tổng hợp và so sánh dưới góc nhìn văn hóa học để đánh giá xu thế mới của quản lý và văn hóa quản lý thời hậu hiện đại vốn đang dần trở nên phổ biến ở các quốc gia tiên tiến, đặc biệt làm rõ khoảng cách giữa nó với phong cách quản lý truyền thống ở Việt Nam (và Đông Á), đồng thời hình thành phương pháp luận cho việc đổi mới văn hóa quản lý ở Việt Nam Nghiên cứu cho thấy, truyền thống quản lý kiểu Nho giáo “nửa vời” pha trộn với nhiều dòng triết học Pháp gia, Thiền tông và trọng cộng đồng của người Việt Nam có một tiền đề khá thuận lợi cho việc tích hợp, chuyển đổi theo cung cách quản lý Hậu hiện đại; song tính cách văn hóa và tâm lý ưa nhàn rỗi của một bộ phận người dân đã và đang tạo nên lực cản cho quá trình chuyển đổi ấy
Từ khóa: Việt Nam, văn hóa quản lý, hậu hiện đại, chuyển đổi
1 Cơ sở lý luận *
Hậu hiện đại là thuật ngữ chưa được định
nghĩa chuẩn xác, song thường được hiểu
ngầm là “vượt hiện đại” hoặc “bỏ qua hiện
đại” (be past the modern) Tác giả Lyotard
trong cuốn The Postmodern Condition (1984)
cho rằng “một tác phẩm hay một công trình
chỉ được coi là hiện đại nếu đạt chuẩn hậu
hiện đại” Hậu hiện đại không phải là hiện đại,
nó thẩm thấu (hoặc vay mượn) các yếu tố cơ
bản của hiện đại lúc khởi đầu song sẽ chuyển
hướng khác đi lúc kết thúc (xem thêm Owens
1983; Frampton 1983) Hậu hiện đại có thể là
xu hướng đưa những cái vốn chưa được dịp
trình bày (hay thể hiện) ra hiển thị trước mắt
công chúng Các nhà hậu hiện đại có một cách
nhìn tổng thể về thế giới một cách khác biệt
và sử dụng một tập hợp các ý tưởng triết học
* PGS.TS Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí
Minh.
không chỉ hỗ trợ cho thẩm mỹ mà còn phân tích một điều kiện văn hóa của “nhà tư bản chủ nghĩa thời vãn kỳ/late capitalist” của “tính hậu hiện đại/modernity” Do vậy có thể hiểu chủ nghĩa hậu hiện đại không chỉ đơn thuần ủng hộ tính thẩm mỹ kiểu “chủ nghĩa phong trào” như các phong trào tiên phong, chủ
nghĩa tối giản hay chủ nghĩa khái niệm (xem
Butler 2002) Ở trào lưu Hậu hiện đại, người nghệ sĩ, nhà văn sáng tác các tác phẩm của mình không theo khuôn mẫu nào mà chỉ nhằm tuân thủ quy tắc bất di bất dịch là phải thể hiện bằng được “những thứ lẽ ra phải được làm” ở xã hội này Trong văn học, trào lưu hậu hiện đại thể hiện khá rõ ràng trong các tiểu thuyết xã hội đương thời, nhất là tác phẩm của các nhà văn John Barth, Gabriel García Márquez, Jorgé Luis Borges, Kurt Vonnegul, Sameul Beckett hay Italo Calvino (1) Hậu hiện đại khước từ các hình thức đã định dạng của chủ nghĩa hiện đại, chống lại
Trang 2ảnh hưởng của nó ở hầu hết các bình diện xã
hội, đặc biệt trong các thiết chế mang tính tư
tưởng - văn hóa như trường đại học, bảo tàng,
phòng trưng bày nghệ thuật v.v (2) Hậu hiện
đại nên được hiểu dựa trên nghịch lý của “cái
đêm trước” (anterior) của thì tương lai
(future)”, tức coi trọng quãng đường từ ngày
hôm nay đến đích đến tương lai hơn là bản
thân diện mạo lý tưởng đã “lên khuôn” của
“tương lai” Hậu hiện đại không phải là sự
tiếp nối của ngày hôm nay nhưng có thể là bất
cứ điều gì gần với ý tưởng chống lại hoặc
khước từ chủ nghĩa hiện đại (xem thêm
Sheehan 2006) Hậu hiện đại là một trào lưu
mang thuộc tính coi trọng quá trình, mang
tính chủ quan và tính tương đối (Agger 1991;
Crotty 1998); việc nghiên cứu hậu hiện đại
phải đặt tiêu cự trên góc nhìn liên ngành và
liên khoa học
Từ điển New Oxford American Dictionary
định nghĩa “Hậu hiện đại là một khái niệm và
một phong cách có từ cuối thế kỷ XX trong
nghệ thuật, kiến trúc, và cả những ý tưởng phê
bình vốn có từ lúc khởi đầu của chủ nghĩa
hiện đại và cốt lõi của nó chứa đựng sự hoài
nghi và chối từ các lý thuyết hay lý tưởng vĩ
đại, cũng như chứa đựng mối quan hệ có vấn
đề với bất kỳ khái niệm nào liên quan đến
nghệ thuật” (3) Hậu hiện đại từng có tiền đề
vào giữa hai cuộc đại thế chiến của thế kỷ
XX Nhà sử học Arnold Toynbee năm 1939
từng khơi mào rằng “thời đại Hậu hiện đại đã
bắt đầu từ lúc Thế chiến thứ nhất kết thúc năm
1914” Tác giả Wright Mills năm 1959 cũng
khẳng định “Hậu hiện đại chính là sự cáo
chung của những ý tưởng Khai sáng” (the
