1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Qũy tiền tệ thế giới IMF và vai trò của nó trong các cuộc khủng hoảng lớn trên thế giới

31 3,3K 54
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quỹ tiền tệ thế giới IMF và vai trò của nó trong các cuộc khủng hoảng lớn trên thế giới
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Báo cáo học tập
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 530,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qũy tiền tệ thế giới IMF và vai trò của nó trong các cuộc khủng hoảng lớn trên thế giới

Trang 1

CHỦ ĐỀ: Qũy tiền tệ thế giới IMF và vai trò của nó trong các cuộc khủng hoảng lớn trên thế giới: Khủng hoảng tài chính Đông Á (1997), Khủng hoảng kinh tế thế giới (2008), Khủng hoảng nợ công Châu Âu (2010)

I – TỔNG QUAN VỀ IMF

IMF (International Monetary Fund) là tổ chức quốc tế giám sát hệ thống tài chính toàn cầu bằng việctheo dõi tỉ giá hối đoái và cán cân thanh toán đồng thời hỗ trợ kĩ thuật và giúp đõ tài chính khi có yêucầu

1.1 – Lịch sử hình thành

Nguyên nhân hình thành bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tiền tệ 1930

Thời đó, tiền giấy đã được lưu hành nhưng hãy còn trong tình trạng phôi thai Trị giá giao hoán quốc tếchưa có giá trị rõ ràng khiến cho sự mua bán, đổi chác còn ở trong khái niệm vật thể (như một đầu máy

xe lửa trị giá bằng 100 tấn cà phê), vì vậy sự giao thương còn rất khó khăn Người ta đã nghĩ ra phương cách dùng kim quý (vàng) để bảo trợ cho giá trị tiền tệ nước mình, nhưng chưa đạt được một quy ước thống nhất thì cuộc đại suy thoái 1930 bùng nổ, vì chỉ có một số quốc gia theo kim bản

vị để quy định giá tiền tệ của mình, còn nhiều nước khác thì không Việc này đã gây ra nhiều trở ngại giữa trao đổi hàng hoá của các nước với nhau Đó là nguyên nhân làm trì trệ sản xuất, cho nên sau cuộc khủng hoảng xảy ra, các nhà lãnh đạo thế giới muốn đi tìm một biện pháp để thống nhất vấn đề tiền tệ giao hoán nhưng cũng không mang lại một kết quả nào.

Đến năm 1940, vấn đề lại được mang ra bàn thảo trở lại, theo kế hoạch đề nghị của ông Harry White và

John Kenes Theo đó, giá trị tiền tệ giao hoán phải được thống nhất và đồng thuận của các quốc gia Một tổ chức quốc tế đã được thành lập để quyết định và giám sát việc thực thi về giao hoán này

giữa 2 hay nhiều loại tiền tệ khác nhau Sau nhiều năm bàn thảo rất khó khăn của giai đoạn đệ nhị thếchiến, cuối cùng tháng 7/1944 một hội nghị gồm 44 quốc gia (trong đó có cả Liên Xô cũ) diễn ra tạiBretton Woods, News Hampshire (Mỹ) từ ngày 1 - 22/7/1944 để soạn thảo điều lệ Quỹ tiền tệ quốc tế(IMF)

Ngày 27/12/1945, điều lệ thành lập IMF đã được 29 nước kí kết IMF bắt đầu hoạt động từ tháng 5/1946 (số hội viên lúc này chỉ gồm 39 nước) Ngày 1/3/1947, IMF tiến hành cho vay và khoản vay đầu tiên vào ngày 8/5/1947, được hưởng quy chế cơ quan chuyên môn của Liên Hợp Quốc Tổng số vốn lúc này là 202 tỷ USD

1.2 – Đặc điểm về nguồn vốn và tỉ lệ phiếu bầu

Trang 2

- Nguồn vốn của IMF chủ yếu do các thành viên đóng góp theo cổ phần Ban đầu, mức cổ phần đóng góp phụ thuộc vào tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của nước đó với xuất nhập khẩu của thế giới Sau này thì tỉ lệ vốn góp tương ứng với tốc độ tăng trưởng GDP

- IMF cấp cho mỗi thành viên hạn mức tín dụng, cho phép vay tối đa là 125% của hạn mức tín dụng.Cho phép rút vốn 4 lần (3 lần đầu là 25%, lần cuối là 50%)

- Số phiếu trong các cơ quan lãnh đạo được phân bổ phù hợp với tỉ lệ góp vốn, vì vậy đa số phiếu tậptrung vào các nước công nghiệp phát triển nhất Các nước thành viên có cổ phần lớn nhất trong IMFhiện nay là Mỹ, Nhật Bản, Đức, Anh và Pháp Đến 31/8/2004, tổng vốn cổ phần của IMF là 311 tỷUSD, Hoa Kỳ chiếm 18,38% cổ phần, công hoà liên bang Đức chiếm 5,7%, Pháp chiếm 5,1%, Anh5,1%, Nhật Bản 6,26%

1.3 – Các mục tiêu của IMF

 Thúc đẩy hợp tác quốc tế thông qua một thiết chế thường trực có trách nhiệm cung cấp một bộmáy tư vấn và cộng tác nhằm giải quyết các vấn đề tiền tệ quốc tế

 Tạo điều kiện mở rộng và tăng trưởng cân đối hoạt động mậu dịch quốc tế và nhờ đó góp phầnvào việc tăng cường và duy trì ở mức cao việc làm, thu nhập thực tế và việc phát triển nguồn lựcsản xuất của tất cả các thành viên, coi đó là mục tiêu quan trọng nhất của chính sách kinh tế

