Để thực hiện được mục đích trên, nhiệm vụ của tiểu luận là: - Nghiên cứu, tìm hiểu cơ sở lý luận về cạnh tranh và pháp luật về tập trung kinh tế trong nền kinh tế thị trường và hành vi c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG
ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
TIỂU LUẬN Môn: Luật Cạnh tranh Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Lâm Nghi
ĐỀ TÀI 1: VẤN ĐỀ TẬP TRUNG KINH TẾ TRONG
THƯƠNG VỤ GRAB MUA LẠI UBER
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
A PHẦN MỞ ĐẦU 2
I Lý do chọn đề tài 2
II Mục đích và yêu cầu tiểu luận 2
III Đối tượng nghiên cứu 2
IV Phương pháp nghiên cứu 3
V Phạm vi nghiên cứu 3
VI Cấu trúc bài tiểu luận 3
B NỘI DUNG 4
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ GRAB VÀ UBER 4
I Giới thiệu chung về Grabtaxi và Uber 4
II Mô hình kinh doanh của Grabtaxi và Uber 5
Chương 2: VỤ VIỆC TRANH CÃI 6
I Tóm tắt nội dung vụ tranh cãi 6
1 Về hành vi tập trung kinh tế của các bên bị điều tra 6
2 Xác định thị trường liên quan 8
3 Xác định thị phần kết hợp 10
4 Xác minh hành vi vi phạm 12
5 Đề xuất biện pháp xử lý 12
IV Các phân tích và nhận định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh 13
1 Về hành vi tập trung kinh tế của các bên bị điều tra: 13
2 Về thị trường liên quan và thị phần kết hợp của các bên bị điều tra: 14
V Quyết định cuối cùng 14
VI Bình luận 15
1 Việc xác định thị thị trường sản phẩm liên quan trong vụ việc 15
2 Chủ thể của hành vi tập trung kinh tế 16
3 Một số nhận xét về lập luận của Hội đồng xử lý 16
4 Có hay không pháp luật Việt Nam còn quá “dễ dãi” 17
C KẾT LUẬN 19
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Cạnh tranh trong kinh doanh là một hoạt động tất yếu trong nền kinh tế thị trường Hoạtđộng này thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế cũng như xã hội Tuy nhiên hoạt động cạnhtranh bao giờ cũng gây nhiều áp lực đối với các doanh nghiệp trên thị trường Trong đó khôngthể không kể đến hoạt động tập trung kinh tế của các doanh nghiệp Tập trung kinh tế, nếukhông được kiểm soát sẽ gây tác động hạn chế cạnh tranh đến thị trường và ít nhiều đều ảnhhưởng đến sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân Đây là vấn đề nóng bỏng và sôi động củakhoa học pháp lý nói chung và khoa học pháp lý kinh tế nói riêng không chỉ đối với các quốcgia đã có nền kinh tế thị trường phát triển mà cả ngay ở các quốc gia mới chuyển đổi sang nềnkinh tế thị trường, trong đó có Việt Nam Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thốngnội dung của hoạt động cạnh tranh dưới hình thức tập trung kinh tế và vấn đề kiểm soát hoạtđộng này là rất cần thiết, nhất là trong thời điểm hiện nay, khi xu hướng tập trung kinh tế đangdiễn ra dưới nhiều góc độ, nhiều hình thức đa dạng
Xuất phát từ nhu cầu đó, nhóm em đã chọn chủ đề “Vấn đề tập trung kinh tế trong thương
vụ Grab mua lại Uber”
II Mục đích và yêu cầu tiểu luận
Mục đích của tiểu luận là bình luận bình luận quyết định của Hội đồng cạnh tranh về thương
vụ sáp nhập của GrabTaxi và Uber vào tháng 3 năm 2018
Để thực hiện được mục đích trên, nhiệm vụ của tiểu luận là:
- Nghiên cứu, tìm hiểu cơ sở lý luận về cạnh tranh và pháp luật về tập trung kinh tế trong nền kinh tế thị trường và hành vi của các bên liên quan
- Phân tích, bình luận, đánh giá phán quyết của Hội đồng cạnh tranh
- Khái quát thực trạng về các hoạt động cạnh tranh trên thị trường Việt nam và sự điều chỉnhpháp luật đối với các hành vi này hiện nay
III Đối tượng nghiên cứu
Quyết định của Hội đồng cạnh tranh về việc tập trung kinh tế của GrabTaxi khi mua lại hoạt động kinh doanh của Uber
Trang 2
Trang 4IV Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích, bình luận, tổng hợp để làm rõ cơ sở lý luận về các hành vi của cácbên liên quan và nhận định về phán xét của Hội đồng cạnh tranh
V Phạm vi nghiên cứu
Bài tiểu luận tập trung nghiên cứu các phán xét của Hội đồng cạnh tranh về hành vi sáp nhậpcủa GrabTaxi và Uber từ ngày 26/03/2018 đến ngày 17/06/2019 dựa theo luật Cạnh tranh 2004