collapse of the Enlightenment ideas), trong
khi tác giả Amitai Etzioni (1968) cho nó đơn
thuần chỉ là kết quả của quá trình chuyển đổi
trong giao tiếp, tri thức và năng lực nhân loại
kể từ sau Đại thế chiến thứ hai Nhiều tác giả
phương Tây khác cũng trực tiếp hoặc gián tiếp
bàn luận về Hậu hiện đại, như Lyotards
(1979), Hassan (1971), Bell (1976) v.v
Tác giả Lyotards (1979/1984) cho rằng
Hậu hiện đại về bản chất là sự truy tìm cái bất
ổn định (the search for instability) Nhà
nghiên cứu Clifford Geertz viết “hầu hết các nhà khoa học đã chuyển hướng sang sự soi sáng của ngôn ngữ, thẩm mỹ, lịch sử văn hóa, luật tục hoặc phê bình văn học chứ không còn chìm dài trong các khảo cứu và phát minh cơ học, kỹ thuật và vật lý như xưa” Chủ nghĩa Hậu hiện đại ngược lại theo đuổi các chủ đề như sự chấm dứt của trường phái siêu tự sự (metanarrative), sự tiêu biến của chủ đề và tác giả; sự nhấn mạnh đến tính đại diện, bề mặt, hình ảnh, biếm phỏng, giễu nhại, phản thơ, cắt dán, giải nghiêm trọng, tính bất khả đoán định của ngữ cảnh và tính tương thuộc của các ngữ cảnh - tất cả đều là những thứ khác biệt với các ý nghĩa thật của hiện thực xã hội (4) Tác giả Peter Brooker (1992) còn nhấn mạnh rằng trào lưu hậu hiện đại nổi lên với các đặc điểm
về hình thức chỉnh sửa, thay thế, khuếch đại, chuyển mã, hoán vị, đọc lại, viết lại, cắt dán, bắt chước, nhạo báng, mô phỏng và giễu nhại Điều này đã khiến hai tác giả Rosalind Krauss (1983) và Douglas Crimp (1983) phải thốt lên rằng Hậu hiện đại là một quãng đứt gãy trong trường lực thẩm mỹ (the aesthetic field) của chủ nghĩa hiện đại, Hal Foster (1983) gọi đó
là quan niệm “phản-thẩm mỹ” (anti-aesthetic notion), trong khi Fredric Jameson (1983) và Jean Baudrillard (1983) gọi đó là mô thức
“tâm thần phân liệt” mới của không gian và thời gian
Hơn nữa, chủ nghĩa hậu hiện đại khẳng định rằng không thể tiến hành thiết lập những
“đại tự sự” (grand narratives) trong việc diễn giải kinh nghiệm/trải nghiệm của con người bởi vì tất cả các kiến thức chúng ta có đều mang tính giới hạn, tạm thời và bị phân tán từng mảnh (Lyotard 1979; Agger 1991) Hal Foster (5) thì nhấn mạnh, Hậu hiện đại khuyến khích quan điểm coi văn hóa và chính
trị là hai thiết chế mở và đồng đẳng cho hết
thảy mọi người, song cũng khẳng nhận rằng
Trang 3người mang tư tưởng Hậu hiện đại chỉ tìm
cách đặt câu hỏi thay vì khai thác các mã văn
hóa, họ chủ trương khám phá hơn là che giấu
các liên kết chính trị xã hội của mình Có lẽ vì
thế nhà nghiên cứu David Gartman (1998) đặt
vấn đề liệu đó có phải là “logic văn hóa thời
kì Hậu-thờ ơ”?
Trào lưu Hậu hiện đại phủ định khả năng
con người có thể hiểu biết và làm chủ vũ
trụ Các tác giả Marta & Linda (1997) nhấn
mạnh Hậu hiện đại chủ trương không thể
biết gì cả, kể cả ý nghĩa đích thực của các
hiện thực xã hội Nếu như Chủ nghĩa hiện
đại đề cao phương châm “dám hiểu biết”
hay “dám tìm hiểu” (dare to know) thì hậu
hiện đại dường như giương cao ngọn cờ
“phải tỉnh táo để biết rằng cái ta biết là rất
nhỏ bé” Tác giả Wilson, R (6) cho rằng
thời Khai sáng người ta cho rằng chúng ta
có thể biết tất cả, trong khi Hậu hiện đại thì
tranh cãi rằng chúng ta không thể biết gì cả
Theo tư tưởng Hậu hiện đại, con người nắm
lấy ý tưởng rằng mỗi người có thể dựa vào
những câu chuyện nhỏ của mình để hiểu
biết về thế giới Còn theo quan điểm của
Schechner, chủ nghĩa hậu hiện đại báo hiệu
sự cáo chung của kiểu chủ nghĩa nhân văn
lấy con người làm trung tâm với chủ trương
con người có thể chi phối hết vạn vật trong
vũ trụ (7)
Nền tảng tư tưởng của Hậu hiện đại bắt
đầu từ sự bùng nổ của khoa học Yếu tố hiện
đại trong khoa học đặt vấn đề và giải quyết
vấn đề dần dà hình thành tính quy luật, trong
khi thế giới tư tưởng của mỗi cá nhân là một
bầu trời khó đoán định được Chính vì vậy
chủ nghĩa Hậu hiện đại chủ trương mỗi cá
nhân tìm kiếm câu trả lời cho chính mình
Hậu hiện đại đã trực tiếp làm tan chảy những
truyền thống, thay vào đó là sự tồn tại của sự
lai tạo và biến đổi văn hóa Có thể lấy làn
sóng văn hóa Hàn quốc (Hàn lưu) làm ví dụ,