 Tăng cường ổn định ngoại hối nhằm duy trì một cách có trật tự hoạt động giao dịch ngoại hốigiữa các thành viên và tránh việc phá giá tiền tệ để cạnh tranh

 Hỗ trợ việc thành lập một hệ thống thanh toán đa phương giữa các nước thành viên và xoá bỏ cáchạn chế về ngoại hối gây phương hại tới sự tăng trưởng của mậu dịch quốc tế

 Tạo niềm tin cho các nước thành viên bằng cách cung cấp cho họ nguồn lực dự trữ của quỹ đượcđảm bảo an toàn và tạo cơ hội cho họ sửa chữa mất cân đối trong cán cân thanh toán quốc tế

 Rút ngắn thời gian và giảm bớt mức độ cân bằng trong cán cân thanh toán của các nước thànhviên

Trong hơn 50 năm qua IMF đã khẳng định được vai trò cũng như thực hiện mục tiêu của mình trongviệc duy trì sự ổn định và thúc đẩy phát triển kinh tế thế giới trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tếdiễn ra trên quy mô ngày càng rộng với tốc độ ngày càng nhanh

1.4 – Mục tiêu hoạt động của IMF

- Mục đích của IMF là hỗ trợ tín dụng cho các nước thành viên để triển khai các dự án phát triển

KT-XH, khắc phục thâm hụt trong cán cân thanh toán quốc tế, giải quyết những khó khăn tài chính bấtthường xảy ra do ảnh hưởng của thiên thiên nhiên hoặc để ổn định giá những mặt hàng nguyên nhiênliệu chiến lược và điều chỉnh quan hệ tiền tệ giữa các nước hội viên

Trang 3

- Khi quốc gia nào gặp khó khăn trong vấn đề trả nợ nước ngoài thì IMF đề ra “chương trình điều chỉnh

cơ cấu” bằng cách giảm phát nền kinh tế và giảm chi tiêu của chính phủ nhằm giúp các nước này lấy lại

sự kiểm soát đối với nền kinh tế Mặc dù có những vấn đề khó khăn với nền kinh tế quốc gia nhưng khinền kinh tế được “điều chỉnh” thì mọi thứ sẽ trở nên tốt hơn Nhưng trên thực tế chương trình này đòihỏi chính phủ nước đi vay phải “thắt lưng buộc bụng” giảm chi tiêu dịch vu, giảm thuế nhập khẩu, giảmtrợ cấp chính phủ Điều này làm các công ty nước ngoài dễ dàng kiểm soát nền kinh tế nước đi vay

1.5 – Chức năng và nhiệm vụ của IMF

1.5.1 – Chức năng

IMF có các chức năng cơ bản:

- Xác định hệ thống ngang giá tiền tệ và tỷ giá hối đoái của các thành viên;

- Cấp tín dụng cho các thành viên có khó khăn tạm thời về cán cân thanh toán;

-Theo dõi tình hình của hệ thống tiền tệ quốc tế và chính sách kinh tế của các nước thành viên;

- Tư vấn cho các nước hội viên về chính sách kinh tế vĩ mô;

- Cung cấp trợ giúp kĩ thuật

Trước 1973, hoạt động của IMF theo dõi việc chấp nhận tính chuyển đổi của các đồng tiền ở các nước,

giám sát hệ thống tỷ giá hối đoái cố định gắn với giá trị của vàng (thực chất là cố định so với USD, cònUSD được chính phủ Mỹ cam kết gắn với vàng ở tỷ lệ 35USD/ounce vàng), cho các nước thành viênvay ngắn hạn khi họ gặp khó khăn về dự trữ ngoại tệ khiến cho việc giữ tương quan giá giữa các đồngtiền trở nên khó khăn hoặc khi họ gặp một số khó khăn kinh tế nhất định

Đầu năm 1973, nhiều nước Châu Âu và Nhật Bản đã tuyên bố thả nổi đồng tiền của họ so với USD Hệ

thống Bretton Woods chính thức sụp đổ Sự sụp đổ này làm lung lay vai trò của IMF với tư cách là một

tổ chức giám sát sự trao đổi tiền tệ tự do trong hệ thống tỷ giá cố định

Sau 1973, hàng năm IMF họp với các nước thành viên phân tích với các nước thành viên thấy tình hình

kinh tế của họ, cảnh báo những vấn đề có thể xảy ra và tư vấn cách giải quyết Trong thực tế, IMF ngàycàng quan tâm đến cải cách kinh tế ở các nước đang phát triển

1.5.2 – Nhiệm vụ

IMF có các nhiệm vụ sau:

- Giải quyết các vấn đề hối đoái giữa các quốc gia hội viên nhằm ổn định mậu dịch quốc tế;

- Tài trợ tín dụng cho các nước nghèo hầu tạo điều kiện cho họ phát triển qua hình thức giúp ngânkhoảng trực tiếp hay hứa trả nợ cho 1 hội viên nào đó

Trang 4

Ngay từ ban đầu, vấn đề hối đoái được giải quyết bằng cách đặt ra 1 hệ thống giao hoán tiêu chuẩn hệthống gọi là “Par Value System” Hoa Kỳ là nước đầu tiên định giá mỹ kim qua vàng Ở các nước khác,tuần tự áp dụng hình thức này theo khái niệm: A=B và B=C nên A=C Sau cùng vì lý do tiện lợi tất cảcác quốc gia trong IMF đều thẩm định bản vị của mình qua USD.