và 2018 được áp dụng tại Việt Nam
VI Cấu trúc bài tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của tiểu luận được chia làm 2chương:
- Chương 1: Tổng quan về Grab và Uber Gồm 2 phần:
+ Phần I: Giới thiệu chung về Grabtaxi và Uber
+ Phần II: Mô hình kinh doanh của Grabtaxi và Uber
- Chương 2: Vụ việc tranh cãi Gồm 4 phần:
+ Phần I: Tóm tắt nội dung vụ tranh cãi
+ Phần II: Các phân tích và nhận định của Hội đồng cạnh tranh
+ Phần III: Quyết định cuối cùng của Hội đồng cạnh tranh
+ Phần IV: Bình luận phán quyết của Hội đồng cạnh tranh
Trang 5B NỘI DUNG
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ GRAB VÀ
UBER I Giới thiệu chung về Grabtaxi và Uber
Uber Technologies Inc GrabTaxi Holdings Pte Ltd
Tên đầy đủ Tại Việt Nam: Công ty TNHH thương Tại Việt Nam: Công ty TNHH
mại Uber Việt Nam Grab
Loại hình Công ty tư nhân
Trước khi sáp nhập: Gọi taxi, xe
Dịch vụ cung cấp Trước khi sáp nhập: Gọi xe ô tô, xe ô tô và xe máy
máy Sau khi sáp nhập: giao thức ăn,
tại Việt Nam
giao hàng, thanh toán
Grab bắt đầu hoạt động tại Việt Nam vào tháng 02/2014 với tên gọi ban đầu là GrabTaxi,sau đó dịch vụ GrabBike được triển khai vào tháng 11/2014 Cùng thời gian đó, Uber gia nhậpthị trường Việt Nam với dịch vụ gọi xe ô tô từ tháng 06/2014 Đến tháng 04/2016, Uber ra mắtdịch vụ gọi xe ôm Uber Moto
Trang 7Ngày 26/03/2018, Grab chính thức thông báo thu mua toàn bộ hoạt động kinh doanh củaUber tại khu vực Đông Nam Á Theo đó, Grab tiếp nhận toàn bộ hoạt động kinh doanh củaUber tại Campuchia, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan và ViệtNam và tích hợp các dịch vụ này vào nền tảng công nghệ tài chính và di chuyển đa phươngthức của Grab Đổi lại, Uber sẽ có nhận được 27.5% cổ phần trong Grab, con số tương ứng vớithị phần hiện nay của Uber tại khu vực.Thương vụ sáp nhập này đã làm dấy lên nhiều tranh cãirằng liệu đây có phải là sự vi phạm luật cạnh tranh về tập trung kinh tế.
II Mô hình kinh doanh của Grabtaxi và Uber
Grab hiện là ứng dụng phổ biến để đặt xe qua smartphone, kết nối hành khách và tài xế, hỗtrợ giúp hành khách bắt xe trong phạm vi gần nhất một cách thuận tiện Grab xuất phát từMalaysia, tiếp đó mở rộng sang Philippines, Thái Lan, Singapore, Indonesia và Việt Nam Ứngdụng của Grab cung cấp bốn loại hình dịch vụ vận chuyển bao gồm taxi, xe hơi riêng, xe ôm vàgiao hàng trên khắp Singapore, Malaysia, Thailand, Philippines, Việt Nam và Indonesia
Hiện nay, vẫn còn nhiều tranh cãi về loại hình kinh doanh của Grab và Uber gây lúng túngtrong việc đưa ra chính sách quản lý Cụ thể tòa án Liên minh châu Âu xác định Grab là dịch
vụ vận tải, tại New Zealand coi Grab là hình thức doanh nghiệp vận tải, các nước khu vựcĐông Nam Á như Indonesia, Malaysia, Philippines cũng áp dụng theo hình thức vận tải, chỉriêng Singapore coi đó là doanh nghiệp ứng dụng công nghệ Còn ở Việt Nam, hiện tại Bộ Tàichính cho rằng đây là loại hình kinh doanh vận tải, thế nhưng vẫn chưa đưa được khung thuế
cụ thể cho hình thức kinh doanh này Điều này cho thấy mỗi quốc gia có phản ứng chính sáchkhác nhau tùy theo mục đích của quốc gia đó
MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG
Cả 2 doanh nghiệp đều hoạt động dựa trên mô hình C2C: peer to peer - kết nối giữa kháchhàng và tài xế (hay còn gọi là đối tác) thông qua ứng dụng trên điện thoại, Grab & Uber đóngvai trò là đơn vị trung gian điều phối
Grab và Uber cung cấp dịch vụ vận chuyển thông qua ứng dụng điện thoại thông minh.Khách hàng sử dụng ứng dụng để gọi xe và thanh toán Hoạt động này loại bỏ các trở ngại còntồn tại trong mô hình taxi truyền thống: gọi tổng đài, vẫy xe, cũng như nỗi lo tài xế cố tình điđường vòng để tăng cước do lộ trình của Grab và Uber đã được định sẵn và khách hàng có thểtheo dõi nó
MÔ HÌNH DOANH THU
Doanh thu của Grab và Uber đến từ các nguồn:
Trang 5
Trang 8- Tiền hoa hồng từ chuyến đi: Grab và Uber nhận một phần hoa hồng từ 15-50% trên tổng sốtiền khách hàng trả cho tài xế sau mỗi chuyến đi.