những điệu nhảy Gangnam Style, Gentlemen,
Hello Korea v.v là những thể hiện cụ thể của
sự lắp ghép, cắt dán và biếm phỏng thời Hậu hiện đại Tương tự, Hãng hàng không Virgin America đã công bố video-clip hướng dẫn an toàn bay trên khoang tàu theo phong cách hậu hiện đại, bước đầu đã nhận được phản ánh rất tích cực từ công chúng (8)
Tất cả các chủ đề của Hậu hiện đại đều nằm ở vấn đề diễn ngôn và ý nghĩa thông qua các ký hiệu ngôn ngữ (linguistic sign) và các biểu tượng khác (symbol) Hậu hiện đại trong nghệ thuật và khoa học xã hội thể hiện hai tính chất cơ bản là 1) sự mưu cầu sự thay đổi bằng cách tìm kiếm cách thức thượng tôn cái đẹp, coi đó là duy nhất, và chủ trương tránh khỏi sự vướng mắc quá sâu vào các vấn đề xã hội; 2) tính tiên phong, thể hiện trong xu hướng gạt bỏ một phần giá trị của quá khứ và thay bằng các giá trị mới Cách tiếp cận chính của Hậu hiện đại là tính khai phóng tự do của khách thể trong ứng xử với các biến đổi hay các vấn đề của xã hội (bottom-up approach,
hạ nhi thượng)
Hình 1: Thông điệp bảo vệ môi trường mang màu sắc Hậu hiện đại (Thành Phong, 2011)
Bản chất của Hậu hiện đại chính là sự song hành giữa các mâu thuẫn (paradoxical
juxtapositions) Chủ nghĩa Hậu hiện đại kêu gọi chống phân biệt chủng tộc, chống phân biệt giới tính, chống quan điểm “dĩ Âu vi trung”, chống chuyên quyền, chống chế độ thuộc địa, trong khi đó chủ trương bảo vệ
Trang 4quyền lợi của những người với những câu
chuyện thầm kín, những tiếng nói của người
cùng khổ, người bên lề xã hội Chủ nghĩa
Hậu hiện đại có thể sẽ gây sốc cho một số
người nhưng lại gợi cảm hứng cho những
người khác
Khi tiếp cận Chủ nghĩa Hậu hiện đại,
chúng ta cần có góc nhìn đa diện, liên ngành
và có hệ thống, biết chủ động mở nhiều cửa sổ
tư duy để nhận diện các hiện thực xã hội từ
nhiều góc cạnh, nhiều thành tố Chủ nghĩa
Hậu hiện đại có đóng góp nhất định trong
khoa học xã hội, trong đó công chúng sẽ là
thước đo hữu hiệu nhất Các giá trị ở lại sau
quá trình đánh giá chính là những giá trị có
đóng góp to lớn cho thế giới mai sau
2 Đặc trưng văn hóa quản lý thời Hậu
hiện đại
Hai bình diện chính cấu thành văn hóa
quản lý là văn hóa tổ chức và văn hóa giao
tiếp Theo Geert Hofstede (9), văn hóa tổ chức
là một chương trình lập trình tập thể của tinh
thần trong một đơn vị nhằm khu biệt các
thành viên của nhóm này với nhóm khác Tác
giả Robbins (1997) cho rằng đó là hệ thống
chia sẻ quan điểm nhận thức, quan điểm của
các thành viên trong tổ chức, để phân biệt tổ
chức này với tổ chức khác, trong khi Kreiner
(1998) khẳng định đó là những yếu tố chứa
đựng các nguyên tắc ẩn thị được công nhận và
chia sẻ rộng rãi trong cùng một nhóm thành
viên trong đơn vị, nó quyết định lối nhận thức,
lối suy nghĩ, cung cách hành động của họ và
của tổ chức trước sự biến đổi của môi trường
xung quanh Ở một chừng mực nhất định, văn
hóa tổ chức là một dạng ‘nghệ thuật quản lý’
trong từng đơn vị Còn trong khái luận về văn
hóa có nhấn mạnh vai trò giao tiếp xã hội,
Clifford Geertz cho văn hóa là “một mô hình
truyền thống về ý nghĩa được thể hiện trong
các biểu tượng, một hệ thống các quan niệm
cổ truyền được thể hiện dưới dạng biểu tượng
thông qua cách con người giao tiếp, duy trì và phát triển kiến thức và thái độ của họ đối với cuộc sống” (10)
Bàn về khái niệm “quản lý”, cuốn Giáo
trình Khoa học quản lý khẳng định: “quản lý
là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập
hệ thống mới và điều khiển hệ thống” (11), trong khi đó tác giả Henri Fayol (1841-1925) cho rằng: "Quản lý là một hoạt động mà mọi
tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy” (12) Quản lý cũng là sự thể hiện của kỹ năng
tổ chức điều hành hoạt động trên thực tế Tác giả Peter Druker nói: "suy cho cùng, quản lý
là thực tiễn Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền
uy duy nhất của nó là thành tích" (13) Quản
lý trực tiếp tạo ra giá trị, nó được coi là một thực hành văn hóa; do vậy văn hóa quản lý
có thể hiểu là hệ thống các giá trị do hoạt động quản lý tạo ra nhằm tối ưu hóa mục tiêu hoạt động xã hội