Đến 1970, Hoa Kỳ không còn đủ vàng dự trữ nhằm thoả mãn nhu cầu đổi Dola Mỹ để lấy vàng, nhất làviệc 35 USD để mua 1 lượng vàng không còn thực tế nữa Từ đó IMF đồng ý cho mỗi quốc gia tự địnhđoạt trị giá tiền tệ của mình và chỉ thông báo một cách chi tiết về tiêu chuẩn qua việc thẩm định này Tổchức IMF chỉ có nhiệm vụ khuyến cáo mà thôi, vì vậy IMF mất dần ảnh hưởng

Khi 1 hội viên nào đó bị khó khăn về tài chính hay cần ngân khoảng cho một cải cách kinh tế nào đó cóthể yêu cẩu IMF trợ giúp qua việc đề nạp thỉnh nguyện cùng chi tiết các kế hoạch phát triển để các giámđốc điều hành duyệt xét

Nhìn chung, nhiệm vụ chính của IMF là ổn định nền tài chính thế giới và nâng đỡ các nước chậm tiếncùng phát triển Trách nhiệm xem qua rất nặng nề nhưng quyền hạn lại không có bao nhiêu Không có

cơ quan có thẩm quyền chế tài trong việc thực thi các điều kiện vay mượn, IMF chỉ có nhiệm vụ quansát và theo dõi mà thôi Vì vậy, không sớm thì muộn, IMF nếu không muốn đi vào dĩ vãng, thì ít nhất nócũng sẽ phải điều chỉnh và cải tiến một cách sâu rộng giao thương giữa các nước đang ngày càng mởrộng và sự phức tạp của nền tài chính thế giới luôn biến đổi không ngừng

1.6– Cơ cấu tổ chức

1.7 – Nguyên tắc hoạt động của IMF

Trang 5

- IMF là đòi hỏi các nước thành viên phải cho phép đồng tiền của nước mình được trao đổi tự do không

có bất cứ hạn chế nào với tiền của nước khác (đồng tiền chuyển đổi), thông báo cho IMF biết nhữngthay đổi trong chính sách tài chính và tiền tệ của nước mình có ảnh hưởng đến các nước thành viênkhác, và trong phạm vi có thể, hãy sửa đổi các chính sách đó theo tư vấn của IMF để đáp ứng yêu cầucủa toàn thể cộng đồng Để giúp các nước thành viên đang gặp khó khăn tài chính thực hiện nguyên tắcnày, IMF sẽ đứng ra huy động tài chính từ các nước thành viên khác và cho nước gặp khó khăn vay

- Những quyết định lớn của IMF chỉ được thông qua nếu có ít nhất 85% phiếu ủng hộ trong Ban điềuhành Các nước thành viên tùy theo số vốn đóng góp vào IMF mà có tỷ lệ lá phiếu trong tổng số phiếunhiều hay ít Hoa Kỳ có quyền đối với 18% số phiếu Vì lẽ đó, các quyết định của IMF phản ánh ý muốncủa nước này rõ rệt, cho dù Giám đốc Điều hành IMF theo thỏa thuận giữa Mỹ và châu Âu luôn là mộtngười châu Âu

- Bất kì một nước thành viên nào khi gia nhập IMF đều phải cho các thành viên khác trong quỹ biết dựđịnh về chuẩn giá trị đồng tiền của nước mình so với đồng tiền của các nước khác để tự kiềm chế, hạnchế việc đổi đồng tiền của họ lấy ngoại tệ và để theo đuổi những cơ sở kinh tế sẽ làm tăng của cải củacác nước thành viên đó, của cả cộng đồng các nước thành viên bằng con đường hòa hợp, có lợi Khi gianhập IMF, mỗi nước thành viên đều phải đóng một khoản tiền nhất định được coi là một khoản lệ phíhội viên Tuy nhiên khoản đóng này chỉ thực hiện khi quỹ có nhu cầu: khi có ai cần vay tiền của quốcgia đó thì quốc gia đó mới phải đóng Chẳng hạn, nếu một nước muốn vay Bảng Anh thì khi đó IMFmới yêu cầu Anh phải đóng Số tiền này được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau:

+ Thứ nhất, tạo thành một khoản vốn IMF có thể trích ra cho các thành viên vay mỗi khi họ gặp khó

khăn về tài chính;

+ Thứ hai, khoản phí là căn cứ để quyết định số lượng tiền mà nước thành viên được vay và là cơ sở để

phân bổ rút vốn lớn đặc biệt (SDR) theo từng thời kỳ cho các nước thành viên Dĩ nhiên, nước thànhviên nào càng đóng góp nhiều thì khi cần sẽ được vay nhiều;

+ Thứ ba, số tiền ký quỹ này còn có vai trò quyết định quyền bỏ phiếu của nước thành viên

Bản thân IMF là người quyết định số tiền mỗi nước thành viên phải nộp vào quỹ sau khi phân tích đánhgiá mức độ giàu có và tình hình kinh tế của nước đó Nước càng giàu, lệ phí càng cao (xem phụ lục 3).Mức đóng góp của mỗi nước thành viên vào IMF rất khác nhau Năm 1985, Mỹ đóng 20,l%, khối EECđóng 27,9%, còn các nước đang phát triển đóng 32,4% Mức lệ phí này cứ 5 năm lại được xem xét lại,

có thể tăng lên hoặc giảm đi tùy theo nhu cầu của IMF và mức độ phát đạt của nước thành viên Tuynhiên từ ngày 01/04/1978, với sự sửa đổi điều lệ lần thứ hai, việc xem xét và điều chỉnh phần đóng gópcủa mỗi nước thành viên được quy định 3 năm một lần Năm 1945, 35 thành viên khi đó đóng góp vàoIMF 7,6 tỷ USD; năm 1977 con số đó khoảng 200 tỷ USD Ngày 06/02/1998 Hội đồng quản trị của IMF