- Chính sách tăng giá (surge pricing) vào giờ cao điểm, khi có thời tiết xấu hay các dịp đặc biệt
- Dịch vụ Premium: Grab và Uber cung cấp nhiều lựa chọn loại xe, trong đó có lựa chọnGrab/Uber Premium gồm các xe có hình thức mới và sang trọng sẽ tính phí cao hơn, lợi nhuậnbiên từ những chuyến xe Premium này cũng cao hơn nhiều so với chuyến thường
Chương 2: VỤ VIỆC TRANH CÃI
I Tóm tắt nội dung vụ tranh cãi
1 Về hành vi tập trung kinh tế của các bên bị điều tra
1.1 Ý kiến của cơ quan quản lý cạnh tranh:
Giao dịch Grab mua lại Uber được xem xét trên phạm vi khu vực Đông Nam Á, trong đó cóViệt Nam thông qua Hợp đồng Mua bán chung (Purchase Agreement) và Hợp đồng chuyểnnhượng và Tiếp nhận Nghĩa vụ (Bill of Sale) (“Hợp đồng chuyển nhượng”) Bản chất và nộidung của Hợp đồng chuyển nhượng là chuyển giao tài sản và nghĩa vụ (mua bán tài sản) Vớiviệc mua toàn bộ tài sản của Uber Việt Nam, Grab đã kiểm soát, chi phối toàn bộ hoạt độngkinh doanh của Uber với các chứng cứ và phân tích sau đây:
Thứ nhất, giao dịch liên quan đến việc chuyển nhượng tài sản theo đó bên mua có thể
kiểm soát, chi phối hoạt động kinh doanh của bên bán
Thứ hai, theo các điều khoản của Hợp đồng mua bán chung, Grab mua lại toàn bộ hoạt
động kinh doanh của Uber tại khu vực Đông Nam Á thông qua việc mua lại tài sản Theo đó,toàn bộ tài sản liên quan đến hoạt động kinh doanh của Uber tại Đông Nam Á đều được chuyểngiao cho Grab
Bên cạnh việc chuyển giao tài sản như trên, nhóm công ty Uber cũng chuyển toàn bộ cácquyền theo hợp đồng liên quan đến hoạt động kinh doanh của nhóm doanh nghiệp Uber tạiViệt Nam sang cho nhóm doanh nghiệp Grab gồm tất cả hợp đồng (3 nhóm) như sau:
Hợp đồng dịch vụ ký giữa Uber với cá nhân là lái xe ô tô Việt Nam và các công ty vậntải bằng xe ô tô có liên quan đến việc công ty vận tải hoặc lái xe sử dụng ứng dụng của Uber đểtìm kiếm, tiếp nhận và cung cấp dịch vụ vận tải cho hành khách đi xe theo yêu cầu
Trang 9Hợp đồng dịch vụ ký giữa Uber với các cá nhân là lái xe mô tô Việt Nam và các công tyvận tải bằng xe mô tô có liên quan đến việc công ty vận tải hoặc lái xe mô tô sử dụng ứng dụng củaUber để tìm kiếm, tiếp nhận và cung cấp dịch vụ vận tải cho hành khách đi xe theo yêu cầu.