Từ thế kỷ XVI trở đi dưới tác động của phát triển thương mại, thế giới thay đổi nhanh chóng, và đến thế kỷ XVIII, cuộc Cách mạng Công nghiệp Anh đã kéo theo những biến động cơ bản trong mối quan hệ nhà tư bản - công nhân, làm động lực cho sự tiến bộ trong nghiên cứu và ứng dụng các nguyên lý quản
lý mới Tác giả Harold Koontz (14) trong bài
“Rừng lý thuyết quản lý (The management theory jungle)” đã liệt kê các trường phái quản
lý chính trên thế giới, bao gồm:
- Trường phái quá trình quản lý (The Management Process School)
Trang 5- Trường phái Quan hệ nhân sinh (The
Human Relations School)
- Trường phái Hành vi nhân sinh (The
Human Behavior School)
- Trường phái kinh nghiệm (The Empirical
School)
- Trường phái hệ thống xã hội (The Social
System School)
- Trường phái xã hội - kỹ thuật (The Social
Technological School)
- Trường phái phương pháp luận hệ thống
(The Systematic Methodology School)
- Trường phái lý thuyết quyết sách (The
Decision Theory School)
- Trường phái toán học (The Mathematical
School)
- Trường phái lý thuyết khả biến (The
Changeable Theory School)
- Trường phái chú trọng vai trò nhà quản lý
(The Manager’s Role School)
Trong khi đó, ở thời điểm đầu thế kỷ XX
đã xuất hiện thêm một trường phái mới:
trường phái Hậu hiện đại (The Postmodernist
School) Theo đó, quá trình phát triển của
khoa học quản lý trên thế giới đã trải qua các
giai đoạn đi từ kinh nghiệm sang thực nghiệm
rồi siêu thực nghiệm như sau:
1) Trước thế kỷ XX được gọi là giai
đoạn quản lý truyền thống (traditional
emphirical management phase), chủ yếu
dựa vào kinh nghiệm;
2) Giai đoạn đầu thế kỷ XX - Đại thế
chiến thứ II là giai đoạn quản lý mang tính
khoa học (scientific management phase),
chuyển đổi từ quản lý dựa vào kinh nghiệm
sang cách tiếp cận khoa học;
3) Giai đoạn nửa sau thế kỷ XX là giai
đoạn quản lý hiện đại (modern management
phase) dưới sự tiến bộ của khoa học và kỹ
thuật (như sự hình thành của các nghiên cứu hoạt động, phương pháp thống kê toán học, đặc biệt là tự động hóa trong sản xuất v.v ); 4) Giai đoạn thế kỷ XXI là giai đoạn quản
lý theo mô thức Hậu hiện đại (dưới đây gọi tắt
là quản lý Hậu hiện đại, Postmodern
management phase), dựa vào kinh tế tri thức
và những thay đổi to lớn và dữ dội Bản chất của những thay đổi ấy bao gồm quá trình toàn cầu hóa kinh tế, sự thay đổi chóng mặt của công nghệ internet, sự đa dạng hóa và cá nhân hóa của người tiêu dùng
Các nhà nghiên cứu quản lý và văn hóa quản lý Hậu hiện đại trên thế giới tập trung
ở phương Tây và các nước có truyền thống kinh doanh lâu đời Tiêu biểu có các tác giả David Boje, Martin Kilduff, Marta B Calas, Linda Smricich, Peter Drucker, Thomas J
"Tom" Peters ở Mỹ; Robert Cooper, Mats Alvesson, Hugh Willmott, Martin Parker ở Anh; Stewart R Clegg ở Australia; Ann Tong-liang, Zheng Jianghuai, Zhang Shuguang ở Trung Quốc, Hồng Kông và Đài Loan v.v Các tác giả này quan tâm sâu sắc đến các bình diện triết lý quản lý, các giả định gắn với con người, đến việc thay đổi tổ chức, chiến lược quốc tế của đơn vị và cả quản lý xuyên văn hóa Trong quá trình nghiên cứu và ứng dụng, các nhà nghiên cứu khẳng nhận rằng các lĩnh vực xã hội học, tâm lý học, văn hóa học và nhân học đóng vai trò tiên phong trong việc gợi mở
và khẳng định sự tồn tại của chủ nghĩa hậu hiện đại trên thế giới
Chủ nghĩa Hậu hiện đại trong quản lý chủ
yếu chủ trương phục hồi bản chất con người
trong quản lý và có xu hướng quay về thế
giới coi trọng giá trị tinh thần Dưới con mắt hậu hiện đại, dường như con người và năng lực của họ ở giai đoạn quản lý hiện đại đã bị công nghiệp hóa, mối quan hệ giữa nhà quản
lý và công nhân đã “tự động hóa” thành mối quan hệ giữa những cơ chế của những “thiết
Trang 6bị”, “dây chuyền” hay kỹ thuật, khiến cho
mô hình quản lý hiện đại bị coi là một cái
bẫy hiện đại (“the modern trap”) Quản lý
theo mô hình hậu hiện đại có thể được xem
là một loại hình nghệ thuật quản lý, trong đó
rất chú trọng tính hệ thống và tri thức con
người, coi đó là những nguồn năng lực cốt
lõi (core power) Peter Drucker (1909-2005)
được coi là “cha đẻ” của khoa học quản lý