đã phê chuẩn kế hoạch tăng 45% ngân quỹ của tổ chức này, từ 199 tỷ USD lên 288 tỷ USD Cho đếnnay, Mỹ là nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới, đóng góp nhiều nhất cho IMF, chiếm khoảng 19% tổng

số (40 tỷ USD); Marshall Island, một nước cộng hoà đảo ở Thái Bình Dương đóng ít nhất khoảng 3,6triệu USD (năm 2008)

Trang 6

1.8 – Vai trò của quỹ IMF trong việc điều tiết nền kinh tế thế giới

• Đối với nền kinh tế thế giới

 Ổn định các quan hệ tài chính tiền tệ trên phạm vi toàn thế giới

 Thực hiện khả năng điều tiết và phối hợp hành đông của các quốc gia

 Duy trì và phát triển kinh tế thế giới

• Đối với các thành viên:

 Giúp các nước thành viên có vấn đề về tài chính xử lý các món nợ Chính phủ hay nợthương mại

 Cho các quốc gia đang phát triển vay vốn

• Đối với cơ cấu tổ chức

 đội ngũ nhân viên là các chuyên gia giỏi thuộc nhiều lĩnh vực được tập hợp từ nhiềuquốc gia, có quan điểm chính trị độc lập

 vừa có các nhân tố bảo vệ lợi ích các nước phương Tây, vừa có các nhân tố là công cụ đểcác nước hợp tác với nhau nhằm duy tân sự ổn định nền tài chính toàn cầu, đồng thờithúc đẩy kinh tế của từng nước

II VAI TRÒ CỦA IMF TRONG CÁC CUỘC KHỦNG HOẢNG LỚN TRÊN THẾ GIỚI

2.1 KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH ĐÔNG Á 1997

Bên cạnh những nền kinh tế lớn, có tên tuổi như EU, Mỹ, Nhật… Đông Nam Á nổi lên với tư cách là 1nền kinh tế mới năng động và đầy triển vọng Trong vài thập kỷ gần đây, các nước ĐNA đã có nhữngbước đi dài, đó thực sự là thành tựu đáng ghi nhận đối với các quốc gia đang phát triển này Tuy nhiên,

sự thay đổi thần kỳ ấy không diễn ra được bao lâu khi phải chứng kiến 1 cuộc khủng hoảng tài chínhnghiêm trọng Cuộc khủng hoảng ấy xuất phát từ Thái Lan, nó nổ ra vào ngày 2/7/1997, làm thiệt hạicho châu lục hàng trăm tỷ USD

2.1.1 Nguyên nhân xảy ra

Cuộc khủng hoảng là hợp lực của nhiều nguyên nhân, nhưng trên góc độ tài chính thì có mấy nguyênnhân sau đây:

Một là, duy trì tỷ giá cố định giữa đồng nội tệ với đồng USD quá lâu Việc duy trì này của các nước có

nền kinh tế kém phát triển hơn nền kinh tế Mỹ đã khiến cho họ thay vì để giá trị đồng nội tệ tăng giảm

Trang 7

theo USD mà lại đi tiêu tốn hàng tỷ USD để duy trì 1 mức cân bằng giả tạo tới mức không thể níu giữnổi.

Hai là, buông lỏng và bao che cho những yếu kém trong công tác điều phối và giám sát hoạt động của các ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng Trong khi các hoạt động kinh tế có tốc độ

tự do hóa cao hơn thì công tác giám sát hoạt động của các cơ sở kinh doanh và các tổ chức tài chínhngân hàng vẫn dậm chan tại chỗ, thậm chí chính phủ đã can thiệp vào hệ thống tài chính thông qua ngânhàng quốc doanh hoặc chỉ thị cho những ngân hàng tư nhân phải cấp tín dụng với lãi suất thấp cho cáccông ty được chính phủ ưu đãi Khắp khu vực tràn lan tình trạng bao cấp và cắt giảm thuế cho nhữngngành công nghiệp có chọn lọc và những ngành độc quyền được chính phủ bảo hộ Lợi dụng kẽ hở nàycác doanh nghiệp đã tìm cách vay ngắn hạn nước ngoài (chủ yếu là đầu tư vào bất động sản với ý địnhtrang trải cho các khoản nợ và thua lỗ trong sản xuất công nghiệp, nhưng thị trường bất động sản trongthời gian này lại gặp nhiều bất lợi) => gây ra 1 khoản nợ không có khả năng thanh toán khi thị trườngnày biến động

Ba là, cán cân vãng lai thâm hụt lớn và cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài đổ vào trong nước không hợp

lý Đây là nguyên nhân quan trọng nhất gây nên bất ổn cho hệ thống tài chính tiền tệ của các nươc Giá

cả hàng xuất khẩu sụt giảm và nền kinh tế giảm sức cạnh tranh trong khi đó giá cả hàng hóa nhập khẩulại tăng mạnh, đặc biệt là các mặt hàng xa xỉ (đặc biệt là ở Thái) Cơ cấu vốn nước ngoài đổ vào cácnước chịu khủng hoảng nặng, có sự mất an toàn cao do khối nợ lớn tăng nhanh, chủ yếu là vốn ngắn hạn( chiếm 70% tổng số nợ của khu vực tư nhân tại Thái Lan và Inđô) Mặt khác, vốn huy động gián tiếpthông qua chứng khoán tăng nhanh trong khi dự trữ quốc gia không cao, vì kim ngạch XNK giảm dần,nghĩa là có sự phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài( mà nguồn này chủ yếu dùng đầu tư bất độngsản)=> cung tiền vượt quá cầu tiền, tình trạng nợ đọng gia tăng và việc mua vét ngoại tệ để trả đáo hạn

là không thể tránh khỏi

Ngoài ra, còn có các nguyên nhân khác như: Sự lũng đoạn của các tổ chức tài chính và mối liên hệ chặt