Hợp đồng dịch vụ giữa Uber và người đi xe sử dụng phần mềm đặt xe Uber
Theo giao dịch, nhóm doanh nghiệp Grab sẽ tiếp nhận toàn bộ các quyền theo hợp đồngcủa nhóm doanh nghiệp Uber liên quan đến dịch vụ đặt xe của Uber tại Việt Nam, dẫn đến chophép nhóm doanh nghiệp Grab định đoạt và kiểm soát toàn bộ hoạt động kinh doanh của Uber
đã thực hiện tại thị trường Việt Nam trước giao dịch
Về bản chất giao dịch, Grab mua lại toàn bộ hoạt động kinh doanh của Uber tại khu vựcĐông Nam Á thông qua việc mua lại toàn bộ tài sản Sau giao dịch mua lại, Grab kiểm soáttoàn bộ hoạt động kinh doanh của Uber tại thị trường Việt Nam Theo đó, Grab nhận được cáclợi ích kinh tế từ hoạt động kinh doanh của Uber Cụ thể: Grab sẽ nhận được lợi ích kinh tế từcác hợp đồng mà Uber chuyển giao cho Grab gồm các lợi ích kinh tế từ lái xe, người đi xe (tiềnthu từ việc chiết khấu đối với lái xe, tiền thu của người đi xe) của Uber trước đây được chuyểnsang thành lợi ích kinh tế của Grab (đối với những trường hợp có chấp thuận của lái xe vàngười đi xe)
Do vậy, cơ quan điều tra xác định:
Hành vi tập trung kinh tế của các Bên bị điều tra là hành vi tập trung kinh tế theo hình thức mua lại doanh nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 17 Luật Cạnh tranh
1.2 Ý kiến của Uber VN và Uber BV:
Công ty TNHH Uber Việt Nam khẳng định Công ty không và chưa bao giờ hoạt động kinhdoanh trong lĩnh vực gọi xe hay cung cấp dịch vụ vận tải tại Việt Nam Uber Việt Nam chỉcung cấp dịch vụ hỗ trợ (marketing; điều tra, khảo sát thị trường…) cho Công ty Uber B.V Vìvậy, Cục Quản lý cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng đã nhắm đến sai đối tượng khi thựchiện cuộc điều tra
Công ty Uber B.V cho rằng Cơ quan điều tra tiến hành điều tra hành vi tập trung kinh tế;kết luận điều tra kiến nghị xử phạt nhóm doanh nghiệp Uber (gồm Uber Việt Nam và UberB.V.), nhưng trong quá trình tiến hành các hoạt động điều tra, điều tra viên đã không làm việcvới Uber B.V., do đó Công ty Uber B.V không có điều kiện cung cấp các chứng cứ có liênquan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Trang 7
Trang 102 Xác định thị trường liên quan
2.1 Thị trường sản phẩm liên quan:
Về hoạt động kinh doanh thực tiễn: GrabTaxi và Uber Việt Nam đều tham gia lập hồ sơ và
được Bộ Giao thông vận tải phê duyệt tham gia: “Đề án thí điểm triển khai ứng dụng khoa họccông nghệ hỗ trợ quản lý và kết nối hoạt động vận tải hành khách theo hợp đồng” theo Quyếtđịnh số 24/QĐ-BGTVT ngày 07 tháng 01 năm 2016
Kết quả xác minh khả năng thay thế về đặc tính của sản phẩm, dịch vụ: Dịch vụ trung gian
kết nối vận tải hành khách trên nền tảng phần mềm và dịch vụ trung gian kết nối qua tổng đài
cả từ góc độ người đi xe và người lái xe có nhiều đặc tính giống nhau và có thể thay thế chonhau
Kết quả xác minh khả năng thay thế về mục đích sử dụng của sản phẩm, dịch vụ : dịch vụ
trung gian kết nối vận tải hành khách trên nền tảng phần mềm (app) và dịch vụ trung gian kếtnối vận tải hành khách qua tổng đài đều có mục đích sử dụng giống nhau là kết nối giữa lái xe
và người đi xe, phục vụ mục đích di chuyển của người đi xe
Kết quả xác minh khả năng thay thế về giá của sản phẩm, dịch vụ: nhóm điều tra viên đã
tiến hành khảo sát ngẫu nhiên khoảng 1000 người tiêu dùng cuối cùng (người đi xe) tại Hà Nội
và khoảng 1000 người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh để xác định khả năng thay thế vềgiá (theo quy định tại điểm c khoản 5 Điều 4 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP) với giả thiết sảnphẩm của Grab/Uber tăng giá 10% trong 6 tháng.có trên 50% số người tiêu dùng được hỏi sẽkhông tiếp tục sử dụng dịch vụ của Grab và Uber khi giá cả thông qua dịch vụ Grab/Uber tănglên 10% trong 6 tháng liên tiếp và chủ yếu chuyển sang các phần mềm tương tự khác hoặc gọitổng đài taxi Do đó, nhóm điều tra viên xác định dịch vụ kết nối qua tổng đài và dịch vụ kếtnối qua phần mềm của các doanh nghiệp phần mềm khác có thể thay thế cho dịch vụ kết nốivận tải trên nền tảng phần mềm của Grab/Uber
Kết luận kết quả xác minh thị trường sản phẩm liên quan: căn cứ trên khả năng thay thế về
đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả, nhóm điều tra viên kết luận thị trường sản phẩm dịch vụ
liên quan của vụ việc là: “Thị trường dịch vụ trung gian kết nối vận tải giữa người đi xe và lái
xe ô tô dưới 09 chỗ trên nền tảng phần mềm và tổng đài.”