hậu hiện đại trên thế giới Ông từng nói,
“lãnh đạo không phải là cấp bậc, đặc quyền,
danh hiệu hay tiền bạc; đó là trách nhiệm”,
và “không có sự thay thế cho sự lãnh đạo
Nhưng quản lý không thể tạo ra các nhà lãnh
đạo Nó chỉ có thể tạo ra các điều kiện theo
đó các phẩm chất lãnh đạo tiềm năng trở nên
hiệu quả; hoặc nó có thể kìm hãm khả năng
lãnh đạo” (15) Peter Drucker do dự gọi thế
giới Hậu hiện đại là một kỷ nguyên chưa biết
(yet unnamed era) Ông mạnh dạn sử dụng
thuật ngữ doanh nghiệp hậu hiện đại
(post-modern enterprise) trong nghiên cứu của
mình, đồng thời chỉ ra bốn cột mốc quan
trọng của trào lưu ấy, gồm:
1) Thế giới hậu hiện đại được dựa trên thế
giới quan sinh học thay vì một thế giới quan
cơ giới Drucker tin rằng "thời đại thông
tin" được dựa trên yếu tố cấu trúc sinh học
của con người chứ không phải là cơ chế
tương tác của các thiết bị máy móc hay các
thành tựu khoa học công nghệ Việc điều
chỉnh để trở nên thích ứng với công nghệ
mới là điều cần thiết "Chúng ta đang sống
trong một thời đại của quá trình chuyển đổi
Cái “hiện đại” lỗi thời của ngày hôm qua
không còn hiệu quả nữa…, và trong thời kì
hậu hiện đại mới đã được kiểm soát một
cách hiệu quả các hành động của chúng ta
dù chưa được định nghĩa rõ ràng";
2) Sự đổi mới đang diễn ra có mục đích, có
tổ chức và đặc biệt là “vì người dân” Peter
Drucker cho rằng những đổi mới để trở thành
xã hội hậu hiện đại hôm nay chủ yếu thể hiện
ở chế độ chủ động (active mode) Quản lý doanh nghiệp và văn hóa quản lý cũng không ngoại lệ;
3) Các tổ chức quy mô lớn đang được định hình, trong đó tinh thần đồng đội (teamwork)
sẽ đóng vai trò quan trọng hơn trong mô thức quản lý hậu hiện đại;
4) Hậu hiện đại là một "kỷ nguyên bùng nổ giáo dục" Peter Drucker cho rằng người lao động được đào tạo bài bản có năng suất cao hơn, đóng vai trò chủ đạo hơn trong xã hội hậu hiện đại Do vậy, chúng ta cần phải quan tâm đến việc đào tạo các kỹ năng thực tế của người lao động, đặc biệt là năng lực sáng tạo của từng cá nhân
Peter Drucker còn nhấn mạnh "mọi người phải tái khẳng định không chỉ có sự tồn tại của năng lực sinh học và tâm lý của mình, mà còn khẳng định cả đức tin thiêng liêng nữa " (16)
Nhân vật thứ hai cần bàn đến là Thomas J
"Tom" Peters (1942~), người được tạp chí The
Economist Magazine vinh danh là “bậc thầy của những bậc thầy quản lý (17), trong khi
thời báo Los Angeles Times gọi là “cha đẻ của
các doanh nghiệp Hậu hiện đại” (father of the postmodern enterprise) Tạp chí Fortune thậm
chí còn thốt lên rằng “dường như chúng ta đang sống trong kỷ nguyên Tom Peters"
Trong cuốn In Search of Excellence (1982),
Tom Peters đã nhấn mạnh rằng quản lý thời
Hậu hiện đại phản đối mặt với 4 cuộc cách
mạng về mô thức "Paradigm Revolution”
Ông nhấn mạnh “nhà quản lý thời Hậu hiện đại phải quay trở về với các "thực hành của ý thức chung", trở nên gần gũi với nhân viên và đối tác, đôi khi phải thực hành quản lý bằng cách “đi bộ” với họ một quãng đường Quản
lý hậu hiện đại không còn quá chú trọng vào dây chuyền, quy tắc giờ giấc mà tập trung vào quản lý tài nguyên con người cùng sức sáng tạo của họ Vì thế, công tác xây dựng tinh
Trang 7thần đồng đội (teambuilding) phải được quan
tâm để tạo ra một môi trường làm việc đầy ắp
những tương tác đa chiều
Theo ông, lãnh đạo (quản lý) cũng là một
dạng biểu tượng của hệ thống hành vi Các
biểu tượng nếu đúng có thể kích thích tinh
thần và hiệu quả đơn vị Trong thế giới biểu
tượng của đơn vị, các nhà lãnh đạo nên sử
dụng nghệ thuật quản lý tinh tế, cần tránh việc
sử dụng các thuật ngữ "công nhân", "nhân
viên" và các từ chỉ cấp dưới khác, thay vào đó
phải học cách sử dụng thuật ngữ "thành viên",
"đối tác", “cộng sự” và các khái niệm tương
đương Trong cuốn Liberation Management
(1992), Peters đã chỉ ra một số tính năng của
quản lý theo mô thức Hậu hiện đại khá gần
với tính chất của Hậu hiện đại, gồm:
1) Tôn trọng sự bất đối xứng, học cách sẵn
sàng chấp nhận rủi ro;
2) Tôn trọng “tứ đoản” gồm tổ chức có giá
trị ngắn hạn, cấu trúc có giá trị ngắn hạn, sản
phẩm có giá trị ngắn hạn, thị trường có giá trị
ngắn hạn;