chẽ giữa các tổ chức này với chính phủ => tham nhũng nặng nề, khiến chính phủ không thể mạnh taytrong các biện pháp xử lý của mình Hay do hệ thống luật pháp không thích hợp với cơ chế mới, hệthống giáo dục kém phát triển, thiếu lao động lành nghề,mức lương thực tế tăng nhanh trong khi TrungQuốc và Ấn Độ tham gia vào thị trường lao động quốc tế với giá thấp khiến giảm sức cạnh tranh của cácnước ĐNA trên thị trường quốc tế… Hầu như các nguyên nhân trên đều là những vấn đề tồn tại ở cácnước bị khủng hoảng và do các mối quan hệ giữa Hàn, Nhật và ASEAN, nên khi cuộc khủng hoảng nổ

ra ở 1 nước nó lập tức lan truyền sang nước khác và gây ảnh hưởng nặng nề cho các nước đó Vì vậy,nước này không thể đổ lỗi hoàn toàn cho nước kia

2.1.2 Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng

Các nhà kinh tế đều nhận định rằng tất cả các nước ĐNA hiện đang lâm vào cuộc khủng hoảng tiền tệ sẽ

có tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm hơn trong năm 1997 và 1998

Trang 8

Quốc gia Tốc độ tăng trưởng (%)

Do đó đã làm tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội giảm xuống Tuy nhiên do tác động của phágiá nên đã tăng sức cạnh tranh hàng xuất khẩu của các nước ĐNA so với Nhật và Mỹ, điều đó đã thúcđẩy hoat động sản xuất xuất khẩu, do đó đã làm cho tốc độ tăng GDP được phục hồi đôi chút

Diễn biến cụ thể:

Tại Thái Lan:

1996 1997 1998 1999* 2000**

(Percent change)Real GDP Growth 5.9 -1.7 -10.2 4.2 4.5 to 5.0

Consumer prices (period

Trang 9

(Percent of GDP [minus sign signifies adeficit])

Central government

balance***

1.9 -0.9 -2.4 -2.9 -3.0

Current account balance -6.0 -7.9 -2.0 12.7 9.1

(In billions of U.S dollars)External debt 90.5 93.4 86.2 76.0 67.8

Sources: Thai authorities and IMF staff estimates

Từ năm 1985 đến năm 1995, kinh tế Thái Lan tăng trưởng với tốc độ bình quân hàng năm là 9% Cuốinăm 1996, IMF đã cảnh báo nền kinh tế Thái Lan tăng trưởng quá nóng và bong bong kinh tế có thểkhông giữ được lâu Cuối năm 1996, thị trường chứng khoán Thái Lan bắt đầu có biến Cả mức vốn hóathị trường vốn lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm đi

Ngày 14 tháng 5 và ngày 15 tháng 5 năm 1997, đồng baht Thái bị tấn công đầu cơ quy mô lớn Ngày 30tháng 6, thủ tướng Thái Lan Chavalit Yongchaiyudh tuyên bố sẽ không phá giá baht, song rốt cục lại thảnổi baht vào ngày 2 tháng 7 Baht ngay lập tức mất giá gần 50% Vào tháng 1 năm 1998, nó đã xuốngđến mức 56 baht mới đổi được 1 dollar Mỹ Chỉ số thị trường chứng khoán Thái Lan đã tụt từ mức 1.280cuối năm 1995 xuống còn 372 cuối năm 1997 Đồng thời, mức vốn hóa thị trường vốn giảm từ 141,5 tỷUSD xuống còn 23,5 tỷ USD Finance One, công ty tài chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản Ngày11/8, IMF tuyên bố sẽ cung cấp một gói cứu trợ trị giá 16 tỷ dollar Mỹ cho Thái Lan Ngày 20/8, IMFthông qua 1 gói cứu trợ nữa trị giá 3,9 tỷ USD

Tại Philippines

Sau khi khủng hoảng bùng phát ở Thái, ngày 3/7/97, ngân hàng TƯ Philippines đã cố gắng can thiêp vàothị trường ngoại hối để bảo vệ đồng peso bằng cách nâng lãi suất ngắn hạn (lãi suất cho vay qua đêm) từ15% lên 24% Đồng peso vẫn mất giá nghiêm trọng, từ 26 peso/1 USD xuống còn 38 peso/ 1 USD vàonăm 2000 và còn 40 vào cuối khủng hoảng Bê bối chính trị liên quan đến Tổng thống đương nhiệmJoseph Estrada năm 2001 cũng góp phần làm cho tình trạng tồi tệ hơn khi thị trường chứng khoánPhilippines giảm từ 3000 điểm xuống còn 1000 điểm Điều này kéo theo việc đồng peso thêm mất giá,

và giá trị của nó chỉ được phục hồi khi Gloria Macapagal-Arroyo lên làm Tổng thống

Trang 10

Tại Hàn Quốc

1996 1997 1998 1999* 2000**

(Percent change)Real GDP Growth 7.1 5.5 -6.7 10.7 8.0

Consumer prices (end of

Current account balance -4.4 -1.7 12.7 6.1 2.0

(In billions of US dollars)External debt 164.4 158.1 148.7 136.0 129.6

(Percent of GDP)External debt 31.6 33.2 46.9 33.4 26.8

Sources: Korea authorities and IMF staff estimates

Vào thời điểm bùng phát khủng hoảng tại Thái Lan, Hàn Quốc có 1 gánh nặng nợ nước ngoài khổng lồ.Các công ty nợ ngân hàng trong nước, còn ngân hàng trong nước lại nợ ngân hàng nước ngoài Một vài

Trong khi đó, đồng Won giảm giá xuống còn khoảng 1700 KRW/USD từ mức 1000 KRW/USD

Tại Malaysia

Ngay sau khi Thái Lan thả nổi đồng Bạt( 2/7/97), đồng Ringgit của Malaysia và thị trường chứng khoánKuala Lumpur lập tức bị ép giảm giá mạnh Ringgit đã giảm từ mức 3,75 Ringgit/ 1 USD xuống còn4,20 Ringgit/ 1 USD Phần lớn sức ép giảm giá đối vs Ringgit là từ việc buôn bán đồng tiền này trên thị

Trang 11

trường nước ngoài Kết quả là lãi suất trong nước của Malaysia giảm xuống khuyến khích dòng vốnchảy ra nước ngoài Lượng vốn chảy ra đạt tới mức 24,6 tỷ Ringgit vào quý hai và quý ba năm 1997.