2.2 Thị trường địa lí liên quan:
Khu vực địa lý có hoạt động của bên bị điều tra: theo thông tin GrabTaxi và Uber cung cấp,
hai doanh nghiệp chỉ kinh doanh thực tế tại một số tỉnh, thành phố của Việt Nam mà khôngkinh doanh trên phạm vi toàn quốc
Trang 11Như vậy, Quyết định số 24/QĐ-BGTVT là một rào cản gia nhập thị trường dưới hình thứcquyết định hành chính của cơ quan nhà nước (theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Nghị định số116/2005/NĐ-CP).
Về tập quán của người tiêu dùng: quá trình điều tra, khảo sát cho thấy thời gian kết nối giữa
lái xe và người đi xe thường rất nhanh và việc điều xe được lựa chọn theo vị trí gần nhất vớingười gọi xe Như vậy, việc kết nối vận tải hành khách trên nền tảng phần mềm hay tổng đàithường được thực hiện trong một khu vực địa lý nơi người đi xe và lái xe ở gần nhau
2.3 Kết luận về thị trường liên quan của cơ quan điều tra:
Căn cứ quy định tại khoản 1, Điều 3 Luật Cạnh tranh và kết quả điều tra, khảo sát, nhómđiều tra viên kết luận thị trường liên quan trong vụ việc là:
Thị trường dịch vụ trung gian kết nối vận tải hành khách giữa người đi xe với người lái
xe ô tô dưới 09 chỗ ngồi trên nền tảng phần mềm và tổng đài tại Hà Nội, và
Thị trường dịch vụ trung gian kết nối vận tải hành khách giữa người đi xe với người lái
xe ô tô dưới 09 chỗ ngồi trên nền tảng phần mềm và tổng đài tại Thành phố Hồ Chí Minh.
2.4 Quan điểm của bên bị điều tra
2.4.1 Quan điểm của Grab Taxi
Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng không hề đưa ra cơ sở phản bác quan điểmcủa GrabTaxi rằng từ góc độ của hành khách, hành khách không coi dịch vụ của GrabTaxi làmột dịch vụ riêng biệt so với dịch vụ vận tải, và khi có nhu cầu di chuyển, họ sẽ cân nhắc mứcgiá của chuyến đi thông qua dịch vụ của GrabTaxi so với mức giá của các phương thức vận tảikhác để quyết định sẽ sử dụng phương thức nào
Đối với hành khách, dịch vụ của GrabTaxi là một dịch vụ hoàn chỉnh cung cấp cho hànhkhách một phương thức vận chuyển với một cước phí duy nhất Do đó, dịch vụ của GrabTaxikhông phải là một dịch vụ kết nối đặt xe có tính trung gian hoặc độc lập, mà là dịch vụ nềntảng và bao trùm dịch vụ vận tải hành khách hoàn chỉnh và trực tiếp đến hành khách
Từ các phân tích về thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan,GrabTaxi bảo lưu kết luận rằng thị trường liên quan, nếu trên một phạm vi rộng, là thị trườngvận tải hành khách bao gồm các phương thức vận tải (chẳng hạn như xe buýt, taxi, xe hợpđồng, v.v…) tại Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, trên một phạm vihẹp nhất có thể và căn cứ trên cách thức người tiêu dùng tiếp nhận và sử dụng dịch vụ, thì thịtrường liên quan ít nhất phải bao gồm dịch vụ vận tải hành khách thông qua dịch vụ đặt xe vàdịch vụ vận tải hành khách của các doanh nghiệp taxi tại Thành phố Hà Nội và Thành phố HồChí Minh (không phụ thuộc vào hình thức mà khách hàng đặt xe, dù là qua phần mềm, qua
Trang 9