3) Không cần đồng hồ, không quá chú
trọng văn phòng và văn phòng phẩm, chỉ cần
hiệu quả hoạt động;
4) Giải phóng năng lực nhân viên,
khuyến khích năng lực sáng tạo trong công
việc của họ;
5) Giảm sự cồng kềnh không đáng có của
cấu trúc đơn vị, chuyển hướng sang phương
thức người - người - đang - làm - dự án;
6) Giảm đầu tư hệ thống chiều dọc, tăng
chú ý đến mạng lưới liên minh
Theo quan điểm hậu hiện đại, các nhà quản
lý Hậu hiện đại đánh giá dựa trên kết quả lao
động, coi đó là động lực cho người lao động
chứ không phải đặt yêu cầu lao động cho nhân
viên mỗi ngày Họ phải học cách khuyến
khích nhân viên phát triển kiến thức của mình
chứ không phải chỉ đơn giản bằng cách sử
dụng kiến thức và kinh nghiệm của cấp trên Một vài nhà quản lý có tâm lý e ngại sự thay đổi này do thiếu tự tin trong quản lý biến động trong đơn vị Những tiến bộ trong công nghệ thông tin và truyền thông đã không chỉ thúc đẩy sự phân cấp quản lý mà còn tạo tiền đề dễ dàng hơn để quản lý tập trung
Nhà quản lý Hậu hiện đại phải xây dựng bốn nguyên tắc sau: 1/ Sử dụng công nghệ thông tin để quản lý hiệu suất lao động; 2/ Xây dựng hình ảnh, vị thế của một nhà quản
lý tốt, đủ để nhân viên đặt niềm tin; 3/ Nắm bắt và kết nối trái tim và tâm lý nhân viên; 4/ Phân cấp các chuyên môn trên nền tảng kết nối bằng sự tương tác tổng thể Tác giả Sakolsky (1992) cho rằng chủ nghĩa hiện đại quá nhấn mạnh đến vấn đề bản thể luận và phương pháp luận theo một định đề hiện hữu, trong khi hậu hiện đại có thể ứng xử với cả những định đề ẩn thị Hậu hiện đại nhấn mạnh vào tính tự thân của ngôn ngữ văn bản
và cách văn bản được cấu thành, mục đích cấu thành W Fred Van Raaij (1993) đề xuất các điều kiện chính của Hậu hiện đại bao gồm sự phân cấp quản lý chuyên môn, tính siêu thực (hyperreality), sự nhận diện giá trị,
sự song tồn của các đối lập
Các tổ chức Hậu hiện đại nên tổ chức thành một tập hợp các đội, nhóm công tác đa dạng, tự quản lý và tự kiểm soát gắn với một
số đầu mối quản lý cấp trên, sẵn sàng đóng góp ý kiến khi cần Các thông tin cơ bản về
tổ chức nội bộ cần công khai cho tất cả các nhân viên để họ có thể chịu trách nhiệm và trao thế chủ động tăng năng suất cho họ Hãng Coca Cola hiện tại có cả các mô hình
tổ chức kiểm soát hiện đại và quản lý Hậu hiện đại Trước đây, Coca Cola tập trung quyền lực theo chiều dọc Sau đó, thông qua
mô thức quản lý Hậu hiện đại bằng cách duy trì cơ cấu tổ chức phân cấp với hai nhóm điều hành cụ thể là nhóm sản xuất, nhóm điều hành đóng ở hai vị trí địa lý tách biệt nhau và
Trang 8không có mối quan hệ tương tác nhau Điều
này đảm bảo sự giám sát liên tục và nhiệm vụ
tăng năng suất lao động trong nội bộ hãng
Coca Cola Với việc phân cấp thẩm quyền và
nhiệm vụ, các nhân viên trở nên có trách
nhiệm hơn và hiển nhiên là năng suất tăng
lên Hơn 31.000 lao động của Coca Cola
được khai thác tính đa dạng trong năng lực
của họ để duy trì sự đa dạng của đơn vị
v.v (Barkay, 2011) Theo Ciafone (2012)
phân tích, vấn đề nan giải nhất của Coca
Cola chính là sự tăng giá đầu vào của
nguyên liệu sản xuất sẽ dẫn đến sự tăng giá
thành phẩm Chính vì thế, sự phân cấp quản
lý đã giúp Coca Cola tập trung hơn ở công
tác định giá, marketing và thương hiệu một
cách độc lập ở các khu vực địa lý độc lập
(Aritz và Walker, 2012) Hãng Coca Cola
tiến hành so sánh hai phong cách quản lý
hiện đại và hậu hiện đại, theo đó, quản lý
kiểu hiện đại đề cao tính linh hoạt, sự ổn
định và độ cao của tiêu chuẩn, trong khi Hậu
hiện đại coi trọng mức độ chịu trách nhiệm,
tính hiệu quả và các kênh truyền thông từ
trên xuống (top-down, thượng nhi hạ)
Trong so sánh với các mô thức quản lý
kiểu truyền thống hay kiểu hiện đại, cung
cách quản lý Hậu hiện đại mang nhiều đặc
trưng mới (18) Cụ thể có:
1/ Đơn vị/Doanh nghiệp và thị trường
Cơ cấu tổ chức của đơn vị phải được thực
hiện trên trục phẳng (horizontal) và tổ chức
liên minh mạng lưới cùng phát triển Công
tác tiêu thụ hiện tại của Coca Cola đối với
người tiêu dùng hậu hiện đại phụ thuộc rất
nhiều vào ý nghĩ rằng người tiêu dùng có
quyền tương tác đến thương hiệu Do vậy,