2.1.3 Các biện pháp khắc phục khủng hoảng của IMF.

Ở các nước bị cuộc khủng hoảng hoành hành, tình trạng sụt giá tiền tệ cũng như chứng khoán diễn

ra mang tính chất dây chuyền nghiêm trọng và khó chặn đứng Người ta đổ xô đi mua USD Mỹ và cácngoại tệ mạnh trong khi các nhà đầu tư hối hả chuyển vốn ra nước ngoài Cho đến đầu năm 1998 cuộckhủng hoảng đẩy lên cao tới cao trào hoảng loạn, kèm theo sự sụp đổ của tiền tệ là sự rối loạn thị trườngchứng khoán Các nền kinh tế châu á chao đảo đặc biệt nghiêm trọng tập trung vào 3 nước Hàn Quốc,Indonexia và Thái Lan Chính phủ của các nước này lâm vào tình trạng thiếu hụt ngoại tệ nặng nề đểngăn chặn quá trình phá giá và giải quyết nợ nước ngoài, trong khi đó nguồn đầu tư từ nước ngoài khôngnhững giảm mạnh mà còn có xu hướng rút ra càng làm tình hình thêm khó khăn Đứng trước tình hìnhnày một số quốc gia lâm vào khủng hoảng đã đề nghị IMF trợ giúp

3Korea has repaid US$ 13 billion of the financing provided by the IMF as

4Combined multilateral and bilateral disbursements

Cam kết và giải ngân thực tế của các tổ chức quốc tế đối phó với khủng hoảng ( tỷ USD)

Với mục đích là cung cấp cho các nước hội viên và tín dụng ngắn hạn và trung hạn khi gặp khókhăn về tiền tệ do cán cân thanh toán thiếu hụt, IMF đã lập ra các kế hoạch giúp những nước yêu cầu sựgiúp đỡ, đồng thời còn để cứu cả các bên tư nhân nước ngoài khỏi bị vỡ nợ nếu những nước này không

được IMF cấp tiền Trong chương trình cứu giúp của mình IMF đã đề ra các mục tiêu chính là :

Trang 12

Kiên quyết ngăn chặn việc trốn tránh thi hành các nghĩa vụ với nước ngoài (hàm ý nghĩa trả nợ nước ngoài);

Khôi phục lại cân bằng tài chính trong đó đảm bảo cân bằng ngân sách là quan trọng, kiềm chế lạm phát gia tăng;

Tái lập và củng cố dự trữ ngoại hối; cải cách hệ thống ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động

và độ tin cậy của hệ thống này;

Xoá bỏ độc quyền tiến hành cải cách sâu rộng khu vực phi tài chính trong nước;

Khống chế sự suy giảm sản lượng.

Để thực hiện các mục tiêu này, IMF cung cấp cho các nước thành viên những khoản vay khổng lồ

để hỗ trợ chương trình cải cách này IMF phê duyệt khoảng 26 tỷ SDR tương đương khoảng 36 tỷ USD trợ giúp các nước yêu cầu hỗ trợ, khởi đầu việc huy động khoảng 77 tỷ USD tài chính bổ sung từ nguồn

đa phương và song phương để hỗ trợ cho các chương trình cải cách này Sự trợ giúp này giúp các quốcgia gặp khủng hoảng, tạm thời ngăn chặn việc xuống giá tiếp tục của các đồng tiền và tái lập, củng cố dựtrữ ngoại hối và quan trọng là giúp thực hiện các nghĩa vụ quốc tế, giúp các nhà đầu tư nước ngoài nhậnđược món nợ từ các bên tư nhân lẫn nhà nước ở các nước gặp khủng hoảng

Bên cạnh việc trợ giúp tài chính, IMF giúp đỡ 3 quốc gia bị ảnh hưởng nhất - Indonesia, Hàn Quốc

và Thái Lan - giàn xếp các chương trình cải cách kinh tế có khả năng phục hồi lòng tin và được IMF ủng

hộ Chương trình cải cách kinh tế này nhằm xoá bỏ nguồn gốc của khó khăn thanh toán, ngăn chặn sựlan truyền của khủng hoảng, khắc phục khủng hoảng và chuẩn bị nền tảng cho tăng trưởng kinh tế IMFcho rằng nguyên nhân cơ bản của thiếu hụt cán cân thanh toán quốc tế là nhu cầu về tiền tệ quá lớn, liênquan trước hết đến việc tăng quá lớn khối lượng tiền tệ và tăng chi phí của nhà nước Đồng thời giữa chiphí sản xuất và giá cả hàng hoá, dịch vụ ở những nước sản xuất chủ yếu không phù hợp với nhau Vìvậy, để khắc phục sự thiếu hụt cán cân thanh toán theo đề nghị của IMF, cần thực hiện hai phương pháp:

Thứ nhất giảm tổng nhu cầu về tiền nhờ chính sách tiền tệ - tín dụng và quản lý ngân sách (tăng lãi suất

chính thức, dự trữ tối thiểu, hợp lý hoá tín dụng, hạn chế chi tiêu ngân sách về nhu cầu xã hội, về trợ cấp

nhà nước, tăng thuế ); Thứ hai là phá giá tiền tệ hoặc chuyển sang chế độ thả nổi.