Coca Cola áp dụng một chiến lược xây dựng
thương hiệu độc đáo để đụng chạm đến cảm
xúc của người tiêu dùng, hoặc biến sản phẩm
của đơn vị mình thành một thứ “tài sản” của
khách hàng trong mối quan hệ tương tác giữa
họ với nhau
Sản phẩm Coca Cola thời Hậu hiện đại - sự chuyển đổi quyền sở hữu danh dự cho khách hàng
Ngay cả các trường đại học cũng phải quan tâm đến tính thị trường Trong các tiêu chí của
GATS có tiêu chí sự hiện diện thương mại
Các đơn vị giáo dục phải khuyến khích sự hiện diện thương mại của các nhà cung ứng giáo dục nước ngoài theo cơ chế vì lợi nhuận
và không vì lợi nhuận, dưới các hình thức văn phòng đại diện, cơ sở liên kết và cơ sở 100% vốn nước ngoài Mặt tích cực của nó là đã thúc đẩy tiến trình đa dạng hóa giáo dục, đáp ứng nhu cầu học tập của một bộ phận người học thuộc các gia đình có thu nhập cao, khuyến khích sự du học tại chỗ
2/ Khai phóng và trọng yếu (Liberation and significance )
Khai phóng về hình thức thể hiện nhưng vẫn phải chứa đựng những nội dung sâu của các vấn đề thời cuộc, đúng chỗ, đúng thời điểm Nghệ thuật Hậu hiện đại là kết quả của quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ quá trình giao lưu - tiếp biến văn hóa nghệ thuật, là sự tổng hòa của bản chất nghệ thuật địa phương và kỹ thuật hiện đại phương Tây, là những “thước phim” tái hiện và phản ánh thực tại cuộc sống, trong đó người dân thường, người nghèo khó, người chịu thiệt thòi thường là những “nhân vật chính”
Trang 9Hình thức khai phóng của nghệ thuật
Hậu hiện đại thể hiện rõ nét nhất là tính chất
hướng tới sự không đối xứng, không trọn
vẹn dù rằng nội dung của nó vẫn đạt mục
tiêu ca ngợi nét đẹp quê hương, ca ngợi
chân thiện mỹ và gửi gắm những ước vọng
Tính bất đối xứng có thể tìm thấy ở sự kết
thúc đột ngột để bỏ lửng giữa chừng của tác
phẩm và người thưởng thức sẽ phải tự thân
tìm kiếm những phản ứng xã hội trong
những dòng suy nghĩ còn tiếp diễn của họ; ở
sự gấp khúc, chắp nối hoặc lắp ghép của
nhiều phong cách, loại hình biểu diễn thay
vì phải suyên suốt như truyền thống
3/ Con người và môi trường (Man and
nature)
Sự phát triển hiện đại gây áp lực cho người
mẹ thiên nhiên; ảnh hưởng xấu đến chất lượng
cuộc sống, đe dọa nghiêm trọng sự sống còn
và phát triển của con người Do đó, chúng ta
phải đấu tranh cho sự phát triển khoa học sao
cho đạt được hài hòa giữa con người, xã hội
và thiên nhiên Hậu hiện đại giương cao ngọn
cờ xanh vì môi trường thông qua trách nhiệm
xã hội của đơn vị (CSR), và xa hơn nữa là
quan điểm “nhân vũ luận” coi mối quan hệ
tương thuộc hài hòa giữa con người và môi
trường là yếu tố quyết định sự sống còn của
nhân loại (19)
4/ Vốn và tri thức (Capital and knowledge)
Kinh tế thời Hậu hiện đại trọng tri thức,
các yếu tố hoạt động chính (dịch vụ, sản xuất)
chuyển dần từ nguồn vốn kim tiền sang nguồn
vốn kiến thức, do đó mặt quản lý cũng phải
thay đổi đáng kể Nguồn vốn tri thức, trong đó
vốn con người được trang trọng tham gia vào
quá trình phân phối các giá trị thặng dư của
đơn vị Hậu hiện đại nhấn mạnh định hướng
con người và nhân viên theo hướng tự vận
hành - quản lý, chú trọng tạo một tổ chức
không ngừng học tập chú trọng thực hiện
quản lý tri thức
5/ Sự sáng tạo và sự tương tác (Creativity and interaction)
Quản lý hậu hiện đại cho phép mỗi cá nhân sáng tạo tự do trong mối quan hệ tương tác với đơn vị và nhà quản lý Nhà quản lý “tạm lui về hậu trường” để quản lý toàn cục hơn là chi phối, quản lý từng chi tiết một của hoạt động Tính hiệu quả của sự tương tác giữa các đương sự sẽ được đo bằng sự phong phú trong ý tưởng và hiệu quả gặt hái được sau khi triển khai công việc Trong suốt quá trình
ấy, những tương tác đa chiều được xem là một trong những động lực kích thích gia tăng hiệu quả
6/ Sự giáng cấp và tính chỉnh thể (Reduction and entirety)
Hoạt động thời Hậu hiện đại có thể giúp giảm thiểu sự cồng kềnh của tổ chức và sự chú ý thái quá của công chúng Việc phân công lao động hợp lý theo phong cách Hậu hiện đại sẽ giúp hoạt động diễn ra nhẹ nhàng nhưng mang lại hiệu quả cao hơn