Với cách tiếp cận như trên, IMF buộc áp dụng phương thức tỷ giá hối đoái linh hoạt ở những nơi

chưa sử dụng phương thức này Sửa đổi chính sách tài chính công cộng, các chính phủ phải thực hànhtiết kiệm, cắt giảm chi tiêu công cộng, tăng các nguồn thu ngân sách từ thuế nhằm bảo vệ sự cân bằngtài khoản vãng lai cũng như tái củng cố dự trữ ngoại hối quốc gia Theo IMF cả ba nền kinh tế Đông Á

và Đông Nam Á đều phải thắt chặt chi tiêu ngân sách bằng cách hoãn hoặc huỷ bỏ tất cả những dự ánđầu tư lớn, có độ mạo hiểm cao, đồng thời thu hẹp khu vực kinh tế nhà nước bằng chương trình tư nhân

Trang 13

hoá do sự hoạt động kinh tế kém hiệu quả, và mối quan hệ khăng khít đến dễ tham nhũng giữa doanhnghiệp và nhà nước chính phủ Thái Lan phải có một ngân sách thâm hụt từ 1 - 2% GDP so với mứcthâm hụt cao trước đây, ở Indonesia, ngân sách chuyển từ thâm hụt sang thặng dư bằng 1% GDP Ngoài

ra, tăng nguồn thu ngân sách bằng nâng thuế hoặc giảm mức trợ giá, trợ cấp ở Indonesia phải bỏ trợ giáđiện và dầu, tăng thuế một số mặt hàng, tăng thuế giá trị gia tăng ở Thái Lan và Indonesia

Các nước phải tạm thời thắt chặt chính sách tiền tệ để hạn chế áp lực đối với cán cân thanh toán.Theo yêu cầu của IMF, các nước thực hiện thắt chặt tín dụng trong nước, kiểm soát vấn đề nợ của khuvực tư nhân thật chặt chẽ, hạn chế vay tín dụng bằng cách buộc các chính phủ phải nâng lãi suất vay lênmức cao Một trong những khía cạnh dẫn đến khủng hoảng tiền tệ là dòng vốn lớn chảy vào khu vựcĐông Nam á do các chính phủi nước này thực hiện các chính sách nới lỏng hoặc khuyến khích dòng vốnbên ngoài vào Kết quả là tư nhân tự do vay vốn nước ngoài chủ yếu là đầu tư vào bất động sản và cácngành xuất khẩu nhằm kiếm nhiều lợi nhuận Cơ sở của chủ trương thắt chặt tín dụng là ép cầu đầu tưcũng như cầu tiêu dùng của xã hội xuống một mức hợp lý để dần dần sửa chữa hậu quả của nền kinh tếbong bóng ở Thái Lan, chính phủ phải duy trì lãi suất cao (vào khoảng 20%) Nền kinh tế của các nướcĐông và Đông Nam á chứa đựng nhiều điểm yếu bất hợp lý do đó IMF buộc các nước này hành độngtức thì để khắc phục những điểm yếu dễ thấy trong hệ thống tài chínhvà các lĩnh vực khác - đã cấu thànhnhững yếu tố chính gây nên khủng hoảng và nhằm đạt được sự phát triển bền vững trong tương lai.IMF nhận định sự yếu kém trong hệ thống tài chính và ở mức độ đáng kể trong vấn đề quản lý đãgây ra khủng hoảng Sự kết hợp của quá trình giám sát lĩnh vực tài chính không đầy đủ Sự đánh giá vàquản lý rủi ro tài chính yếu kém, sự duy trì tỷ giá hối đoái tương đối cố định đã khiến cho các ngâ hàng

và công ty vay một lượng vốn quốc tế, phần lớn trong số đó là ngắn hạn bằng ngoại tệ và không đượcbảo hiểm Theo năm tháng, nguồn vốn nước ngoài có xu hướng được sử dụng để tài trợ cho nhữngkhoản đầu tư không có hiệu quả kinh tế, hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng không được xâydựng trên nguyên tắc tôn trọng hiệu quả tối đa mà bị chi phối bởi các mối quan hệ thiếu lành mạnh giữachính phủ doanh nghiệp ngân hàng Do đó, IMF buộc các quốc gia gặp khủng hoảng phải cải thiện hiệuquả các định chế tài chính trung gian cũng như tính lành mạnh của hệ thống tài chính ở Thái Lan, chínhphủ phải cải tổ cơ cấu của khu vực tài chính tập trung vào đình chỉ và cơ cấu lại các thiết chế không thểđứng vững được (bao gồm 58 công ty tài chính) ở Hàn Quốc chính phủ phải mở cửa thị trường tài chínhcho các ngân hàng nước ngoài, đình chỉ hoạt động cuả chín ngân hàng đầu tư mất khả năng thanh toán.Nhằm đạt được sự phát triển bền vững trong tương lai, IMF buộc các nước gặp khủng hoảng cảicách cơ cấu nhằm xoá bỏ những đặc điểm yếu kém của nền kinh tế, gây cản trở cho sự phát triển (nhưđộc quyền, hàng rào mậu dịch, thông lệ không minh bạch trong hoạt động của doanh nghiệp) các nước

Trang 14

này phải điều chỉnh cơ cấu thông qua giảm quan thuế, mở cửa cho đầu tư nước ngoài vào các ngànhkinh doanh và giảm bớt ưu đãi dành cho các tổ chức độc quyền, tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc kếtoán phương Tây và bảo đảm độ trung thực và minh bạch trong kinh doanh ở Hàn Quốc chính phủ phảicải cách thị trường lao động, mở rộng thị trường cho hàng hoá nước ngoài và dọn đường cho nước ngoài

sở hữu đa số cổ phần của các công ty Hàn Quốc ở Indonesia phải tự do hoá thương mại, giải thể cáccacten chính thức và không chính thức, các độc quyền, chấm dứt trợ cấp một số mặt hàng

2.1.4 Đánh giá về vai trò của IMF trong cuộc khủng hoảng

Tích cực.

IMF mở đường cho các hoạt động đầu tư và các khoản trợ giúp tài chính của các tổ chức quốc tếcũng như các quốc gia khác Sau khi IMF thoả thuận được với các quốc gia Đông á về cam kết can thiệpvào cuộc khủng hoảng và các điều kiện để nhận khoản viện trợ của IMF, thì các tổ chức tài chính quốc

tế khác như ngân hàng thế giới, ngân hàng phát triển Châu á và các trợ giúp song phương khác của Nhật,

Mỹ, Anh mới đồng ý giúp tài chính cho các nước này IMF đã đóng vai trò trung tâm trong việc giảiquyết khủng hoảng Tổ chức này đã đứng ra giàn xếp các giải pháp để các nước này được vay số tiềnkhoảng 117 tỷ USD

Các khoản trợ giúp tài chính của IMF có tác dụng tốt ngăn chặn sự lây lan cũng như sự xuống dốctiếp tục của nhiều nền kinh tế Châu á Mặc dù có nhiều giai đoạn đồng tiền của các nước được IMF chovay xuống giá liên tục và khủng hoảng kinh tế sâu sắc hơn nhưng đến bây giờ thì nền kinh tế của cácnước khủng hoảng đã lấy lại tốc độ tăng trưởng cao Các dấu hiệu phục hồi nền kinh tế đã bắt đầu xuấthiện từ tháng 4 - 1999 cho thấy cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ kéo dài 21 tháng đã qua thời kỳ chạmđáy và tác động xấu của nó phai nhạt dần

IMF đã đề ra những biện pháp cải cách cơ cấu kinh tế tài chính phù hợp để đạt được sự phát triểnbền vững trong tương lai

Các biện páp khắc phục do IMF đưa ra có căn cứ trên các nguyên nhân gây ra sự suy thoái kinh tế

ở các nước Đông á Mặc dù các biện pháp này gây đau đớn cho nền kinh tế các nước này nhưng nó làcần thiết Trước hết để xoá đi mối quan hệ khăng khít đến mức dễ dàng tham nhũng giữa chính phủ vàdoanh nghiệp bằng cách thắt chặt chi tiêu ngân sách và huỷ bỏ các dự án đầu tư lớn có độ mạo hiểm cao,đồng thời thu hẹp khu vực kinh tế nhà nước IMF cho rằng trong ba nền kinh tế Đông á này còn tồn tạinhiều tổ chức kinh tế hoạt động kém hiệu quả, các khoản vốn khổng lồ được quyết định đầu tư xuất phát

từ sự độc đoán hoặc từ ý đồ mờ ám trục lợi hơn là từ hiệu quả kinh tế, đặc biệt ở Indonesia, quyền lựccủa gia đình tổng thống Suhacto

Trang 15

Chấn chỉnh các hệ thống tài chính - ngân hàng ở các nước trong khu vực bằng những cải cách sâurộng đóng cửa sát nhập, siết chặt hoạt động kiểm toán, quản lý chặt chẽ các dư nợ làm cho các ngânhàng hoạt động có hiệu quả tăng tính “trong suốt” của các hoạt động.

IMF còn buộc các nền kinh tế này điều chỉnh cơ cấu kinh tế ở các nước gặp khủng hoảng, các tậpđoàn công nghiệp độc quyền được hưởng nhiều ưu đãi từ chính phủ nhờ quan hệ thân hữu đã đẩy nềntài chính quốc gia vào thế yếu nghiêm trọng làm giảm sút hiệu quả đầu tư và sa sút khả năng cạnh tranhtrên thị trường quốc tế Do đó, IMF buộc các nước này phải ngừng ngay lập tức những ưu đãi, bãi bỏbảo hộ, tự do thương mại và đầu tư, tư nhân hoá mạnh mẽ nhằm giảm thiểu những bất trắc xảy ra dobất ổn về kinh tế - xã hội

Biểu đồ thể hiện sự hồi phục của 3 quốc gia chủ chốt sau khi nhận được sự trợ giúp từ IMF

Ngày đăng: 27/02/2014, 13:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Tình hình trên các thị trường tài chính đã trở nên căng thẳng, khủng hoảng nợ công sẽ gây ra thiệt hại lớn cho các ngân hàng châu Âu và từ đó sẽ lan ra tồn cầu. - Qũy tiền tệ thế giới IMF và vai trò của nó trong các cuộc khủng hoảng lớn trên thế giới
nh hình trên các thị trường tài chính đã trở nên căng thẳng, khủng hoảng nợ công sẽ gây ra thiệt hại lớn cho các ngân hàng châu Âu và từ đó sẽ lan ra tồn cầu (Trang 27)
2.3.3 Sự chuyển biến của các một số nước điển hình sau khi nhận cứu trợ từ IMF: - Qũy tiền tệ thế giới IMF và vai trò của nó trong các cuộc khủng hoảng lớn trên thế giới
2.3.3 Sự chuyển biến của các một số nước điển hình sau khi nhận cứu trợ từ IMF: (Trang 29)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w