Hệ thống cấu trúc của đơn vị nên được chia thành nhiều thành phần, phương pháp này giúp xử lý tốt các nhiệm vụ phức tạp và các vấn đề phát sinh tại chỗ ở những vị trí cụ thể Các đơn vị cần thiết trở thành một cơ thể sống luôn chú trọng tính kết nối và hội nhập nội bộ của đơn vị và luôn ghi nhớ phương châm mỗi ngày hoạt động là một ngày học cách thích nghi với toàn hệ thống Henry Fayol cho rằng tổ chức thành công phải hội đủ
5 yếu tố, bao gồm kế hoạch chiến lược, tổ
chức, quản lý, phối hợp và kiểm tra Theo đó,
từng đơn vị một sẽ lựa chọn một trong các
định hướng tổ chức quản lý cơ bản, gồm văn
hóa quyền lực (power culture), văn hóa nhiệm
vụ (task culture), văn hóa vai trò (role culture)
(person/support culture) (Handy 2007) Ở mỗi loại, nhà quản lý cần xác định thêm sẽ kiến tạo văn hóa quản lý theo khuynh hướng nào,
Trang 10mô thức kiến tạo sự hòa đồng nhóm (loại hình
Zeus), mô thức theo nhiệm vụ (loại hình
Athena), mô thức theo vai trò (loại hình
Apollo) và mô thức hiện sinh (loại hình
Dionysus) (Handy 1978)
7/ Cân bằng và không cân bằng (Balance
and non-equilibrium)
Hậu hiện đại chủ trương vượt qua "cân
bằng" để nhấn mạnh trạng thái "không cân
bằng” Nhà quản lý cần ghi nhớ các mâu
thuẫn không nhất thiết là thử thách, mà trái lại
chúng là động lực của sự phát triển của đơn
vị Nhà quản lý Hậu hiện đại nên ý thức cải
thiện khả năng quản lý những đột phá hoặc
những mâu thuẫn
Quản lý cần chú ý đến tổng thể quá trình
của sự xung đột (không cân bằng) xuất hiện
trong quá trình vận hành đơn vị, mục tiêu là
để đơn vị làm quen dần với trạng thái không
cần bằng, luôn sẵn sàng đối phó hoặc giải
quyết một cách chủ động sự mất cân bằng và
tiếp tục khám phá năng lực tiềm ẩn để phát
triển đến một cấp độ cao hơn
Nhà quản lý Hậu hiện đại cần nuôi dưỡng
sự đột phá, sự thay đổi để tìm kiếm các giá trị
tốt hơn
8/ Hiệu suất hiệu quả và phòng bị
(Effective performance and prevetion)
Sau khi vận hành mô thức quản lý Hậu
hiện đại đến độ ổn định, nhà quản lý tránh
lơ là phòng bị cho một thay đổi hay biến cố
chưa biết đến Môi trường thời đại toàn cầu
luôn thay đổi không kiểm soát được, vì vậy,
đơn vị cần triển khai thực hiện cơ chế quản
lý chú trọng tính phòng bị với hai yếu tố cần
cân đối hợp lý gồm: 1/ thúc đẩy sự phát
triển của đơn vị; 2/ kiềm chế đến mức hợp
lý tốc độ tăng trưởng của hoạt động đơn vị,
bởi lẽ sự tăng trưởng của hoạt động thời
Hậu hiện đại luôn song hành với rủi ro phi
truyền thống Nói cách khác, nhà quản lý
cần rèn luyện thói quen phòng bị và năng lực xử lý khủng hoảng
9/ Hài hòa giữa văn hóa bản địa và văn hóa quốc tế (Local culture and foreign cultures), giữa văn hoá đại chúng và văn hoá tinh hoa (popular culture and elite culture)
Quá trình toàn cầu hóa kinh tế dẫn đến sự tương thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế, tầm hoạt động của đơn vị (doanh nghiệp) cần phải điều chỉnh theo hướng xuyên biên giới Quản lý Hậu hiện đại chú trọng tới bản chất văn hóa và xã hội, cũng như giá trị, phong tục của cộng đồng, do vậy mục tiêu hài hòa đa văn hóa giữa các cộng đồng, giữa các nền văn hóa là hết sức quan trọng
Khi phải đối mặt với xu hướng hỗn dung nguồn vốn, hỗn dung chất xám và hỗn dung văn hóa (bao gồm ý tưởng, lý tưởng, đức tin, giá trị, quy tắc ứng xử, tư duy), đơn vị cần phải theo đuổi đường lối chiết trung, chấp nhận tính đa dạng, chủ động tích cực thâu nạp tinh hoa và tái cấu trúc thành nguyên lý vận hành của chính mình Với cách tiếp cận này, nhà quản lý đang tiến dần tới đích dung hòa giữa văn hóa tinh hoa và văn hóa đại chúng
10/ Xây dựng mối quan hệ tương tác giữa nhà quản lý và nhân viên (Critical relationship between the leaders and the workers)
Để thực hiện thành công nguyên tắc quản
lý Hậu hiện đại, nhà quản lý cần lưu ý đến tâm trạng của nhân viên, giúp họ tạo dựng tình cảm tốt đẹp, khiến họ tin tưởng đơn vị mình tràn đầy sức sống và phù hợp với chuẩn giá trị cá nhân Cách tiếp cận này sẽ kích thích tiềm năng cá nhân và tăng cường cơ hội cho các cá nhân thể hiện giá trị của mình
Nhà quản lý phải thử thách thức năng lực quản lý của mình bằng cách rũ bỏ quan niệm (cấp dưới) chỉ biết lắng nghe và thực hành,